Vài điều nên biết về bệnh cao huyết áp

Kết quả hình ảnh cho thuoc cao huyet ap

Bệnh cao huyết áp hay còn gọi là bệnh tăng-xông (tension). Bệnh này gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như : suy tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, suy thận, di chứng thần kinh nặng nề như liệt nửa người, … gây ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc sống.

Cao huyết áp thường không có triệu chứng trước do đó nhiều người chỉ nhận ra bản thân bị cao huyết áp khi họ bị tai biến mạch máu não ( đột quỵ). Vì thế, thường xuyên kiểm tra huyết áp là điều rất cần thiết . Nếu huyết áp liên tục tăng cao, nên bắt đầu thay đổi chế độ ăn uống, thường xuyên tập thể dục, cai thuốc lá, bớt suy nghĩ lo xa.

Huyết áp thường cao lúc vừa thức giấc , lúc vận động hay lúc bị căng thẳng, lo âu, sợ hãi . Vào chiều tối lúc nghỉ ngơi thư giãn huyết áp xuống thấp, khi ngủ say vào ban đêm huyết áp xuống thấp nhất. Người bị bệnh tiều đường, mỡ máu cao, béo phì thường có huyết áp cao.

Huyết áp là áp suất động mạch được tạo bởi sức đẩy của tim và sức ép của thành động mạch. Huyết áp thường được tượng trưng bằng hai chỉ số (thí dụ 120/80 đơn vị là mmHg), số trên (120) gọi là Huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa), biểu hiện lực đẩy từ tim khi tim co bóp đẩy máu đi; số dưới (80) gọi là Huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu), biểu hiện trương lực của thành mạch.

– Huyết áp tâm thu (số trên) bình thường là từ 120-139; 140-159 là hơi cao và 160 trở lên là cao.

– Huyết áp tâm trương (số dưới) bình thường là từ 84-89; 90-104 : hơi cao và từ 105 trở lên: cao.

Trị số Huyết áp bình thường của mỗi người thay đổi tùy theo lứa tuổi:

Dưới 40 tuổi: 145/80;  dưới 50 tuổi : 150/80; dưới 60 tuổi : 160/ 90 và trên 60 tuổi : 165/95 được coi là có khuynh hướng cao.

Ví dụ, huyết áp của lúc nghỉ thường là 130/80mmHg,  khi lên cầu thang nếu đo huyết áp ngay thì trị số huyết áp của có thể 150/80 – 180/90mmHg. Trong những trường hợp này không thể cho rằng bị cao huyết áp. Do đó tốt nhất phải nghỉ ngơi ổn định trước khi đo huyết áp, nếu muốn có trị số huyết áp trung thực cần phải đo 3 lần sau đó tính số trung bình.

Nếu thấy huyết áp thay đổi và có khuynh hướng tăng thì đừng vội hốt hoảng, vì có nhiều yếu tố trong cuộc sống ảnh hưởng đến trị số của huyết áp như lo nghĩ, cảm xúc mạnh, bị stress, vận động nhiều, dùng nhiều chất kích thích và người cao tuổi có huyết áp tăng theo thời gian vì động mạch bị xơ vữa, kém đàn hồi. Cần đi gặp bác sĩ sớm để có được hướng dẫn và thuốc uống thích hợp. Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân gây ra cao huyết áp là thức ắn và đồ uống. Do đó, cần quan tâm đến chế độ dinh dưỡng thích hợp. nên ăn 3 bữa/ngày, bớt ăn vặt.

– Tránh thức ăn chiên xào, hạn chế mỡ, tốt nhất là sử dụng thực phẩm hấp, luộc.

– Tránh các chất kích thích như trà, cà phê, thuốc lá…

– Nên ăn nhiều rau quả xanh, ngũ cốc, các sản phẩm từ sữa.

– Trong các loại thịt thì ưu tiên cá, sau đó đến thịt gia cầm, cuối cùng mới đến thịt bò, heo, cừu.

– Hạn chế ăn muối, các nước chấm mặn, các thực phẩm giàu natri như: tôm khô, trứng vịt muối, chanh muối, thịt chà bông…

– Ngưng hút thuốc, bớt uống rượu.

– Tăng hoạt động thể lực để giảm bớt béo phì, đi bộ nhanh hoặc bơi lội trong vòng 30 –45 phút, 3-4 lần/tuần.

Ngoài ra, cần lưu ý khi dùng các loại thuốc như sau :

-Thuốc bổ cung cấp vitamin ở dạng sùi bọt, vì chính dạng sùi bọt làm cho người uống bị tăng huyết áp. Trong thuốc sủi bọt luôn chứa natri (mỗi viên thuốc sủi bọt có chứa 274 – 460mg natri), có thể gây tăng huyết áp đối với người bị sẵn bệnh lý này và đang kiêng muối. Người cao tuổi đang điều trị bệnh tăng huyết áp tuyệt đối không dùng thuốc dạng sủi bọt.

-Thuốc giảm đau hạ nhiệt trị cảm, sỗ mũi các thuốc trị cảm, ngoài dược chất paracetamol thường chứa thêm thuốc có tác dụng làm co mạch, chống sung huyết ở niêm mạc mũi như phenylpropanolamin hoặc pseudoephedrin . Nhưng chính chất làm co mạch này làm tăng huyết áp rất đáng ngại.

-Thuốc trị cảm – sổ mũi chứa phenylpropanolamin, pseudoephedrin, có tác dụng làm co mạch, chống sung huyết ở niêm mạc mũi như phenylpropanolamin hoặc pseudoephedrin (vì vậy thuốc làm cho hết sổ mũi, nghẹt mũi rất tốt). Nhưng chính do chứa chất co mạch vừa kể mà dùng thuốc để trị cảm sổ mũi không thôi, có thể bị tăng huyết áp rất đáng ngại.

-Thuốc giảm cân như sibutramin và ephedra. Sibutramin là thuốc Tây y được chính thức công nhận điều trị dư cân béo phì.Cũng cần lưu ý một số thuốc trị cảm có thể chứa ephedrin là dược chất có trong ephedra (ephedrin dùng liều cao để giảm cân trong khi dùng liều thấp giúp trị nghẹt mũi, sổ mũi giống như pseudoephedrin).

Thuốc trị viêm xương khớp không steroid (viết tắt là NSAID) và cả thuốc mới như celecoxib có thể gây tăng huyết áp. Người cao tuổi thường dễ mắc bệnh viêm xương khớp (còn gọi là thoái hóa khớp) nếu có thêm bệnh cao huyết áp mà lại dùng bừa bãi thuốc NSAID thì dễ bị tai biến nguy hiểm.

-Thuốc hormone: có 2 loại hormone (còn gọi là nội tiết tố do tuyến nội tiết tiết ra) được dùng làm thuốc và dùng lâu dài có thể gây tăng huyết áp là estrogen và glucocorticoid (thường được gọi corticoid). Còn corticoid là tên chung của các thuốc như: dexamethason, prednisolon, prednison… là thuốc chống viêm, chống dị ứng (trị viêm xương khớp, hen suyễn…) có thể gây tăng huyết áp do giữ nước và natri lại trong cơ thể. Một số thuốc Đông y có thể gây tăng huyết áp như cam thảo và nhân sâm .

Nói tóm lại, không nên dùng thuốc bừa bãi, nên xin ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng thuốc.

Nếu bạn luôn bị căng thẳng trong cuộc sống, hút thuốc lá, nhậu nhiều, ăn nhiều thức ăn mặn, thì bạn có nhiều nguy cơ bị cao huyết áp. Vì vậy, để phòng ngừa bệnh cao huyết áp, bạn phải có lối sống lành mạnh, không giận dữ, làm việc thong thả, bớt nhậu, ăn nhạt và thường xuyện tập thể dục.

Montreal, ngày 16/2/2017

Sưu tầm

Ngô Khôn Trí

Cẩn trọng khi dùng thuốc điều trị tăng huyết áp

 

SKĐS – Sự lựa chọn thuốc trị tăng huyết áp sẽ tùy thuộc vào: yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, có sự tổn thương các cơ quan (như: suy thận, suy tim, dày thất trái…), có kèm bị bệnh đái tháo đường…

Một mục tiêu của việc điều trị cao huyết áp, trong đó có dùng thuốc, là đưa huyết áp về dưới 130/85mmHg, đối với người bệnh tuổi trung niên hoặc có bệnh đái tháo đường; hoặc đưa huyết áp về dưới 140/90mmHg ở người từ 60 tuổi trở lên.

Theo Tổ chức Y Tế thế giới (WHO), số huyết áp tốt nhất là 120/80mmHg, số 120 là số huyết áp trên và 80 là số dưới. Bị cao huyết áp khi 2 số trên dưới cao hơn 140/90 mmHg.

6 nhóm thuốc thường dùng để điều trị tăng huyết áp

Nhóm thuốc lợi tiểu:

Gồm có hydroclorothiazid, indapamid, furosemid, sprironolacton, amilorid, triamteren… Cơ chế của thuốc là làm giảm sự ứ nước trong cơ thể, tức làm giảm sức cản của mạch ngoại vi đưa đến làm hạ huyết áp. Dùng đơn độc khi bị cao huyết áp nhẹ, dùng phối hợp với thuốc khác khi bệnh cao huyếp áp nặng thêm.

Nhóm thuốc tác động lên thần kinh trung ương:

Gồm có reserpin, methyldopa, clonidin… Cơ chế của thuốc là hoạt hóa một số tế bào thần kinh gây hạ huyết áp. Hiện nay ít dùng do tác dụng phụ gây trầm cảm, khi ngừng thuốc đột ngột sẽ làm tăng vọt huyết áp.

Nhóm thuốc chẹn beta:

Gồm có propranolol, pindolol, nadolol, timolol, metoprolol, atenolol… Cơ chế của thuốc là ức chế thụ thể beta-giao cảm ở tim, mạch ngoại vi, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc dùng thuốc cho bệnh nhân có kèm đau thắt ngực hoặc nhức nửa đầu. Chống chỉ định đối với người có kèm hen suyễn, suy tim, nhịp tim chậm.

Nhóm thuốc đối kháng canxi:

Gồm có nifedipin, nicardipin, amlodipin, felidipin, isradipin, verapamil, diltiazem… Cơ chế của thuốc là chặn dòng ion canxi không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu gây giãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. Dùng tốt cho bệnh nhân có kèm đau thắt ngực, hiệu quả đối với bệnh nhân cao tuổi, không ảnh hưởng đến chuyển hóa đường, mỡ trong cơ thể.

Người bị huyết áp cao không tự ý ngưng thuốc
Người bị huyết áp cao không tự ý ngưng thuốc

Nhóm thuốc ức chế men chuyển:

Gồm có captopril, enalapril, benazepril, lisinopril…, cơ chế của thuốc là ức chế một enzyme có tên là men chuyển angiotensin (angiotensin converting enzyme, viết tắt ACE). Chính nhờ men chuyển angiotensic xúc tác mà chất sinh học angiotensin I biến thành angiotensin II và chính chất sau này gây co thắt mạch làm tăng huyết áp (THA). Nếu men chuyển ACE bị thuốc ức chế tức làm cho không hoạt động được sẽ không sinh ra angiotensin II, sẽ có hiện tượng giãn mạch và làm hạ huyết áp. Là thuốc được chọn khi người bị kèm hen suyễn (chống chỉ định với chẹn beta), đái tháo đường (lợi tiểu, chẹn beta). Tác dụng phụ: làm tăng kali huyết và gây ho khan.

Nhóm thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II

Thuốc đầu tiên được dùng là losartan, sau đó là các thuốc irbesartan, candesartan, valsartan. Nhóm thuốc mới này có tác dụng hạ huyết áp, đưa huyết áp về trị số bình thường tương đương với các thuốc nhóm đối kháng calci, chẹn beta, ức chế men chuyển. Đặc biệt, tác dụng hạ huyết áp của chúng tốt hơn nếu phối hợp với thuốc lợi tiểu thiazid. Lợi điểm của thuốc nhóm này là do không trực tiếp ức chế men chuyển nên gần như không gây ho khan như nhóm ức chế men chuyển hay không gây phù như thuốc đối kháng canxi. Tác dụng phụ có thể gặp là gây chóng mặt, hoặc rất hiếm là gây tiêu chảy. Chống chỉ định của thuốc là không dùng cho phụ nữ có thai hoặc người bị dị ứng với thuốc.

Dùng thuốc điều trị cao huyết áp phải có chỉ định của bác sĩ

Các thuốc thuộc các nhóm kể ở trên hiện nay đều có ở nước ta. Để được điều trị bằng thuốc, người bệnh cần đi khám và được bác sĩ điều trị chỉ định, hướng dẫn sử dụng thuốc. Bởi vì bác sĩ nắm vững tính năng các thuốc, khám bệnh trực tiếp sẽ lựa chọn thuốc thích hợp và hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc dùng thuốc. Sự lựa chọn thuốc trị tăng huyết áp sẽ tùy thuộc vào: yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, có sự tổn thương các cơ quan (như: suy thận, suy tim, dày thất trái…), có kèm bị bệnh đái tháo đường… Đặc biệt, bác sĩ sẽ giúp tuân thủ các nguyên tắc sau:

– Trước hết, dùng liều thấp ban đầu và tăng liều dần dần với chỉ một loại thuốc.

– Nếu không hiệu quả, mới kết hợp 2 thuốc.

– Nếu thuốc được chọn đầu tiên có hiệu quả kém và có nhiều tác dụng phụ thì đổi nhóm thuốc khác, không cần tăng liều hoặc kết hợp thêm thuốc thứ 2.

– Nên dùng loại thuốc cho tác dụng kéo dài, uống một lần trong ngày.

Người bệnh có nên tự ý đổi thuốc?

Như đã trình bày ở phần trên, thuốc trị THA có nhiều loại và vấn đề sử dụng thuốc không đơn giản mà khá phức tạp. Chỉ có bác sĩ điều trị mới là người có thẩm quyền chỉ định, hướng dẫn dùng thuốc an toàn và hiệu quả, đặc biệt, bác sĩ sẽ là người đưa ra quyết định có nên thay thuốc điều trị bấy lâu nay bằng một thuốc mới hay không. Mọi sự thay đổi về dùng thuốc phải hỏi ý kiến của bác sĩ và thay đổi như thế nào là thuộc thẩm quyền của bác sĩ điều trị. Bệnh nhân không được tự ý thay đổi thuốc vì việc làm này rất nguy hiểm, dùng không đúng sẽ bị độc hại do thuốc hoặc bệnh THA nặng hơn đến mức nguy hiểm.

Có nên ngưng thuốc khi huyết áp không tăng?

Khi đã xác định là bị bệnh THA thì phải dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ. Không vì thấy huyết áp không tăng thì ngưng thuốc, ngưng thuốc như thế có khi là nguy hiểm vì có nhiều thuốc nếu đang dùng mà lại ngưng đột ngột sẽ làm cho huyết áp tăng vọt. Hoặc có thuốc nếu uống theo kiểu huyết áp tăng thì mới uống, uống rồi ngưng và ngưng rồi uống thì thuốc đó sẽ đến lúc không còn có tác dụng như ban đầu. Phải uống thuốc đều đặn và theo dõi huyết áp thường xuyên, khi có gì bất thường (có thể bị tác dụng phụ có hại của thuốc) thì phải đi tái khám bác sĩ ngay.

Phải uống thuốc đều đặn và theo dõi huyết áp thường xuyên, khi có gì bất thường (có thể bị tác dụng phụ có hại của thuốc) thì phải đi tái khám bác sĩ ngay.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC (Đại học Y Dược TP.HCM)

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: