• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 908 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 908 người theo dõi

Bếp Nhà Ta Nấu ( Uyên Thy)

Tháng 7 âm lịch, mùa Vu Lan báo hiếu, cũng là mùa chay với nhiều Phật tử. Anh Bùi Phương giới thiệu với chúng ta những video clips đặc sắc của cô Uyên Thy về những món ăn chay như Phở Chay, Cà Ri Chay…

Mời các bạn cùng xem: Tiếp tục đọc

Nâng Đỡ (Thích Minh Niệm)

Cuộc đời dù không chỉ toàn mùa đông, nhưng một ngọn lửa hồng ấm áp tình thương bao giờ cũng cần cho những trái tim lạc loài sau cơn bão Tiếp tục đọc

Cười thắt ruột với văn mô tả của trẻ

Chiều nào, em cũng ra công viên ngắm cảnh bình minh. Mặt trời dần xuống dốc núi…: “Con gà nhà bà em mới đẻ được một con gà con nặng 2kg…”. Tiếp tục đọc

Những bài văn cười đau bụng

Đề 1: Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình về thân phận nàng Kiều trong thời đại phong kiến.

Bài làm:

“Kiều là 1 người con gái tài sắc vẹn toàn, song nàng đã bị chế độ phong kiến vùi vào đống bùn nhơ. Đến nỗi, chịu không nổi, nàng đã nhảy xuống sông Tiền giang tự vẫn. May thay lúc đó có một bà đảng viên đi công tác về, bà liền nhảy xuống sông cứu nàng. Sau đó, Kiều giác ngộ và đi theo con đường Cách Mạng.”

Đề 2: Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình về việc Nguyễn Du đã để lại cho chúng ta tác phẩm Truyện Kiều.

Bài làm:

“… Nguyễn Du là lão tiền bối của chúng ta. Mặc dù tiền bối đã sớm ra đi vào một chiều gió lạnh, nhưng vẫn làm chấn động cả giới hậu bối của chúng ta, qua bí kíp võ công “Vương Thúy Kiều” hay còn gọi là “Đoạn Trường Thất Thanh”. Bằng chứng là qua các kỳ thi, pho bí kíp này lại xuất hiện và làm “thất điên bác đảo” cả giới “hậu bối” chúng ta” … Tiếp tục đọc

Có khó gì đâu cái gãi lưng (Nguyễn Phương Thảo)

Con là con bé khó ngủ.

Anh Bo (lớp 2) vui tính, vô tư, nằm xuống là ngủ khì, sáng kêu cái là ngồi phắt dậy.

Chị Bi (lớp 9) lúc nào cũng thiếu ngủ vì bài vở dư. Tối ngủ rất trễ và sáng đồng hồ reng lần thứ nhất không dễ gì tỉnh giấc.

Bé Bơ thì là con bé khó ngủ. Công thức vào giấc ngủ của con hơi phức tạp:

+ Nằm kế mẹ

+ lăn qua lộn lại

+ nằm ngửa, nằm sấp, nằm nghiêng Tiếp tục đọc

Tiếng Ve Gọi Hè (Nguyễn Khoa)

“Mùa hè năm nay có lẽ nóng nhiều đây- lời của mạ nghe bình thản nhưng chất chứa nhiều kinh nghiệm. Uống nhiều nước nghe con, nước chè xanh càng tốt, chú ý cho mấy đứa nhỏ uống nhiều nước trái cây. Trời chi càng ngày càng nóng nôi”. Đã hơn bốn mươi tuổi đầu thế mà mạ vẫn xem tôi như còn nhỏ dại, dặn dò đủ thứ. Chỉ có câu gần cuối mới cho thấy là tôi đã lớn- đã có con Tiếp tục đọc

Đom đóm vào nhà ( Nguyễn Đình Xuân)

          Khi đến tháng Tư âm lịch là đã sang mùa hạ. Thế mà trời vẫn trở gió Đông Bắc, đêm lắc rắc mấy hạt mưa. Để lấy khí trời nên tôi không đóng cửa sổ. Bất ngờ có chú đom đóm bay vào phòng ngủ, sáng lập lòe. Đèn trong phòng đã tắt nên ánh sáng đom đóm rõ hơn. Đom đóm bay vòng quanh nhà, sà lên trần màn rồi lại tất tả bay. Con trai nằm cùng tôi ngạc nhiên hỏi con vật gì mà sáng lập lòe thế. Ờ nhỉ, con đã bao giờ nhìn thấy đom đóm đâu. Những năm trước sống giữa khu phố cổ, rồi chỉ về quê khi đã nghỉ hè, hết năm học, làm sao con gặp đom đóm, để mà nhận biết? Tiếp tục đọc

Cười mà xót: Những Bài Văn Bất Hủ của Học Trò

Tả con gà trống với đuôi cong vút như cây cầu, đầu thì trông như quả xoài, tả bác nông dân với khuôn mặt trái xoan, nước da trắng hồng rạng rỡ…
> Nhất tự vi sư/ Hẹn hò thời tiểu học/ Tưởng cô cũng vậy

Đề: Tả bác nông dân.

Hè vừa qua, em được bố mẹ cho về thăm quê. Em nhìn thấy một bác nông dân đang làm việc trên đồng. Bác nông dân có một khuôn mặt trái xoan, mũi dọc dừa, miệng tròn xinh. Đặc biệt, làn da của bác trắng hồng rạng rỡ. Bác đang đi sau một con trâu rất béo. Bác quát lớn: Họ… họ… họ… và con trâu nghe lời bác, cứ thoăn thoắt bước đi. Tiếp tục đọc

Nghễnh ngãng thơ (Nguyễn Tấn Ai)

Xưa khi còn ở cái mùa “dĩ thi thủ sĩ”, khi văn chương trường ốc thì thi phú chiếm đến 1/3 hẳn các nhà thơ phải là những nhà thông thái, không như bây giờ hễ chú học trò nào ngờ ngờ nghệch nghệch lại được thiên hạ ác khẩu âu yếm mến tặng cho mấy chữ “ nhà thơ”!

Nhân lan man nghĩ ngợi, lại nhớ ra hình như là ở ngay cái thời huy hoàng nhất của thi phú mà cũng có những chuyện thơ còn hơn cả cậu ngờ cô nghệch.    Tiếp tục đọc

Sen Tháng Tư (Phương Thảo)

Tôi yêu từng búp sen “tròn mà nhọn” (BMH 13/05/11), ấp ủ những tinh khôi. Như tôi yêu ánh mắt ngây thơ của con trẻ ngước lên nhìn mình, tràn đầy tin tưởng, dấu yêu và gắn bó. Nói ngước lên nhìn là để hình dung đúng “cao độ” đôi mắt của con chỉ khoảng ngang bụng người lớn.


Tôi trân trọng những đóa sen đã nở tung xòe, trải ra hết những hương và sắc của mình. Như tôi trân trọng người cha trong câu chuyện “Cha và con” (BMH 14/05/11), hiện sinh của người được hỏi 23 lần “Đó là con gì?” khi con ông còn nhỏ và người hỏi đúng 3 lần “Đó là con gì?” khi con ông đã lớn.

Những cái lá sen to tròn cũng vậy, từ khi là một cái ngó sen chui thẳng lên mặt nước, hình thành lá sen với 2 mép cuộn tròn vào trong. Rồi một ngày, lá sen xòe tròn đầy đủ, đón bất cứ giọt nước nào muốn thỏa thích lăn tròn trong lòng lá bên trên; và bên dưới,  che mát cho tôm cá tung tăng.

Tôi không có ý định từ bỏ những lá, những hoa, những gương sen khiếm khuyết. Ngày trước, tôi thường không chấp nhận những bó hoa có kèm 1-2 cành hoa không đẹp, kết quả là có khi tôi không mua được hoa cúng Phật. Giờ thì tôi không còn băn khoăn do dự gì khi chọn một bó hoa không hoàn hảo: có 1-2 bông không đẹp thì cũng còn 8-9 bông đẹp, còn hơn là không mua được bông. Và tôi muốn những bông hoa không đủ phần hương sắc kia cũng có dịp dâng mình cúng Phật.

Tôi sẽ thế nào nếu ngày mai là cánh hoa đã lìa cành? Thật thản nhiên nếu đã biết trước và cũng không hề ngạc nhiên nếu không biết trước, vì tất cả mọi việc dù bất ngờ, bất hạnh đến đâu cũng có thể xảy ra mà.

.

.

Tôi thích ngồi lột vỏ lụa xanh và nhâm nhi từng hạt sen tươi, tận hưởng tinh hoa của đất trời.

Trên bàn Phật hôm nay, tôi dâng lễ là một bát hạt sen tươi.

.

Phương Thảo 

Rằm tháng Tư 2011

Hương sen (Nguyễn Tường Bách)

Hoa sen “tròn mà nhọn”. Đó là một câu của thời xa xưa, khi tôi mới vỡ lòng tập đọc. Mới nghe câu này người ta dễ thấy có gì vô lý. Thế nhưng nếu từng ngắm hoa sen, người ta thấy quả thật nó “tròn mà nhọn”. Hoa sen lúc còn “búp” cũng thế mà mỗi cánh hoa lúc đã nở cũng “tròn mà nhọn” như thế. Hình dáng giản đơn đó của hoa sen – ngờ đâu – là cách tôi dùng để phân biệt hoa sen với các thứ hoa cùng loại, ngày sau khi lớn lên.

Tiếp tục đọc

Một Năm Với Ban Mai Hồng ( Nguyệt Linh)

https://i0.wp.com/khoaanh.hcmup.edu.vn/projects/tilt2010/3C07/Unit.11.Ai.Linh_Thu.Ngan_Thanh.Tam/web/images/dreams1.jpg

Còn nhớ những ngày đầu biết đến Ban Mai Hồng, em chỉ là một nhóc lớp 8 kiêm một trong những người đọc thầm lặng. Thi thoảng,  nếu có gõ comment thì gõ vài câu ngắn ngủn và lại rất lập khuôn và nếu nhìn kĩ thì cái tên“Nguyệt Linh-Như Thảo” luôn đi kèm với nhau. Trong một thời gian, em như một người núp sau bóng của Thảo. Có lẽ vì lúc đó em chả hiểu gì về văn hoá đọc, cũng chả biết rằng chỉ cần một cái comment của mình thôi lại là một nguồn động viên rất lớn với những tác giả thân thương của BMH.   Tiếp tục đọc

To Live Is To Fight ( Nguyên Hương)

   Nhân ngày Ban Mai Hồng tròn một tuổi, xin  giới thiệu đến các bạn và các em một tác giả mới chính thức góp mặt trên trang Ban Mai Hồng của chúng ta. Chắc chắn rằng cái tên Nguyên Hương của  thành phố cao nguyên Ban Mê Thuột này  rất quen thuộc  với các bạn đọc trẻ trong nước, vì nhà văn nữ này đã có nhiều tác phẩm được xuất bản.

      Các tác phẩm như Quà Muộn, Những Giấc Mộng, Những Bông Hoa Hình Lá, Nguồn Cội Lênh Đênh, Tia Cầu Vồng Màu Chàm, Song Sinh, Ngày Có Bốn Mùa, Chiều Cao Ở Trong Lòng Ngực, Mẹ Con Đậu Đũa, Hoa Rù Rì, Yêu Bằng Tai …, được nhiều bạn đọc (nhất là giới trẻ) yêu thích. Từ Quà Muộn, tập truyện ngắn đầu tay đoạt giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 vào năm 1995 đến nay, Nguyên Hương vẫn sáng tác đều đặn và có nhiều truyện ngắn đoạt các giải thưởng của các báo Tiền Phong, Hoa Học Trò, nhà xuất bản Giáo Dục…  cũng như được dịch sang tiếng nước ngoài Hoa, Anh, Pháp kể cả chuyển thể thành phim.

Tiếp tục đọc

Bạch Mã Ôn (Tấn Ái)

Tôn Ngộ Không ( nhậm chức Bạch Mã Ôn)

Người Tàu có một ngụ ngôn cực hay: Chú khỉ đá Tôn Ngộ Không ỷ vào tài phép bèn quậy đến thiên đình. Cuộc đại chiến kinh hoàng, tài năng khỉ  đến  Bát tý Na Tra cũng bó tay. Bí thế Ngọc Hoàng phong cho chú chức quan lớn: Bạch Mã Ôn. Khỉ chịu phép, đội mão mang đai ra chiều ngạo nghễ. Kì thực khỉ bị lừa, Bạch mã Ôn bất quá cũng chỉ là thằng chăn ngựa. ( Lược thuật Tây Du Kí )

Thử hỏi Ngọc Hoàng có lỗi không nhỉ?

Tôi nghĩ rằng không. Bởi tài phép khỉ bất quá cũng chỉ là cái tài đánh nhau, mà đánh nhau là bản năng động vật chứ đâu phải bản năng người, khỉ bèn thắng. Nhưng khỉ là khỉ, không thể là người, khỉ chẳng thể làm quan. Đưa loài khỉ lên làm quan thì còn ra thể thống gì nữa? Chính cái tập tính khỉ nó sẽ đổ xoá hết mọi nền nếp trật tự của loài người. Thôi thì đủ thứ, thí dụ: Khỉ không biết chữ, khỉ bèn xé sách vở; tính khỉ hay trộm vặt, khỉ bèn vào chùa trộm oản quả; tính thích la cà, cái đít lông lá của khỉ sẽ lê la khắp các đại tiệc; vốn nhiêu sự, cái mồm chí choé của khỉ bèn hội nghị liên tu bất tận; rồi ưa bè phái, khỉ bèn dắt díu theo nào là heo Bát giới, nào sọ Sa tăng mà phong tuốt làm nguyên soái với tướng quân. Song đại hoạ ghê gớm nhất là bởi tính vốn kiêu ngạo, khỉ kiên quyết rằng giống khỉ mới là tổ tiên loài người, khỉ bèn nổ lực đưa thế giới loài người trở về thời kì khỉ!

Vì vậy mà chỉ nên cho khỉ làm Bạch Mã Ôn, bởi dẫu có mão áo cân đai thì cuối cùng khỉ cũng chỉ là khỉ!

.

Nguyễn Tấn Ái

Bình Phẩm thơ chân dung (Kỳ II)

3. Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924, mất năm 2003.

Từng giữ những chức vụ chủ chốt của hội nhà văn: Tổng thư kí hội văn hoá cứu quốc, tổng thư kí hội nhà văn.

Ông là một nhân cách lớn, và cũng vì lớn nên như có người nhận xét: Nguyễn Đình Thi ít khi được sống thật với con người của mình.

Kể lại một chuyện vui, không biết có giúp ích chi nhiều cho việc hiểu thơ chân dung về ông không: Năm 1996, tôi dự lớp tập huấn văn, các giáo viên cứ nằn nặc đòi ông đọc bài thơ Đất Nước, mà ông thì cứ tha thiết kể về Nguyễn Trãi ở Đông Quan, cái tác phẩm mà vì nó mà không mấy quan chức mặn mà với ông, đến độ ông phải dỗ: Nghe đi nhé, chờ tí nhé, rồi anh Thi sẽ đọc thơ!  Tiếp tục đọc

Ước Mơ

Tiếng gió réo rít ngoài cửa sổ, từng giọt mưa li ti nhẹ rơi, nó ngồi bên khung cửa, mắt suy tư, dường như trong mắt nó ngập đầy ký ức. Nó nhớ! Nhớ cái hồi còn bé tí, bố nó dắt nó đi chơi, mẹ nó làm bánh in, bánh tét ngon tuyệt. Nó nhớ về những kỉ niệm đẹp, về cái ngày mà nó còn bên bố mẹ và cả cái ngày bố mẹ nó đột ngột rời xa nó.

Gia đình của nó chỉ vỏn vẹn có ba người: bố nó, mẹ nó và nó. Không hiểu sao gia đình nó lại chẳng có bà con họ hàng gì. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, từ nhỏ nó đã phải cùng bố mẹ rời xa thành phố rực rỡ ánh đèn để đến sinh sống ở một vùng núi cao, hẻo lánh. Bố mẹ nó phải đi làm thuê, phát nương, làm rẫy, lo cho nó ăn học. Tuy cực khổ nhưng những tháng ngày đó đối với nó là vô cùng hạnh phúc. Cuối cùng cái hạnh phúc nhỏ nhoi đó cũng vụt khỏi tầm tay nó. Một đợt lũ quét kinh hoàng đã cuốn đi tất cả, cuốn đi bố mẹ nó.

Mắt nó dường như ươn ướt. Bỗng một bàn tay đập nhẹ vào vai nó.

– Sao vậy Linh? Đang mơ mộng gì à?

Đó là thầy Huy, thầy giáo dạy văn của nó, đồng thời cũng là người đã dang rộng vòng tay đón nhận nó, chăm sóc nó suốt bốn năm kể từ khi bố mẹ nó qua đời

Nó giật mình, vội ngẩng mặt lên mái nhà, khẽ nháy đôi mắt, cố giấu đi những giọt nước mắt tưởng chừng như muốn òa ra.

Nó quay lại, nở một nụ cười:

– Dạ không có gì đâu ạ! Em đang nhìn mưa, mưa đẹp thầy nhỉ, thầy thấy em có lãng mạn không ! – Nó làm ra vẻ vui vẻ.

Thầy Huy khẽ xoa đầu nó, thầy biết chứ, thầy biết nó đang nhớ bố mẹ, thầy cũng nhận ra cái mũi ửng hồng, đôi mắt cay cay vì sắp khóc của nó. Thầy lặng im.

Thầy Huy cũng trạc tuổi bố mẹ nó, là một giáo viên lâu năm. Thầy chưa có gia đình, sống một mình trong một căn nhà nhỏ nhìn ra đồng ruộng xanh mát. Thầy lớn lên từ trại trẻ mồ côi, ném trải nổi đau vì mất mát, chứng kiến bao mảnh đời bất hạnh, có lẽ vì vậy mà thầy hiểu được nổi đau của nó. Từ ngày có nó bên cạnh, thầy như bớt cô đơn hơn nhưng có lẽ niềm vui lớn nhất của thầy là được làm một người cha, một người thầy nâng giấc cho những ước mơ và nâng đỡ cho những mảnh đời bất hạnh.

Mãi nhìn mưa, suýt nữa là quên cả giờ đi học. Nó giật phắt mình

– Ối! Phải ăn cơm rồi đi học, không thì trễ mất thầy ơi!

Thầy Huy cũng giật mình, quên mất việc thầy đang muốn vào gọi nó ra ăn cơm

Thế là hai thầy trò ăn vội miếng cơm rồi cùng đến trường.

Vẫn chiếc áo sơ mi bạc màu, trên con đường rợp bóng mát, thầy Huy đèo nó trên chiếc xe đạp đã cũ, chiếc xe đã gắn bó với thầy từ hồi còn học cấp hai, chiếc xe mà thầy đã nhận được từ quỹ hổ trợ trẻ em mồ côi học tập, có lẽ vì thế mà thầy luôn trân trọng, giữ gìn chiếc xe ấy như một báu vật – một báu vật của tình thương.

Tùng..! Tùng …! Tùng..!.. – Tiếng trống trường đã điểm.

Nó vào lớp học. Hôm nay có tiết văn của thầy. Thầy bước vào lớp, vẫn cái giọng trầm và ấm áp cùng nụ cười  hiền từ :

– Chào các em! Hôm nay chúng ta sẽ bàn về một vấn để. Đó chính là “ước mơ”.

– Thưa thầy, em muốn làm bác sĩ.

– Em muốn làm kĩ sư.

– Em muốn làm…

Rất nhiều ý kiến được các em học sinh hào hứng nêu ra. Với nó, ước mơ là gì? Là học sinh cuối cấp nhưng có vẻ như đối với nó, khái niệm “ước mơ” nghe thật xa lạ.

– Ước mơ là gì? – Nó mơ hồ, suy nghĩ.

Một cái cốc nhẹ lên đầu nó

– Linh hãy cho thầy biết, ước mơ của em là gì? – Thầy Huy ôn tồn hỏi.

– Dạ …, dạ… em không biết thưa thầy! – Nó ấp úng.

Thầy nhìn nó với ánh mắt trìu mến. Thầy hiểu tâm trạng của nó. Thầy cho nó ngồi xuống và nói.

“ Các em à, làm người ai cũng có ước mơ của riêng mình. Người không có ước mơ là người sống không mục đích, không lí tưởng và sẽ chẳng bao giờ đến đích. Biết đâu đó ở một góc nhỏ trong chính con người các em, ước mơ đang hiển hiện, chỉ là các em chưa nhận ra được điều đó. Hãy sống và biến ước mơ thành hiện thực dù có gặp khó khăn, thử thách gì đi nữa. Nếu người có ước mơ lại chùn bước thì mãi mãi ước mơ chỉ là ước mơ mà thôi.”

Trên đường về, nó ôm chặt lấy thầy và hỏi:

– Thầy ơi! Ước mơ của thầy là gì vậy?

Thầy mỉm cười:

– Ngày xưa thầy cũng như con, không biết ước mơ là gì và cũng chính từ những lời dạy bảo của thầy cô giáo, thầy đã bắt đầu biết ước mơ. Ước mơ của thầy là được làm một người thầy giáo, đem tri thức mà thầy có được truyền đạt lại cho các em học sinh, ước mơ của thầy là được giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi và đặc biệt là thầy muốn dạy cho các em cách làm người, cách biết ước mơ.

Nó gật gù và lặng im

Một ngày chủ nhật đẹp trời, nó tỉnh dậy sau một giấc ngủ say, vừa chạy ra khỏi phòng nó đã thấy thầy mặc chiếc áo sơ mi quen thuộc bước ra khỏi cổng.

– Thầy định đi đâu vậy nhỉ? – Nó tự hỏi.

Nó lẻn bước theo thầy, theo sau cái dáng người gầy gò của thầy đến một ngôi trường nhỏ ở đầu làng. Nó đứng nấp sau một thân cây cổ thụ và trước mắt nó là ngôi trường dành cho trẻ em khuyết tật. Nó chợt nghĩ đến con heo đất đã cũ thầy cất trong tủ quần áo mà nó vô tình nhìn thấy.

– Thì ra với đồng lương ít ỏi của thầy, hằng ngày thầy vẫn dành dụm để giúp đỡ cho trẻ em tàn tật – Nó như hiểu ra một điều gì rồi chạy một mạch về nhà, lục lọi trong túi áo số tiền mà nó đã để dành mỗi khi thầy cho nó ăn quà vặt rồi lén bỏ vào trong con heo đất của thầy. Dường như nó đã cảm nhận được hương vị của tình thương, của lòng nhân ái, mà người dạy cho nó chính là thầy.

Bên thầy, mỗi ngày đối với nó là một niềm hạnh phúc. Nó nhận ra thầy không chỉ là một người thầy giáo mà còn là một người nội trợ tuyệt vời. Món nào thầy nấu cũng ngon mà ngon hơn cả là vị ngọt của tấm lòng.

Từng ngày trôi qua, nó nhận ra những sợi tóc điểm bạc trên mái đầu thầy những nếp nhăn mỗi lúc một hằn sâu trên khuôn mặt thầy. Có đêm nó lén nhìn qua vách tường, thầy vẫn ngồi đấy bên ngọn đèn dầu mờ mờ, soạn từng trang giáo án. Có hôm thầy bị ốm, ấy thế mà nó vẫn thấy thầy bên cái bàn gỗ nhỏ làm việc, thức tới tận khuya.

Nó thương thầy! Nó thương thầy lắm! Dường như nó muốn nói điều gì nhưng cổ họng nó cứ nghẹn ứ lại, không nói được gì.

Một buổi sáng đầy sương mù, vẫn trên chiếc xe đạp cũ, thầy đèo nó đến trường. Hình như thầy đạp xe yếu hơn mọi khi, nó cảm nhận được hơi thở mỗi lúc một mạnh hơn của thầy, những giọt mồ hôi trên trán thầy.

– Thầy ơi, thầy có mệt không, để em chở thầy nhé! – Nó ôm thầy nói

– Không đâu, thầy khỏe lắm, được đến trường dạy bảo cho các em học sinh là niềm vui lớn nhất của thầy – Thầy mỉm cười

Vẫn tiết văn, thầy bước vào lớp. Nó nhận ra ngay gương mặt tái nhạt đi của thầy, có vẻ như thầy đang rất mệt nhưng thầy vẫn cố gắng chỉ dẫn tận tình như mọi hôm. Một tiếng lách cách vang lên trong khi nó đang cắm cúi viết bài. Thì ra là tiếng phấn rơi xuống sàn. Nhưng không! Thầy ngã xuống

– Ôi! Thầy ơi! – Nó thốt lên

Trên đường đưa thầy vào bệnh viện, tim nó đập mạnh, đôi tay nó run run bấu chặt lấy tay thầy. Nỗi đau của sự mất mát lại ùa về trong nó. Nó sợ! Nó sợ lại mất thầy.

Đôi mắt nó lờ đờ, vô định, nước mắt  cứ thế òa ra, nó khóc trong âm thầm chờ đợi.

Từ phòng cấp cứu, bác sĩ bước ra, mọi người kéo lại bao quanh bác sĩ, nó đứng nép một bên, bàn tay bấu chặt vào bức tường, hồi hộp, lắng tai nghe.

Một ánh mắt buồn, thất vọng, một cái lắc đầu khiến lòng nó nặng trĩu, nó không còn nghĩ được gì hơn nũa. Nó chạy thẳng vào phòng cấp cứu, gục đầu xuống giường bệnh và òa khóc.

– Thầy ơi! Thầy ơi! Thầy đừng bỏ Linh đi nhé!

Với sức lực cuối cùng, thầy cố nhấc bàn tay gầy gò, đặt lên mái đầu nó.

– Ba mãi bên con, ủng hộ con – Giọng thầy yếu ớt.

Rồi tay thầy buông xuống, trượt nhẹ trên mái đầu nó, nó ngẩng mặt lên, tim nó như ngừng đập.

– Ba …a …a ! Ba …a…a! – Nó thét lên.

Tiếng “ba” mà đã bốn năm rồi nó không còn được gọi. Tiếng “ba” từ sâu trong đáy lòng nó. Tiếng “ba” mà nó đã muốn gọi từ rất lâu rồi. Một ước mơ mà dường như nó đã mơ hồ nghĩ đến, ước mơ được gọi tiếng “ba” mà nó đã từng không thể thốt nên lời để rồi bây giờ nhận ra, nó biết mình đã trễ. Nó ôm chầm lấy thân hình gầy gò vì sương gió, tảo tần, tận tụy của thầy – người cha thứ hai của nó, cảm nhận hơi ấm cuối cùng của người thân yêu duy nhất còn lại của nó. Nó ngất đi vì mệt trong khi bàn tay nhỏ bé của nó vẫn nắm chặt lấy tay thầy, đôi môi vẫn thầm gọi tiếng “ba” hòa cùng dòng nước mắt.

Trong đám tang của thầy, mọi người đến rất đông, có cả những đứa trẻ khuyết tật trong ngôi trường nhỏ đầu làng mà thầy vẫn thường ghé thăm. Còn nó thì ngồi thừ ra đó, dường như nó không còn đủ sức để khóc nữa. Mọi người nhìn nó thương cảm, ai nấy đều rơi nước mắt. Thầy Huy mất đi để lại cho nó, cho cán bộ nhân viên nhà trường, cho các em học sinh một nỗi đau vô hạn, một niềm tiếc thương, một sự lưu luyến về hình ảnh một người cha, một người đồng nghiệp, một thầy giáo giản dị, ân cần và tận tụy.

Mất thầy, mỗi ngày trôi qua đối với nó như một địa ngục. Nó nghĩ đến những mất mát đã xảy ra với nó, rồi nó lại khóc. Chợt nhớ đến con heo đất, gạt nước mắt, chạy vội vào phòng, nhịp tim mỗi lúc một mạnh hơn, đôi tay nhỏ bé lại run lên, nó ôm chặt lấy con heo đất – món quà mà thầy đã tặng cho nó vài ngày trước khi qua đời. Nó run run gở từng mảnh dán đã sờn cũ, hồi hộp, chờ đợi như linh cảm về một điều gì. Trong đó là một số tiền mà thầy đã dành dụm để lại cho nó và một bức thư.

– Cái gì đây? – Nó thầm hỏi.

Nó vội vàng mở bức thư ra và đọc

“Con yêu quý, khi con đọc lá thư này cũng là lúc ba không còn ở bên con nữa. Ba đã rất mong được nghe tiếng con gọi “ba” dù chỉ một lần nhưng chắc có lẽ con còn rụt rè…

Con yêu quý, hãy sống cho thật tốt, hãy ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực. Ba hy vọng rằng một ngày nào đó con sẽ tìm được ước mơ đích thực và sẽ tự hào về con đường mà con đã chọn. Hãy san sẻ tình thương cho những người bất hạnh, hãy vực dậy và tiến về phía trước con nhé!…

Ba mãi bên con, ủng hộ con!”

Giọt nước mắt lăn dài trên má nó, nó lại òa lên khóc, nó khóc sướt mướt, nó khóc như chưa từng được khóc, nó khóc vì đã bỏ lỡ đi một ước mơ, ước mơ được gọi tiếng “ba” khi ba nó còn ở trên đời, nó khóc để lấy lại tinh thần, nghị lực, rồi nó thiếp đi bên lá thư ướt nhòe nước mắt, trên chiếc bàn thân thương nơi người thầy – người cha thứ hai của nó vẫn ngày đêm miệt mài bên trang giáo án.

Từ thời khắc ấy trở đi, nó thay đổi hoàn toàn, nó không còn yếu ớt, rụt rè nấp trong cái vỏ bọc như ngày xưa. Nó mạnh mẽ, kiên cường và đầy nghị lực.

Mỗi khi có ai hỏi về ba nó, nó luôn tự hào nói rằng:

-“ Tôi có hai người cha tuyệt vời, một người đã sinh ra tôi và một người chắp cánh cho ước mơ của tôi”

Năm ấy, nó tốt nghiệp được hàng thủ khoa của trường đại học sư phạm. Khi được mời lên phát biểu cảm nghĩ. Nó nghẹn ngào:

– “ Ước mơ của tôi là nguyện suốt đời làm người lái đò tận tụy đưa học trò cập bến vinh quang, tôi muốn nói với thầy – người cha đáng kính của tôi rằng: Con xin lỗi vì đã không gọi tiếng “ba” sớm hơn. Cha ơi! Cha là một người cha vĩ đại, người đã vén mở tấm màn tri thức cho con, cho con biết thế nào là ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực. Sẽ không phải quá trễ để ước mơ phải không cha! Con đã làm được! Trong lòng con, cha là người tuyệt vời, một biểu tượng cao cả về vẻ đẹp của người thầy.”

.

Đặng Thị Hiếu

Lớp: 12A2 , THPT Quế Sơn, Quảng Nam

Hồn Xưa Còn Mãi

Tôi rất yêu nhạc Trịnh (nhạc Trịnh thì ai mà không yêu, chỉ có những người chưa hiểu được, chưa cảm được thì mới chưa yêu thôi), nhất là nhạc Trịnh được chuyển tải bằng âm giai hợp tấu của cây ghita. Tôi cho rằng âm vực của lọai nhạc cụ này vô cùng thích hợp với những tiết tấu bổng, trầm, ngân, láy, lặng trong nhạc Trịnh, còn có một thứ nhạc cụ nữa cũng có thể gọi là tương thích, đó là kèn saxophon, nhưng với gu thẩm cảm của tôi, thì ghita vẫn là số một cho sự lựa chọn.

Ví dụ câu hát “ Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi…” ( Một cõi đi về ) . Khi cung nhạc trỗi lên, tâm hồn như bị hút theo âm vực cao nhất và rơi lài lài theo triền âm thấp, rồi thẳm sâu trong một khắc của dấu lặng. Cái dấu lặng ấy vừa kịp dậy lên một cảm xúc nao nuối, vừa kịp thấm đẫm vào lòng một cung bậc, vừa kịp cho hồn người rơi vào một vùng trũng mênh mang, vừa kịp gợi lên hình ảnh một chặng hành trình đằng đẵng, và vừa kịp trỗi lên một nỗi xao xuyến gọi mời… “Đi đâu đi đâu…” . Cũng như vậy trong nhiều nhạc phẩm khác, người nghe có được cảm xúc lao đao như trên từng con sóng nhớ, hun hút dõi về thăm thẳm một miền xa, lênh đênh buông thả trên một dòng sông lặng lờ, yên ả, và réo rắt nỗi xót xa thân phận một kiếp người …Còn nhiều, nhiều cung bậc cảm xúc mà tùy theo tâm trạng mỗi người cảm nhận, tùy theo từng cách đặt để ngôn từ và cũng có những lúc ngôn từ không đủ hiện hữu để gọi tên. Nhạc Trịnh đã làm được một điều mà không phải dòng nhạc nào cũng có thể làm được, đó là sự dẫn dắt cảm trạng dẫn dắt từ tính, dẫn dắt những ý niệm của lòng người vào một cõi tri ngộ trong tâm tưởng, giúp cho những hồn người trong một khỏanh khắc bất thường, vụt nhận diện được những giá trị đẹp, đắt, tuyệt đích nhất của đời sống. Tôi không cần nêu dẫn chứng, là bởi bất kỳ ai đã từng cảm được nhạc Trinh một cách đúng nghĩa đều có thể có những suy niệm tương tự, chỉ là phần lớn không biểu thị qua ngôn từ và chủ ý gây sức lan tỏa mà thôi.

Tôi thường nghe hòa tấu nhạc Trịnh vào nửa đầu của buổi sáng, và nửa dần về khuya của buổi tối. Đó là khoảng thời gian thích hợp nhất cho sự thanh lắng tâm hồn, để có thể vùi hết mình vào miên man dòng nhạc. Tâm hồn thực sự được thanh lọc, được trầm tư tĩnh tại, cõi lòng thực sự được bình nhiên, nhẹ nhõm, để có thể giao hòa viên túc nhất với từng cung bậc âm hưởng, để có thể cảm tận nhất với từng nối tài hoa của người nhạc sĩ, với từng chân nghĩa sâu xa nhất mà người nhạc sĩ muốn gửi gắm, chuyển tải  Bởi nhạc Trịnh không chỉ hát lên những ca từ, hát lên những tiết tấu, mà hát lên những da diết hồn ngừơi, những phận người, những bể dâu đời người, hát lên những ước vọng, hát lên những yêu thương sâu thẳm nhất của con người. Vì thế nên, nếu ai chưa từng được biết đến nhạc Trịnh, chưa từng biết yêu nhạc Trịnh, có thể gọi đó là một thiệt thòi lớn. Bởi khi biết yêu nhạc Trịnh rồi, bạn sẽ có một đời sống thanh tĩnh, nhẹ nhàng, tâm hồn bạn sẽ được vén bớt đi những mảng sương mù, sẽ cho bạn được nhìn thấy những tia nắng ấm vàng tươi, và sẽ giúp bạn trút bỏ bớt những bộn bề, khắc nghiệt của cuộc đời, cho bạn cảm thấy được cuộc sống thật sự là thế nào. Nếu có thể đại ngôn một chút, tôi cho rằng nhạc Trịnh có thể được gọi là một thứ “Nhạc đạo”. Đạo vốn là một hình thái tập trung nhất những tư duy triết lý, gợi mở và dẫn dắt tính nhân bản nhất để con người có thể hướng thiện hơn, sống tốt đẹp với chính mình và cộng đồng hơn, và nhạc Trịnh đã làm được điều đó.

Nói những lời này, tôi không chỉ biểu thị sự tôn vinh, yêu kính đến người nhạc sĩ tài hoa hiếm có ấy, mà còn muốn lan tỏa âm hưởng của một dòng nhạc đến muôn muôn vạn vạn người, để càng nhiều người được tiếp xúc, thì cuộc sống này càng bớt đi những khốc liệt, và con người có thể được sống một cách Người hơn. Nếu có ai cho rằng nhạc Trịnh là ủy mị, yếu mềm, ẻo lả, thì người đó nhầm rất to đấy. Vì một sức mạnh rất căn bản ẩn sâu trong nội tại dòng nhạc, mà khi đã thấm được vào lòng bạn rồi, bạn sẽ tự phát huy được sự vững vàng trong bản lĩnh thực sự của cuộc sống, bạn sẽ an nhiên trước những rượt đuổi, sẽ tư trầm trước những lo toan, không phải để bạn yếu đuối, nhụt chí mà thối lui trước những biến ập, mà để bạn sẽ đủ tự tin, bản lĩnh, sự  can trường khi tiếp nhận vấn đề và giải quyết vấn đề một cách trầm tĩnh và hiệu quả hơn. Bởi khi tâm hồn bạn sáng, cõi lòng bạn mở, thì cái nhìn của bạn cũng sẽ rộng và dịu hơn nhiều đối với các sự vật, sự việc, nhờ thế mà bạn sẽ bớt đi được phần lớn áp lực khi đương đầu và xử giải. Tôi chắt chiu những ý nghiệm này từ chính bản thân mình và một số anh em bạn bè có chung một sở thích, và tôi thấy hiệu quả của một âm hưởng là một sự khẳng định rõ rệt.

Cuộc sống con người chúng ta luôn có những bất thân ngọai ý, nếu chúng ta không được củng cố, bồi đắp một căn bản nội tại, thì những khó khăn mà chúng ta phải tiếp nhận sẽ nhân lên rất nhiều lần. Có thể có rất nhiều cách để giảm xóc, tùy theo quan niệm và tính cách của mỗi người, nhưng âm nhạc thường là cách chọn lựa tốt nhất, mà trong đó nhạc Trịnh chiếm phần lớn sự ưu cảm. Nếu bạn hòai nghi, thì bạn cứ hãy thử xem. Và nếu bạn có được một hiệu quả cần thiết, thì bạn hãy như tôi, chân thành gửi đến người nhạc sĩ tài hoa bậc nhất ấy, một lời ân cảm tự tận đáy lòng mình, và Người chẳng hề đi đâu cả, Người vẫn ở bên ta hàng ngày đấy, Cá tháng tư là một ngày không dễ tin, ngay cả với những điều có thật.

Sẽ là một thiếu sót rất lớn nếu chỉ kể đến tài hoa của người nhạc sĩ, bởi nếu thiếu đi sự cộng hợp, cộng hưởng của những người nghệ sĩ và những nhạc cụ, thì tác phẩm dù có hay mấy cũng không thể truyền tải và tồn tại mãi được. Những bậc tiền nhân đã chế tác ra những nhạc cụ, và rất nhiều, rất nhiều những thế hệ nghệ sĩ tiếp nối, ngoài năng khiếu, mỗi người nghệ sĩ còn phải mất biết bao công sức, thời gian và lòng nhiệt thành để có thể làm sống những âm thanh. Người nghệ sĩ khi muốn thể hiện một nhạc phẩm một cách tốt nhất, cũng phải có sự đồng cảm, hòa điệu cùng tác phẩm, mới có thể lột tả hết được cái hồn, cái chất tinh túy nhất của nhạc phẩm, từ đó mới đủ âm hưởng mà thẩm thấu đến người nghe. Vì thế nên tôi còn muốn gửi một lời tri cảm sâu sắc nhất đến những bậc tiền nhân đã chế tác ra những thứ nhạc cụ, đến những người nhạc công thầm lặng, miệt mài gọt giũa từng nối nhạc, để chuyển đến cho người nghe những thanh âm trung thực nhất, đẹp nhất, đậm nhất của hồn nhạc. Để mãi mãi, những thế hệ nối tiếp nhau có cơ hội được tận hưởng một trong những hương vị trác tuyệt nhất của cuộc sống. Để cho dù qua đi bao thời khắc ngắn ngủi của đời người, dù tất cả ai rồi cũng sẽ trôi về miền miên viễn, nhưng những hồn xưa thì vẫn còn mãi, còn mãi trong mặc nhiên lưu tại của “ Một cõi đi về ”.

.

Đàm Lan

Việt Nam- Những Nét Đẹp Thời Pháp Thuộc.


Phố Hàng Bạc
.

Việt Nam xưa là đề tài của những tâm hồn dân tộc, là những gì lẩn khuất dầm thấm trong mỗi con người Việt thi thoảng vẳng tiếng loa xưa ngàn năm, đó cũng là đề tài mà chị Túy Phượng theo đuổi và giới thiệu qua hàng loạt file trên Ban Mai Hồng mà bạn đọc đã có dịp thưởng thức.

Bây giờ là đề tài Việt Nam, những nét đẹp thời Pháp thuộc.
PPS gồm 74 slide đã giới thiệu một Việt Nam với những dấu ấn một thời.
Có đủ Hà Nội với ba sáu phố phường danh tiếng.
Có những cuộc cờ người vui nhộn, kì lạ với tướng ông, tướng bà, gợi nụ cười dí dỏm mang hơi hướng những câu thơ Xuân Hương tinh nghịch.
Có những công chức buổi đầu học tiếng Tây làm thông ngôn kí lục, để trong mắt đời nửa xem trọng nửa xem khinh.
Thú vị khi phát hiện ra một Tháp Rùa xưa còn đội trên mình cả một tượng thần Tự Do, vui vì nay mình đã tháo gỡ cái vương miện quái gỡ không chịu được.
Có lẽ Hà Nội thời Pháp thuộc qua 74 slide ngoài cái tên quan công sứ, ngoài vài kiến trúc mới vẫn còn nguyên một Hà Nội đúng xưa, nhuốm màu “hồn thu thảo” thật vướng víu!
Có lẽ để có một Việt Nam hôm nay, chúng ta cần nhớ rằng có sự hiển hiện của lễ giáo Trung Hoa và văn minh Pháp, điều đó góp phần làm nên một Việt Nam vững nền cổ diển mà cũng rất hiện đại.

Đó cũng là điều mà chị Túy Phượng muốn nói với bạn đọc Ban Mai Hồng chăng?
Mời bạn đọc cùng thưởng thức một Hà Nội thời Pháp thuộc qua công phu khảo cứu của chị Trần Lê Túy Phượng.
.

Nguyễn Tấn Ái giới thiệu
.

Xin click vào hình bên dưới
.

Động đất ở Nhật và chuyện khó coi ở ta

 

TT – Người dân Nhật rất bình tĩnh, trật tự trong và sau trận động đất kinh hoàng – tôi chẳng tin vào những điều như thế vốn được đăng trên vài tờ báo Việt Nam ngay sau khi trận động đất cùng cơn sóng thần kinh hãi xảy ra trên nước Nhật. Chẳng tin là bởi tôi đã chứng kiến tận mắt rất nhiều người cứ hay thổi phồng những câu chuyện họ thấy ở nước ngoài để dạy dỗ ngược trở lại những điều diễn ra ở Việt Nam.

Song tôi đã buộc phải nghĩ lại khi xem những hình ảnh của người dân Nhật trong và sau sự cố được phát trên bản tin thời sự của VTV. Và tôi tiếp tục phải nghĩ lại khi thấy rất nhiều tờ báo cùng đăng tải một bức ảnh diễn tả cảnh những người Nhật quy củ xếp hàng nhận đồ cứu tế. Dòng người xếp hàng nhiều đến nỗi người ta đã không thể đứng thành một hàng dọc, mà phải “uốn” thành hình cong trong một trật tự đáng khâm phục.

Rồi ngay trên chính trang báo này, chúng ta cũng đã nhìn thấy rất nhiều hình ảnh cùng rất nhiều câu chuyện cảm động được chuyển về từ tâm chấn: một phụ nữ đã gọi lại một thanh niên trên đường để tặng chiếc bánh mì, dù cửa hàng bánh của chị mỗi lúc một cạn kiệt hơn; một em nhỏ kiên quyết xếp hàng đợi đến lượt mình để lấy nước sạch, thay vì nhận ân huệ “nhường chỗ” của những người đứng trên.

Và đáng phục nhất có lẽ chính là câu chuyện được một cảnh sát Nhật gốc Việt Nam thuật lại khi anh tặng một miếng lương khô của mình cho một em bé 9 tuổi đã mất cha, mất mẹ, giờ đang xếp hàng nhận đồ cứu trợ.

Em bé ấy, trong cơn đói khát cùng quẫn đã không ngấu nghiến ăn ngay miếng lương khô như tưởng tượng của anh, mà mang nó đến chỗ những người đang phát thực phẩm với một suy nghĩ khiến cả nhân loại phải ngả mũ rằng: “Có lẽ còn nhiều người đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô, các chú phát chung cho công bằng chú ạ”.

Tôi và có lẽ rất nhiều bạn đọc như tôi đều phải rơi nước mắt trước câu nói này.

2

Sống với những câu chuyện cảm động và đáng phục trên đây, bỗng thấy đắng đót quá khi nhớ lại cảnh chen cướp đầy nhức nhối diễn ra trong lễ hội đền Trần ở xứ ta. Ở lễ hội đó, bất luận già – trẻ – trai – gái, và bất luận người bình dân hay người trí thức cũng đều như thế cả: cứ nháo nhào xô đẩy nhau để “cướp” cho kỳ được một cái ấn – phương tiện thỏa mãn giấc mộng phù hoa. Kết quả là đã có nhiều người ngộp thở, ngất xỉu hoặc ít ra cũng phải thoát khỏi đám đông trong cảnh “thân tàn ma dại”…

Tới đây, hãy thử đặt câu chuyện “động đất ở Nhật” và “cướp ấn đền Trần” cạnh nhau. Nếu như động đất ở Nhật khiến con người phải đối diện với cảnh “một sống hai chết” thì lễ hội đền Trần, đúng như tên gọi của nó là một ngày hội, và ở ngày hội ấy con người ta có thể được thỏa mãn nhu cầu quyền lực – nhu cầu vật chất (ít ra là ở góc độ niềm tin). Vậy thì, xét ở phương diện nguy kịch, rõ ràng động đất ở Nhật nguy kịch hơn nhiều so với lễ hội đền Trần ở ta. Vậy nên, cái hoàn cảnh “động đất” đáng để người ta phải chen lấn, xô đẩy; thậm chí là phải tranh cướp, giành giật hơn rất nhiều so với hoàn cảnh “lễ hội”.

Ấy thế mà chính trong hoàn cảnh đáng để chen lấn, giành giật, người ta lại thấy được sự quy củ, nề nếp; còn chính trong hoàn cảnh tưởng như phải quy củ, nề nếp thì người ta lại thấy rõ sự bát nháo, vô tổ chức đến kinh hồn. Sự tương phản này quả là dữ dội và… đau lòng.

3

Đặt ra hai câu chuyện trên là để đề xuất một giải pháp khắc phục tình trạng lộn xộn, bát nháo ở lễ hội đền Trần nói riêng cũng như các lễ hội khác nói chung ở xứ mình. Đó là từ nay về sau, cứ trước một lễ hội lớn, những nhà tổ chức nên đặt một màn hình công cộng ở nơi diễn ra lễ hội. Và ở trên màn hình hãy chiếu đi chiếu lại những hình ảnh nề nếp, quy củ. Nhìn những hình ảnh ấy, tất cả những người dự lễ hội ở ta có lẽ sẽ ngăn chặn được phần nào sự chen lấn.

Tất nhiên, phương pháp này chỉ đạt hiệu quả khi những người dự lễ hội có khả năng thức tỉnh và khả năng xấu hổ – thức tỉnh trước những hình ảnh mình xem và xấu hổ nếu làm ngược lại những hình ảnh đó.

Còn giả như đến ngay cả khả năng thức tỉnh và khả năng xấu hổ ấy cũng không còn nữa thì thôi, xin miễn bàn!

.

Phan Đăng

Tuổi Trẻ online

Tôi Viết Văn

Tôi viết văn không mong cầu sự nổi tiếng, khi cuộc đời này người ta đang ra sức tung hô cho những giả trá lọc lừa, những vật dục bản năng, và cả những phù phiếm bán mua sống sượng

Tôi viết văn như thể muốn lật tung bao tấm đắp để lộ ra những chấy rận, bọ giòi

Tôi viết văn như muốn tạo ra một thứ độc dược cấp tính xịt vào mọi ngóc ngách tối tăm ẩm thấp tận hang cùng ngõ hẹp

Để tận diệt muôn nghìn mối mọt bọ sâu đang gặm nhấm dần đến mục ruỗng lương tri nhân cách một chữ NGƯỜI

Cho dù bao kẻ đang vỗ tay cười chế nhạo tôi khùng điên mơ những điều không tưởng, quá xa xôi khi cán cân cuộc đời mãi nghiêng về mãnh lực vật chất, hư danh

Cho dù quanh tôi có rộ lên bao lời mỉa mai giễu cợt, hằn học chê bôi, thậm chí những hòn đá to đang sẵn sàng ném vào tôi bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào

Cho dù những gì tôi nói chỉ là một hạt mưa bé tẹo rơi giữa một vùng hoang mạc khô cằn nắng cháy

Cho dù sẽ một ngày tôi nằm chết còng queo bên vệ đường không một ánh nhìn thương xót, không một manh chiếu nhỏ nhoi

Thì tôi cũng vẫn viết

Vẫn luôn viết những gì tôi hằng chiêm ngẫm

Và tôi tin

Rất rất tin

Rằng đâu đó trong những nhốn nháo, nhố nhăng, dặt dẹo những hình thù, vẫn lặng lẽ những dây leo NHÂN THIỆN

Mỏng manh

Cần mẫn

Bám vào những cột đá rêu phong mốc thếch

Bám vào những thân gỗ khẳng khiu sứt sẹo sù sì, những vẫn vươn thẳng chọc trời trong đơn lẻ

Như một vốc hạt mầm tung theo gió, may có hạt rơi vào nơi đất ẩm

Lặng lẽ nảy mầm

Lặng lẽ chồi xanh

Tồn tại và sinh sôi

Thành một đóa hoa tim đỏ chói

Thành một quả tâm nhân ngọt lịm

Theo ngọn gió lành tỏa đến nơi nơi

Cho những đau buồn, khổ lụy dần vơi.

.

Đàm Lan

Những Người Mặc Áo Blu Trắng

Hồi còn nhỏ, nó ước mơ trở thành một nữ bác sĩ. Đơn giản vì nó thích màu trắng và đặc biệt thích khoác lên mình chiếc áo Blu-trắng mà nó hằng yêu thích mà thôi.
*****
Năm nó 16 tuổi-cái tuổi tràn đầy yêu thương, mơ mộng, cái tuổi mà tất cả nữ sinh trong trường được mặc áo dài thì nó lại làm bạn với chiếc giường bệnh. Nó đã phải nhập viện vì cơn bệnh đau tim hành hạ quằn quai. Niềm mơ ước được mặc áo dài, được mặc áo Blu-trắng trong nó đã dập tắt. Nó đã đánh mất niềm tin, hi vọng và mất tất cả. Nó đã đánh mất sự hồn nhiên, thơ ngây của một người con gái. Vì thế nhìn sâu vào đôi mắt nó người ta có cảm giác cô đơn, buồn tủi. Đôi mắt ấy lúc nào cũng long lanh ngấn nước và sưng lên vì khóc nhiều. Hằng ngày đứng trên sân thượng của bệnh viện, nhìn những dòng người đổ xô vào trường rồi lại ra về, lòng nó đau thắt lại. Cái niềm mơ ước ấy tưởng như nhỏ nhoi, bình thường với những đứa bé khác thì với nó rất lớn lao và cao cả.
Nó nhìn những đám mây lững lờ trôi trên bầu trời và cảm thấy cô đơn và tuyệt vọng. Nó thấy mình như những đám mây trắng kia trôi mãi trôi mãi mà không biết sẽ về đâu. Có thể một ngày đám mây kia sẽ tan và nó sẽ lìa xa cuộc đời này thì sao??? Tim nó đau nhói. Nó bật khóc. Nó siết đôi bàn tay nhỏ bé của mình và cầu nguyện :Thượng Đế ơi! Giá như chỉ một lần thôi con được mặc áo dài, mặc áo Blu mà con hằng yêu thích là đủ lắm rồi! Một làn gió bấc tràn về, hơi ấm lành lạnh bao trùm toàn thân, nó co ro lại trong tấm áo len mỏng manh và cảm thấy tê buốt. Nó nghĩ rằng cái bệnh viện này sẽ là nơi mình sống cả khoảng đời còn lại. Nghĩ đến đó, tự nhiên tim nó quặng đau, nó quỳ xuống khóc nức nở. Từ phía sau, một bác sĩ tiến lại gần bên nó. Người bác sĩ ấy phụ trách phòng bệnh này. Ông ta dìu nó đứng dậy, trò chuyện:”Mọi thứ mới chỉ bắt đầu, cháu hãy luôn nghĩ về phía trước thì tâm hồn mình sẽ cảm thấy thanh thản hơn. Cố lên con gái! Bác tin nhất định cháu sẽ chiến thắng bệnh tật…” Nó như không tin vào thính giác của mình nữa. Hai từ“Con gái” sao mà nghe tha thiết đến vậy! Đã từ lâu lắm rồi nó mới có cảm giác như được sống…Cái ngày người ta bỏ nó vào cô nhi viện, cuộc đời nó đã rẽ sang một hướng khác. Nó không biết cha mẹ mình là ai, và cũng chẳng bao giờ hỏi. Có chăng nó chỉ tưởng tượng được khuôn mặt cha mẹ nó trong mơ mà thôi. Từ khi biết nó bị bệnh tim người ta chuyển nó đến bệnh viện để theo dõi. Nó nghe theo dù biết rằng không một loại thuốc nào chữa được căn bệnh quái ác này. Nó hiểu…
*****
Bây giờ, nó cảm thấy hạnh phúc hơn, vì biết rằng cũng còn có người quan tâm, lo lắng cho nó. Như một ánh sáng dịu kì sưởi ấm trái tim, nó không còn có cảm giác cô đơn lạnh lẽo nữa, nó đã tin yêu vào cuộc sống. Thật ấm áp diệu kì!!! Người bác sĩ ấy không chỉ đến với nó bằng tấm lòng “lương y như từ mẫu” mà hơn nữa là một người cha quan tâm, chăm sóc mỗi khi nó cô đơn, tuyệt vọng. Và đây, nó đã biết cười, lạc quan vào cuộc sống. Nó đã nhận ra vẻ đẹp lung linh của cây bằng lăng trước sân mà từ trước đến giờ nó chưa biết dù chỉ là một cái nhìn. Một nhành hoa rung rinh trước gió cũng đủ để làm nó mỉm cười thật nhẹ. Giờ đây nó hiểu rằng nó ao ước trở thành bác sĩ nhưng không phải chỉ để được mặc áo Blu-trắng…Nó muốn đem niềm tin hi vọng cho những bệnh nhân. Nó muốn cứu người-một ước mơ cháy bỏng.
Một cơn gió lạnh thổi qua nhưng nó không co ro nữa mà như thách thức cùng cái khắc nghiệt của thời tiết.
*****
Năm nó 18 tuổi-cái tuổi người ta trải qua ngưỡng cửa của Đại học thì nó phải đối mặt với ca phẫu thuật quan trọng của cuộc đời. Sự sống-cái chết chỉ trong gang tất. Nó sợ mình sẽ lìa xa cuộc đời này, lìa xa cái ước mơ khát khao, cháy bỏng mà nó đã nuôi dưỡng bấy lâu nay…
Trước khi làm phẩu thuật, người bác sĩ ấy đã trò chuyện cùng nó một đêm, vẫn câu nói cũ:”…Cố lên con gái. Bác tin nhất định cháu sẽ chiến thắng bệnh tật…” Nó cười, bác sĩ cũng cười theo. Chiếc xe lăn đẩy nó vào phòng mổ. Cánh cửa từ từ khép lại. Hi vọng…
*****
Thế nhưng cái điều không may đã đến với nó. Ca phẫu thuật thất bại. Bàn tay nó rơi xuống giường bệnh. Trước khi nhắm mắt, nó đã nói “Cảm ơn bác sĩ-những người mặc áo Blu-trắng đã cho con niềm tin và hi vọng…” Người bác sĩ ấy cầm đôi bàn tay lạnh ngắt của nó. Nó tắt thở…Ngoài kia trời bắt đầu mưa, càng lúc càng nặng hạt. Nó đã đi, mang theo bao ước mơ vẫn còn dỡ dang…….
*****
(Hậu truyện: Sau khi cô bé ấy ra đi, người bác sĩ tìm đến phòng cô, dọn dẹp mọi thứ và tình cờ phát hiện ra quyển nhật kí. Lật từng trang giấy ông thấy những dòng chữ nghiêng nghiêng, vụng về. “Chắc nó viết trong cơn đau dây mà!” Có một điều kì lạ là tất cả trang giấy đều nhòe đi. Ông ta cũng hiểu lí do…
“Ngày… tháng…năm…
…Con cảm thấy cô đơn và tuyệt vọng vô cùng…Khi biết rằng mình bị bệnh tim, con đã khóc, khóc rất nhiều đến nỗi hai mắt con sưng lên và bị đau một tuần liền…”
“Ngày…tháng…năm…
… Cảm ơn bác-người cha thứ hai của con. Cha đã thắp sáng ngọn lửa trong trái tim con, cho con niềm tin và hi vọng. Cha đã đến bên con, đỡ con đứng dậy khi con gục ngã trước bệnh tật…”
“Ngày…tháng…năm…
…Cha ơi, hôm nay là ngày cuối cùng con được ở bên cha. Con biết căn bệnh này không thể cứu chữa được nữa. Thế nhưng con vẫn hi vọng vì con luôn ghi nhớ những lời cha đã nói với con…
Cha ơi, nếu con không qua được ca phẫu thuật này thì xin cha giúp con thực hiện điều ước cuối cùng. Con muốn tặng đôi mắt mình cho những bệnh nhân cần nó. Vì con biết rằng họ cũng cần sự sống và ánh sáng. Con hi vọng họ sẽ giúp con thực hiện những ước mơ vẫn còn dỡ dang…”
Người bác sĩ ấy ngã quỵ xuống đất:Tại sao Thần Chết lại nỡ cướp con đi, lìa xa cuộc đời này? Tại sao Thần Chết lại không cho con được một lần mặc áo dài, áo Blu-trắng?…Tuy con chưa thực hiện ước mơ của mình, chưa khoác lên mình áo Blu-trắng nhưng con đã trở thành một người bác sĩ rồi đấy!Vì con có một trái tim nhân hậu và ấm áp…

.

Nguyễn Phạm Hải Dương

Lớp 10 A 4-  PTTrung Học  Quế Sơn

Ba và Kỷ Niệm

Mỗi người ai cũng có thần tượng riêng của mình. Nếu như bao đứa trẻ khác, chúng mơ về các ngôi sao ca nhạc hay siêu mẫu nổi tiếng nào đó thì với con thần tượng chính là ba-người đã sinh ra con nuôi con khôn lớn và dạy con nhiều lẽ sống ở đời mà có lẽ suốt đời con không quên.

Lúc ấy gia đình rất khó khăn, vì cuộc sống mưu sinh và lo cho con ăn học, ba đã vào tận trong Nam để làm việc. Không phải là kĩ sư, không phải là giáo viên hay một nghề trí thức nào khác, ba chỉ là một người công nhân bình thường như bao người công nhân khác. Vì thế con rất yêu ba, yêu luôn cả cái nghề ấy nũa.
Mỗi lần đi làm về, ba đều có quà cho con dù rằng số tiền ba kiếm được rất ít ỏi khi thì kẹo, quần áo mới hoặc những cuốn tập và con đã nhảy lên sung sướng. Một cô bé mới chừng ấy tuổi như con thì không thể hiểu được nỗi vất vả, cực nhọc của ba. Đối với con, những đồng tiền ba đem về là những tờ giấy có thể mua được kẹo, kem và cả sách vở nữa. Con không biết để có được tiền, ba đã đổ nhiều mồ hôi, công sức và đẫm mình dưới cái nắng gay gắt của công trường nơi đất khách.

Đôi lúc con làm sai, ba đã mắng con, đánh vào mông con một cái thật đau. Con cảm thấy ghét ba. Con trách ba tại sao làm con tổn thương. Con đâu có ngờ rằng ba làm vậy là chỉ muốn tốt cho con.
Không thể kể hết những kỉ niệm về quá khứ nhưng những kỉ niệm về ba thì con nhớ mãi. Hồi còn rất nhỏ, con nhớ có lần bị sốt rất cao. Lúc đó ba đã đến với con, ngồi bên cạnh con, chăm sóc con từng li, từng tí một.Vết thô ráp trên, chai sần trên tay ba chạm vào làn da mịn màng của con.Nỗi xót xa, ân hận trổi dậy.Bây giờ con mới biết ba đã già đi lúc nào con không hay biết.Có những lúc vô tình con đã hướng đến một điều gì đó xa vời trong tương lai mà quên rằng hiện tại tóc ba ngày một bạc thêm, tay ba chai sần hơn.Con thấy có lỗi!!!


Dù bận nhiều việc nhưng ba luôn chở con đi học đúng giờ. Ngồi phía sau ba, con luôn nghe những bài thơ, câu hát mà ba hát nhiều lần:
Hôm qua trời nắng chang chang
Mèo con đi học chẳng mang thư gì
Chỉ mang một cái bút chì
Và mang một mẩu bánh mì con con.”
Hay:
“Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà…”

Cứ như thế, con thuộc lòng những bài thơ đó. Có hôm, con và ba đọc thơ, giọng ba trầm trầm hòa với cái giọng lanh lảnh của con thật lạ.Con cười khúc khích, ba cũng cười theo. Thế là hai cha con quên đi những mệt mỏi, muộn phiền dù rằng đoạn đường về nhà còn khá xa. Chiều nào con cũng nghe tiếng bánh xe lạch cạch là con biết ba đang đến. Con mừng khôn xiết, cứ như con và ba đang gặp lại sau một thời gian xa cách. Bởi lẽ trong thâm tâm con luôn sợ sẽ có một ngày nào đó, con không còn nghe tiếng xe quen thuộc ấy nữa, con sợ một ngày nào đó ba sẽ rời xa con mãi mãi. Lúc đó chắc con sẽ khóc to, to lên và kêu tên ba trong vô vọng. Nghĩ đén đó tự nhiên con cảm thấy đau đớn vô cùng. Con không muốn rời xa ba một phút, một giây dù là trong ý nghĩ.
Phải chăng cuộc sống thời chiến đã lấy đi tất cả, gia đình khó khăn, ba không có điều kiện để học tập như bao người khác. Vậy nên bây giờ ba luôn tạo cho con môi trường học tập tốt. Có đôi lúc con ước mình trở thành một ngôi sao nổi tiếng hay một người xinh hơn. Con đã không bằng lòng với tất cả những gì mình có được. Nhưng bây giờ con không muốn những thư ấy, ước mơ duy nhất và mãi mãi của con là được ở bên ba. Ba biết không, nếu trên đời này quả thật có cổ máy thời gian của Đô-rê-mon như Fujiko.F.Fujio hay đơn giản chỉ là một sợi dây vô hình gắn kết giữa quá khứ và hiện tại thì con muốn quay về quá khứ, quay về những kí ức có gia đình chúng ta, có ba và con. Ba bảo rằng: “Các con cố gắng học, vì chỉ có học thì sau này cuộc sống của con mới hạnh phúc hơn…”Lời dạy của ba con luôn nhớ mãi, khác sâu trong tim như một lời động viên, nhắc nhở.

Người ta nói cha luôn giữ cảm xúc bên trong, ít biểu lộ ra ngoài. Ba cũng vậy. Con ít thấy ba cười. Nhìn sâu vào trong mắt ba con thấy một điều gì đó sâu thẳm, chứa nhiều bộn bề lo toan của cuộc sống. Bây giờ khi ba đã sống hơn nữa đời mình, tóc ba dần dần bạc thêm thì con mới cảm thấy ân hận và có lỗi nhiều lắm!
Sỡ dĩ con gọi ba là “ba” mà không phải là “bố” hay những tiếng gọi hoa mĩ khác vì gọi bằng “ba” con mới cảm nhận hết sự gần gũi, giản dị và tình yêu thương ba dành cho con. Ba đã cho con nhiều thứ mà những người bình thường khác không thể cho được. Hình ảnh ba sẽ luôn ấp ủ trong trái tim con, những kỉ niệm, tình cảm của ba dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng như chính linh hồn con. Ba là một phần cuộc sống của con và con muốn nói với ba rằng: “Con yêu ba nhiều lắm!!!”

.

Nguyễn Phạm Hải Dương
Lớp: 10A4
Trường THPT QUẾ SƠN

Những Dòng Vô Tận

Ta đứng bờ bên này nhìn sang bờ bên kia nước cuồn cuộn chảy!  Ta đứng bờ bên kia nhìn sang bờ bên này dòng nước quá lênh đênh!  Quay lại nhìn cuộc đời  thật kỹ thì dòng nước nào đã xô đẩy ta tới nơi đây?  Có phải hết dòng này rồi tới dòng khác ta vẫn còn lênh đênh trên sóng nước mà ngỡ rằng mình đã hết nổi trôi, có bến đậu rồi, nay tìm sang bờ bến khác.  Ta ao ước được sang bờ bên kia để thoát ly đời hiện tại!  Người bên kia lại đang tìm bờ khác, có kẻ lại muốn quay về, luẩn quẩn loanh quanh vẫn một dòng sông đang du ta vào ngõ bí, không lối vẫy vùng – Càng đi càng xa rời mái ấm!

Đứng bên này nhìn sang bờ bên kia thấy khoảng cách chẳng xa vời và bờ thì hữu hạn − Nhưng cớ sao dòng trôi thì vô tận, đưa ta đi mãi mãi không cùng.  Bờ bên kia có phải niềm mơ ta mong đạt tới, nên dấy lên tâm thức chẳng lặng dừng.  Dòng nước trôi cuốn theo trăm ngàn hỗn độn, tâm thức chẳng an bình dắt díu muôn ức chuyện bồng bềnh quá-hiện-vị lai.  Gió vừa thổi, sóng vừa dâng thì nước chẳng quân bình, phá nguyên thể trong xanh như ngọc khiết.  Vừa khởi niệm là đã xa rời ChânThiệnMỹ, dấy lên bao phiền não ở trong lòng.

Hạnh  Phúc, Khổ Đau nhanh như làn chớp – Ý niệm đổi thay thì Địa Ngục, Niết Bàn hay Thiên Đường cũng gần trong gang tấc.  Vậy tại sao không dứt bờ bên này, bờ bên kia để dòng sông không còn là cuồng lưu, nước lũ.  Tại sao không dứt gió dậy trong lòng cho sóng không nổi, dòng trôi lắng bặt, nước trong vắt một màu, hòa trong nhất thể, để cảm được niềm vui đang rộn rã trong lòng.

Này sông, này biển, này núi, này đồi, này trời, này đất, này bờ, này bến, người người, vật vật biến đổi khôn lường, trăm muôn ngàn dạng, nhưng nào có liên hệ gì tới Tâm Không luôn sáng ngời bất động, chưa từng sinh mà cũng chưa từng diệt.

Đứng bờ bên này trông sang bờ bên kia, dòng sông vẫn cuồn cuộn chảy — dầu hữu hạn, dầu vô cùng – trước đó trong con mắt ngập tràn sương khói, thấy muôn ngàn cách biệt, lúc này đây sự sự giao hòa, đâu chẳng là Thiên Đường, đâu chẳng là Niết Bàn, cần chi phải xa vời tìm kiếm − Mây trắng trên cao, cỏ hoa dưới đất – đâu đâu chẳng hiển bày chân lý − Tâm cố tìm cầu, đất trời xa cách, chỉ trong đường tơ kẽ tóc, hố thẳm lại sa vào.

Ngã hay Vô Ngã đều là danh tự!  Có hay Không hai thể đều lìa – Lìa cả Cái Lìa — Tâm Không — Vô Trụ.  Đó mới chính là Chỗ Không Cùng, ngữ ngôn đạo đoạn.  Còn gì phải nói, phải bàn, phải trông, phải ngóng.

Đó chính là Đạo, là Chân Như, là Niết Bàn, là Phật Tánh – Hay chính là Chân Nhân, Thượng Đế…  Gọi sao cũng thấy dư thừa!  Chỉ cảm nhận một điều là Thương Yêu – Bình Yên – Trí Tuệ, ba thể không lìa — Sóng chính là nước, nước chính là sóng — Không có gì cách ngăn – Và niềm vui vẫn dâng tràn trên sóng nước…
.

Từ Phong

Cảm tác theo câu thơ” … Bờ hữu hạn mà dòng trôi vô tận…”

( Nguồn: Thiền viện Đại Đăng)

Tết Miệt Vườn

Không khí bắt đầu từ những gốc mai ấy đấy. Khoảng giữa tháng Chạp là người ta dứt lá cho mai và sau đó, cành nhánh trơ trụi của nó có cái gì trọng đại sắp bắt đầu.

Một gốc mai ở giữa sân, đó là nhu cầu, thói quen và cũng là biểu hiện của văn hoá và may mắn. Ngày thường, mai chỉ là loại cây xanh uốn nắn được, nhưng ngày tết, ánh vàng và sức nở tưng bừng của nó mới thật bất ngờ. Những nhà có cụ ông nhìn vào rất dễ biết, vì gốc mai của họ được chăm sóc công phu, trông chúng y như một ông chủ điệu nghệ: tỉa gọt đấy nhưng vẫn xù xì một cách phong sương và khí phách.

Nước trong sông rạch đầy dần sau mỗi con triều. Đã qua mùa lụt, phù sa đã nằm sâu ở vị trí mà thiên nhiên đền bù cho con người, nước trong vắt leo lẻo gọi là mùa nước bạc. Thế rồi, cùng với thứ gió se se ngọn dừa, với màu nắng tươi như mật loãng, với tiếng trống lân sập sận chuẩn bị, Tết đã áp sát một bên.

Thật ra, Tết đã đến rục rịch đến từ sau mùa gặt, khi lúa hạt đã vào bồ nhường sân cho những chiếu bánh phồng san sát. Tuần bánh nhộn lên trước lúc đưa ông táo về trời và kéo dài cho tới ngày giáp cuối. Nếp hạt hoặc khoai mỳ (sắn) sẵn trong nhà, xôi chín lên trong nước cốt dừa rồi đưa vào cối, những chiếc cối của thời gạo giã được giữ lại chuyên cho bánh phồng. Cả xóm thức liên miên cùng với nhịp chày và tiếng giỡn hớt thả cửa của cánh chị em đi cán bánh vần vông. Đấy là dịp duy nhất họ quây quần bên nhau náo nức với cái gì đó rất chung nhưng hoàn toàn không giống với việc cấy gặt ngoài đồng. Cánh đàn ông cũng bị dựng dậy thay phiên cầm chày, trong lúc chờ đến lượt, họ lặng lẽ hút thuốc, thỉnh thoảng độp vào câu chuyện ngồi lê của cánh đàn bà bằng những câu đùa độc địa khiến con nít cũng bị lôi cuốn ra khỏi mùng. Thế là chúng biến thành cánh chạy bánh đắc lực từ người cán tới người phơi bánh. Không có loại việc nào lôi kéo được tất cả mọi người như việc làm bánh phồng.

 

Đã nhìn thấy vết thâm quầng đáng yêu trên mi mắt các bà các cô. Nhưng nào họ đã thôi trò thi đua bánh mứt. Nếu các đức ông coi việc chăm sóc cửa nhà, mai kiểng, lân pháo là nghĩa vụ đối với Tết thì cánh đàn bà ra sức làm sống lại nghề bánh khéo đã từng mai một bởi chiến tranh. Bánh kẹp cuốn ống ngậy hương vị nước cốt dừa nầy, bánh gatô cải biên đúc bằng khuôn mỏng hình trái tim nầy, bánh thuần nướng trong nồi cát này, bánh bưa kem đường nàỵ.. để đề tài bánh trái sẽ đậm đà hương vị thăm hỏi nhau của cánh chị em trong ba ngày Tết, để tếng khéo đồn xa”, để được “tết thì tết cả xóm”.

 

Còn có một loại bánh dân tộc không thể thiếu với người miệt vườn. ấy là bánh tét cải tiến từ bánh chưng thời Nguyễn Huệ thần tốc trên lưng ngựa. Đòn bánh tét là lễ với tổ tiên, là chữ hiếu với cha mẹ, là nghĩa thày trò, là miếng điểm tâm sáng ngày mồng một, là quà quê cho con cháu ở xạ Gói bánh tét không dễ vì không phải ai cũng đặt đúng cái nhân đậu mỡ ở giữa và phải niềng sao cho hai đầu cân nhau và các nuộc lạt bóng lên tăm tắp. Qua đòn bánh, người phụ nữ nhà đó được xem xét, không chỉ việc khéo vụng mà còn xem có nền nã, chặt chẽ hay không bao giờ ra bánh, người ta cũng treo thành sào cạnh bồ lúa trông thật ấm áp. Có nhà còn gói thật nhiều bánh, ngâm chúng trong nước sạch để ra giêng ăn dần.

Vẫn còn thiếu nghiêm trọng nếu như Tết ở miệt vườn chưa có mét dừa, thứ vật liệu cây nhà lá trời mênh mông. Dừa được chọn kỹ như thể chọn dâu: dừa cứng, mứt có mùi dầu, khô và vô duyên, dừa ướt, mứt ỉu, ăn thấy chán. Những nhà có thẩm mỹ tinh tế thường chỉ pha vào mứt hai màu, hồng phấn và trắng tinh, trông chúng gợi cảm như thiếu nữ. Chưa đủ, chỉ mỗi thứ mứt dừa thì hộp mứt tết sẽ nghèo nàn lắm, vì vật họ còn thi nhau làm mứt bí, mứt me, mứt cà, mứt gừng, mứt khế, và cả những thư tưởng không thể nào thành mứt được như trái khổ qua (mướp đắng) chẳng hạn. Cầm chúng lên, dù thực khách là gã đàn ông kiêu ngạo, bất cần hay chai sạn cũng phải mềm lòng trước sự kỳ diệu của đôi tay, khối óc và tâm hồn người đàn bà.

Thời gian đã chạy bứt lên khiến con người lao muốn đứt hơi theo nó. Người ra chợ, quả cây ngũ sắc đầt ắp ghe thuyền, tiếng máy đuôi tôm dào dạt bờ sông. Người ở nhà gấp rút đưa tất cả những thứ cần giặt giũ ra sông, tiếng đập chiếu trên mặt nước âm âm nghe thật thúc hồi. Có tiếng réo nhau vào hội, cứ mươi nhà thì hùn nhau vật một con heo sẵn trong chuồng của nhà ai đó, ai không tiền mặt cứ việc đưa thịt về ăn tết đã, ra năm tìm cách tính sau. Trẻ con bưng bê gì mà xuôi ngược hấp hởi vậy? Thì ra, nhân ngày áp chót, người ta tranh thủ đưa biếu nhau những thứ quả chỉ có ở vườn mình để sau ngày ba mươi thì không ai động đến cây và trái nữa, chính là để chúng được yên lành hưởng chọn lộc xuân như con người .

 

Bữa cơm chiều ba mươi thật hệ trọng với từng nhà như khắp mọi nơi trong đất nước. Chỉ khác là tổ tiên luôn được ở trong vườn nhà, vì vậy, trước khi rước ông bà vào mâm cỗ thì nấm mộ phải sạch cỏ, phải khang trang. Bận rộn đến mấy, nghĩa cử này thường không được chậm trễ và, khi nén nhang cong trên bàn thờ, con cháu mừng hơn được vàng vì thế là ông bà đang về đấy, đang phù hộ cho con cháu đấy, nhất định năm mới sẽ may nhiều dữ ít. Như con người vừa được an ủi.

 

Công việc của cánh đàn bà nào đã xong. Trong ánh lửa bập bùng từ nồi bánh tét bên góc sân, còn phải quét sân trước sân sau để ra ngoài mồng thì đố dám động chổi. Còn phải tắm táp cho lũ nhỏ để chúng được ngủ trong mùi vải mới. Trong ý tưởng trẻ thơ, tối giao thừa được mặc quần áo mới thì năm sau sẽ mau lớn.

 

Cuối cùng việc nhà cũng phải chấm hết. Trong mệt mỏi ngọt ngào, các bà các cô mang đèn dầu xuống bờ sông, giấu chúng vào bụi cây để hé ra ánh sáng mập mờ, ấy là bữa tắm chậm rãi nhất, long trọng nhất của họ trong vòng mấy trăm ngàỵ Họ ngụp sâu trong nước mát, nhẩn nha giữa qúa khứ và tương lai, bởi tâm tư họ đang bước đến giao thừa. Họ bước lên, quần áo tóc tai cẩn trọng trong căn nhà bỗng như mới bừng lên, trên chiếc gối còn thơm mùi xà bông mùi nắng, bên cơ thể thơm tho của lũ trẻ, họ thả lưng thư giãn một cách trang nghiêm. Có biết bao điều ập đến, biết bao nỗi buồn được tiễn đưa và cũng biết bao mơ ước được gọi dậy, ấy là lúc họ tẩy trần đầu óc và tâm hồn vốn bình dị của họ.

Rồi bước chân tời gian như vừa khởi động và đang tràn sầm sập qua xóm vắng. Người già dậy trước bật hết đèn lên, chốc sau đã nghe mùi bánh phòng toả ra từ bếp lửạ Giao thừa bao giờ cũng phải có phồng trên bàn thờ. Không khí bắt đầu ngầy ngà khắp xóm trẻ con bật dậy sà ngay vào trò chơi pháo chuột, như chùng chưa hề chợp mắt, còn các cụ bà thì lần ra sân bái lạy đủ bốn phương tám hướng. Đêm đen sóng sánh, cây trong vườn trầm mặc và con sông như bát ngát rạ Có cái gì đang dừnglại trong mỗi con người, bịn rịn ngậm ngùi, rưng rưng. Buổi giao thừa ở quê thường không có mấy truyền hình, người nhà ai nấy tụm vào quanh ông bà mình nghe chuyện xửa chuyện xưa chờ cho nhang tàn để đưa lộc từ trên ban thờ xuống bắt đầu nhấm nháp. Bấy giờ người ta mới thấm mệt như có cái gì đó ghê gớm xuyên qua, xâu chuỗi người ta lại và cũng đặt người ta vào vòng quay chóng mặt nhưng vô cùng thú vị.

 

Sáng mồng một nhà nào cũng dậy muộn, trừ một vài người lớn phải cũng kiến cho ông bà. Trẻ con lăng xăng với bộ quần áo đẹp nhất, nhẩm trong đầu những câu chúc thọ người lớn sao cho được khen và được cả tiền lì xì. Xống áo thanh niên bắt đầu chộn rộn đường quê, cũng chừng ấy mẫu mã thời trang thị thành, chỉ khác là màu nổi hơn để chứng tỏ với chung quanh sự hiện diện của mình. Người đứng tuổi ra đường vào buổi xế, bấy giờ rượu mới là thứ được việc để người ta nhìn nhau thoải mái sau bao nhiêu va chạm ngày thường, để những câu chúc nhau cháy đượm.

 

Mồng hai Tết mới thực sự là ngày của hỉ xả. Thường người ta góp nhau sắm lân sắm trống từ rất sớm, mỗi xã một đội. Người thủ vai lân phải khoẻ, phải có bước nhảy mang tinh thần thượng võ, còn ông địa thường là cậu bé con sôi nổi, cũng có khi là một bà goá có tính chọc trời khuấy nước. Cả xóm được một ngày vui, một ngày cười, cả lân, cả địa thường được thưởng rượu để bước chân tròng trành hơn.

 

Ngày mồng ba đánh thức mọi người dậy sớm như nhau. Sau khi cúng tất niên bằng chú gà giò, người ta săm soi bộ chân nó để xem thời vận và treo nó ở hàng hiên để khoe với hàng xóm. Cũng là ngày bọn trẻ đổ ra đường khệ nệ mang lời chúc của gia đình và bánh trái đến mừng tuổi thầy cộ Phong tục cổ truyền ấy đã làm cho ngày cuối cùng của dịp tết bừng lên một lần nữa, thiêng liêng rộn rịp không kém gì ngày ba mươi vừa qua.

Hết Tết, xóm ấp rã rượi một cách ngọt ngào như cô dâu sau tuần trăng mật. Đó là sự kỳ diệu mà tổ tiên và thiên nhiên cùng bạn tặng để mỗi năm một lần con người trở lại với giá trị hằng của mìn: thanh sạch, vị tha, giao hoà và mơ ước.

.

Dạ Ngân

 

Vân Đài Loại Ngữ và Địa Lý

Ai cũng biết ông Bảng Lê Quí Đôn là một học giả thông kim bác cổ.
Mục đích lớn của những nhà khoa bảng xưa là đem cái sở học của mình mà bình thiên hạ.
Trong hành xử của mình, Lê Quí Đôn không giấu nổi khát vọng lớn ấy.
Nho y lí số vốn là sở học căn bản của những ai đã gồm thông tứ thư ngũ kinh, đã lặn lội cùng bách gia chư tử.
Là quan Bảng nhãn, Lê Quí Đôn rất hiểu vai trò của địa lí đối với một nhà chính trị.Địa lí là hình sông thế núi, là cư dân điền thổ, là nguồn lực nguồn lợi từ con người đất đai mà ra.

Quyển ba của Vân Đài Loại Ngữ, luận về khu vũ, nhiều lần nhà nghiên cứu uyên thâm này bàn về điều ấy. Tiêu biểu ông viết: “ Nhà Hán dựng nên, Tiêu Hà thu lấy những bản đồ và thư sách của nhà Tần. Hán Cao Tổ được những đồ thư ấy mà biết đầy đủ số nhà cửa, số dân chúng nhiều hay ít, mạnh hay yếu và những nơi hiểm yếu trong thiên hạ.”
Không chỉ thuần lí, Vân Đài Loại Ngữ rất chú trọng đến sức mạnh siêu nhiên hợp thành từ long mạch đất đai, điều này tạo nên những luận bàn hấp dẫn kích thích trí tò mò người đọc ngày nay.

Theo quan niệm của ông thì địa lí có quan hệ với việc hình thành tính cách con người. Ông trích lời Tống Kì viết trong bút kí :
“ Miền Tây Bắc là phương cứng mạnh của trời đất, hùng vĩ tôn kính mà nghiêm trang, cho nên bậc đế vương thường khởi lên ở miền Tây Bắc.
Miền Đông Nam đất mỏng mà nước cạn, cho nên sản vật ở đấy dồi dào, của cải ở đấy giàu có, nhân vật ở đấy lanh lẹ mà không trọng hậu, ăn uống xa xỉ mà sống cẩu thả, kẻ sĩ thì yếu đuối mà ít cương quyết.
Miền Tây Bắc đất cao mà nước lạnh buốt, cho nên sinh vật ở đấy ít ỏi, của cải ở đấy nghèo nàn nhân vật ở đấy cương nghị mà gần như ngu ngốc, ăn uống đạm bạc mà sống siêng cần, kẻ sĩ ở đấy thâm trầm trọng hậu mà ít trí huệ.”
Đặc biệt là niềm tin vào tác động siêu nhiên từ long mạch đến hưng vong của các triều đại.

Khảo cứu lịch sử các triều đại phương Bắc, Lê quí Đôn trưng ra nhiều bằng chứng hấp dẫn. Từ việc chọn con đất mà lập kinh đô đến việc coi vượng khí còn dài hay ngắn mà dời đô giữ nghiệp. Lại có những bậc đế vương không tường địa lí, không nghe mưu thần dẫn đến vận khí trơ cạn, mất nước!
Ví dụ: Quách Phác nhận thấy Kim Lăng vượng khí chưa dứt, còn 300 năm nữa, bèn dời đô về Kiến Khang.

Chùa Linh Mụ

Triều Nam Tống đóng đô ở cửa biển Lâm An, dòng nước Đông Nam sớm tối có hai con nước thủy triều. Trong niên hiệu Gia Hy thứ 4 đời vua Lí Tông nhà Nam Tống, cát bồi, thủy triều bị tắc nghẽn. Ngô Tiềm xin dời đô về Bình Giang, vua Tống Lí Tông không chịu nghe theo, thì vừa hơn  hai mươi năm sau nhà Nam Tống đầu hàng nhà Nguyên.
Sở đắt cái học dịch lí, bản thân ông Lê quí Đôn cũng để lại một bằng chứng kinh hồn. Khảo cứu hình sông thế núi đất Tây Sơn năm 1776, ông tâu cùng chúa Trịnh: “Tây Sơn có đất thiên tử, 12 năm nữa sức mạnh của họ sẽ không có ai chống nổi . Đại tướng trấn ở Thuận Hóa e không phải là đối thủ của họ, xin Chúa để ‎mắt đến” .Nhưng chúa Trịnh Sâm cho là lời quá đáng không hề lưu tâm.

Câu chuyện địa lí của người xưa thật quá huyền bí, thật thiên nan vạn nan với người đời nay. Không dám lạm bàn, chỉ là góp thêm đôi chứng cứ vui vui.
Lí Công Uẩn xưa nhân thấy thế đất rồng cuộn hổ ngồi và hình tượng rông bay lên mà dựng kinh đô ở Thăng Long.
Chúa Nguyễn Hoàng được thần nhân chỉ cho thế đất có phong có thủy linh biến bảo triều mà dựng kinh đô ở Huế, lại xây chùa Thiên Mụ để ghi ơn thần  nhân.

Điện Kính Thiên, Thăng Long xưa

Một người anh của tôi vốn am tường thiên văn địa lí nhân nhàn đàm cùng tôi mà bảo: Long mạch quan trọng nhất là chổ con nước chầu về, bình lặng mà không ngưng trệ là thế tốt. Trong các triều đại khi thay bậc đổi ngôi thường bạo sát, duy triều nhà Nguyễn truyền đến 9 chúa 13 vua kể là khá lâu, vậy mà khi mất ngôi thì con cháu vẫn đường hoàng yên ổn, ấy là nhờ vào dòng Hương linh thể, bình lặng mà không ngưng trệ! Lại bảo: Anh xem vượng khí ở cố đô Huế chưa dứt, tương lai thế nào cũng có bậc lãnh tụ lớn cho mà xem!
Lại bảo nhà Tây Sơn tìm được thế tốt nhưng đất ác, bạo phát bạo tàn. Vậy nên chóng tan mà hậu về sau tàn khốc.
Anh vẽ lên hình một cuộc đất ở Bảo Lộc mà anh đã chiêm nghiệm, có long hổ bao bọc đủ chín tầng, rồi trầm ngâm: Nguyên thủ Đông Dương sẽ phát từ đất này!

Thôi thì kính nhi viễn chi, mình có hiểu mô tê gì đâu mà quả quyết. Chỉ là vui chuyện vậy!

.

Nguyễn Tấn Ái.

Thời gian và cái đồng hồ

Thời gian, thì giờ là một đề tài xưa như trái đất và to như cái đình !

Không có thời gian thì có lẽ con người cứ trơ trơ như đá. Sướng, khổ chẳng còn bận tâm. Biết đâu cuộc đời lại chẳng còn là cuộc đời…

Bàn về thời gian thì có thể bàn…hết năm này sang năm khác, bàn cho đến khi ” Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc “…cũng chưa chắc đã đi tới đâu. Nhưng vẫn thích bàn. Triết gia, nhà khoa học, văn nghệ sĩ ngày ngày thi nhau bàn.

Thời gian là cái gì mà làm cho người ta say mê bàn như vậy?

Chả là cái gì cả ! Chưa ai thấy mặt mũi thời gian ngang dọc ra sao.

Nhưng phải nhắm mắt thừa nhận rằng thời gian rất hấp dẫn, rất quan trọng.

Chả thế mà khắp đông tây nam bắc, từ thời thượng cổ đến tận bây giờ, người ta thi nhau sáng chế máy này máy nọ để đo thời gian. Người ta rủ nhau đi đo cái vô hình vô ảnh. Đo cái mà mắt trần không thấy được.

Các thứ máy đo thời gian, thô sơ hay tinh xảo, to hay nhỏ, ta đều gọi chung là đồng hồ.

Theo truyền thuyết thì người Trung Quốc đã biết dùng đồng hồ nước từ đời Hoàng Đế (khoảng 2500 năm trước tây lịch). Một nghìn năm sau (1500 năm trước tây lịch), người Ai Cập mới sáng chế đồng hồ cát(clepsydre). Phải chờ thêm hơn 2000 năm nữa, vào khoảng năm 1300 tây lịch, người Âu mới có đồng hồ có bánh xe. Năm 1904 xuất hiện đồng hồ đeo tay, và mới từ vài chục năm nay lại có thêm đồng hồ quartz, đồng hồ điện tử, đồng hồ nguyên tử.

Đồng hồ nước, đồng hồ cát mỗi giờ sai một hai phút đã được gọi là tốt, là chính xác. Đồng hồ đeo tay, đồng hồ quartz một ngày sai vài giây đã bị chê là tồi. Nghe nói đồng hồ nguyên tử có tệ lắm thì một năm cũng chỉ sai chưa tới một giây.

Có lẽ chả bao giờ các ông các bà ngồi bàn giấy phải dùng tới đồng hồ nước để tiếp khách. Các cô các cậu chẳng cần đồng hồ nguyên tử để hẹn hò !

Chuyện ngày giờ, năm tháng, lịch ta lịch tây mênh mông bát ngát quá (Hoàng Xuân Hãn, Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa Học Xã Hội, Paris, tháng 2/1982), không dám nói leo. Chỉ xin dựa cột, ngắm cái đồng hồ được dùng tại nước ta.

Vậy xin hỏi nước ta biết dùng đồng hồ từ bao giờ ?

Dạ, không biết !

Vô duyên !

Chỉ biết rằng xưa kia ta dùng đồng hồ nước của Tàu. Nguồn gốc cái đồng hồ này được Lê Quý Đôn kể như sau :

” Cái đồng hồ gồm có 3 từng, tròn và đều có bề kính 1 thước đặt trên cái thùng hứng nước có góc vuông, có cái vòi rồng phun nước vào cái thùng hứng nước, nước chảy xuống dưới một cái cừ đặt ngang, trên nắp có đặt một hình người đầy đủ áo mão đúc bằng vàng gọi quan Tư Thì (coi về giờ khắc), hai tay cầm một cây tên. Đó là phép lậu khắc của Ân Quỳ.

Lấy đồng làm một cái ống hút nước (khát ô, con quạ khát nước) hình trạng giống như một cái móc uốn cong dẫn nước chứa đựng cho chảy vào một cái vòi rồng bằng bạc, phun vào cái đồ tưới (quán khí), nước rỉ chảy xuống 1 thang cân nặng 2 cân thì trải qua một khắc. Đó là phép lậu khắc của Lý Lan “. (Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, tập 1, bản dịch của Tạ Quang Phát, Văn Hóa-Thông Tin, 1995, tr. 98-100).

Cái đồng hồ nước được Lê Quý Đôn miêu tả chữ Hán gọi là khắc lậu.

Lậu nghĩa là nước rỉ ra, khắc là vệt khắc trên cái que.

Nước từ bình trên rỉ thành giọt rơi xuống bình dưới. Dùng một cái que có khắc vạch để đo mực nước và theo đó mà tính giờ.

Một ngày được chia thành 12 giờ (tí, sửu…tuất, hợi). Giờ được chia thành khắc (một khắc gần bằng 15 phút của đồng hồ ngày nay). Đêm được chia thành 5 canh (canh một, canh hai…). Làng xã ngày xưa tổ chức việc canh gác, đổi phiên theo canh.

Trong lĩnh vực văn chương, có lẽ Nguyễn Trãi (1380-1442) là người đầu tiên tại nước ta, nói tới cái khắc lậu(gọi tắt là lậu) :

Vi sảnh thoái qui hoa ảnh chuyển
Kim môn mộng giác lậu thanh tàn
(Khi ở Vi sảnh lui về thì bóng hoa đã chuyển
Ở Kim môn mộng tỉnh thì tiếng lậu đã tàn)
(Nguyễn Trãi toàn tập, KHXH, 1976, tr. 301-302).

Sau Nguyễn Trãi, vua Lê Thánh Tông cũng có nói tới cái khắc lậu:

Kế lậu canh mấy khắc dư
Đêm dài đằng đẵng mới sang tư …
Canh chầy đèn hạnh lâm dâm
Xao xác lậu canh trống điểm năm…
(Hồng Đức quốc âm thi tập, Văn Học,1982, tr. 61-62)

Sang thế kỉ 18, khắc lậu vẫn còn được dùng :

Đêm thâu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương (Nguyễn Du, Kiều)

Taberd giải thích khắc là cái mặt đồng hồ ngày xưa; Khắc lậu là mặt của chiếc đồng hồ bằng nước. (Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều, KHXH, 1989).

Người Tàu gọi cái đồng hồ nước là khắc lậu trong khi Taberd lại cho rằng khắc lậu chỉ là cái mặt của đồng hồ. Tây đúng, Tàu sai hay Tây nhầm, Tàu có lí? Phải nhờ đến Ta chuyện mới xong!

Tấm tranh dân gian Đồng hồ nước cho thấy hai cái bình, hay cái bình và cái chậu hứng, cả hai đều tròn xoay, đứng phía nào cũng thấy giống nhau. Như vậy thì đâu là mặt, đâu là lưng?

Các tác giả đều dùng chữ lậu hay khắc lậu để chỉ toàn bộ cái đồng hồ, cái máy đo thời gian, chứ không chỉ riêng cái mặt đồng hồ.

Định nghĩa của Taberd thiếu chính xác. Hú vía cho Tàu ! Suýt bị Tây sửa Hán văn. Lục tìm trong một số thơ văn xưa của ta thì thấy rằng tên khắc lậu được dùng trong cả thơ văn chữ Hán và chữ Nôm, còn tên đồng hồ thì chỉ thấy dùng trong văn thơ Nôm và quốc ngữ.

Từ đó có thể suy đoán rằng tên đồng hồ là do người Việt đặt ra.

Đồng hồ nghĩa là cái bình bằng đồng. Từ ngày cái khắc lậu Việt Nam được làm bằng đồng thì ta gọi nó là cái đồng hồ. Tên đồng hồ có trễ nhất cũng là từ đời Hồng Đức (1470-1497).

Cường điệu một chút thì có thể nói rằng cái đồng hồ muốn chứng tỏ tinh thần độc lập đối với cái khắc lậu.

Nước cạn đồng hồ canh chuyển hai
Đêm dài đằng đẵng tựa năm dài
(Hồng Đức quốc âm thi tập, sđd, tr.64)

Mắt chưa nhắm đồng hồ đã cạn
Cảnh tiêu điều ngao ngán dường bao
(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán)

Con kì đà len lỏi giếng khơi
Sơn lâm rầu rĩ, giọt đồng hồ sang canh
(Dân ca Quan họ Bắc Ninh)

Cá buồn cá lội thung thăng
Người buồn, người biết đãi đằng cùng ai?
Phương đông chưa rạng sao mai
Đồng hồ chưa cạn, biết lấy ai bạn cùng?
(Ca dao)

Nước cạn, giọt đồng hồ…đều chỉ rõ cái đồng hồ nước.

Năm 1602, người Âu Tây mang vào Trung Quốc một số máy móc như Thiên lý kính (kính xem thiên văn), Tự minh chung (đồng hồ tự động khua chuông báo từng giờ)… (Vân Đài loại ngữ, sđd, tr. 223).

Khoảng đầu thế kỉ 18, tự minh chung xuất hiện ở nước ta.

” Từ-tâm bá ở Thiên văn nội viện trước có một cái đồng hồ do họ Nguyễn giao cho sửa chữa, như dáng chùa Phật, cao chừng một thước (…).

Từ-tâm bá lần lữa đến bao năm không chịu chữa. Tháng 5 năm bính thân có người khách ở Ma Cao tên là Tài Phú nói y hiểu đồng hồ, gọi hỏi thì y nói tuổi già không thể làm được. Lại có người xưng là thợ kính của họ Nguyễn trước là thủ hợp Chiêu-tài nam Nguyễn Văn Tú có thể làm được, bèn sai theo phép mà làm, mười ngày thì xong. Văn Tú lại chế tạo một cái đồng hồ hạng trung, cũng theo thức trên, trong bớt đi 5 bánh xe và 6 quả chuông nhỏ, cùng một đường dây, cho nên không đánh khắc mà chỉ đánh giờ. Đo với bóng của mặt trời mà nghiệm thì rất đúng, không sai. Văn Tú là người xã Đại Hào, huyện Đăng Xương. Khi nhỏ học ở nước Hòa Lan, học hai năm biết được nghề, có thể chế các hạng đồng hồ và làm được kính thiên lí rất khéo. Đã 74 tuổi mà sức mắt như lúc trẻ. Em là Văn Thi, con là Văn Duy, con rể là Lương Văn Dũng, cả nhà đều biết nghề (…) “.
(Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, KHXH, 1977, tr. 326-329).

Đồng hồ Tây phương còn được gọi bằng nhiều tên khác như thì thần biểu (Génibrel), kế thì chung, chung biểu. Chung nghĩa là cái chuông. Kế thì chung, chung biểu là đồng hồ có chuông báo từng giờ hoặc chuông báo thức.

Năm 1884 nước ta bị Pháp đặt nền bảo hộ. Cái đồng hồ nước bắt đầu bị đồng hồ của Pháp cạnh tranh.

Sang đầu thế kỉ 20, số người dùng đồng hồ báo thức của Pháp chắc cũng đã khá nhiều. Điều này được nghệ sĩ dân gian ghi lại qua tấm tranh Chỉnh tu chung biểu (Sửa chữa đồng hồ), vẽ một cửa hàng sửa chữa đồng hồ được khai trương tại Hà Nội vào khoảng năm 1908.

Ít năm sau có thêm đồng hồ quả quýt bỏ túi, rồi đồng hồ đeo tay.

Từ đây, đêm đêm :

Ngó trên án đèn xanh hiu hắt
Nghe tiếng kim…ký cách giục giờ
(Tản Đà, Đêm đông hoài cảm)

Đêm khuya không còn nghe tiếng nước nhỏ giọt thánh thót, mà chỉ nghe tiếng kim kí cách, tiếng tích tắc đều đặn của cái đồng hồ quả lắc hay đồng hồ báo thức để đầu giường, đầu tủ.

Trong lúc thôn quê còn tiếp tục quan sát ” gà gáy “, ” gà lên chuồng “, ” mặt trời cao bằng con sào “, ” mặt trời xế bóng “…thì thành thị đã kháo nhau dùng đồng hồ tối tân có kim chỉ giờ, chỉ phút, chỉ giây, có cửa sổ ghi ngày, ghi thứ.

Chỉ được cái vỏ, cái mã bề ngoài !

Thực chất thì các bàn giấy, công sở vẫn còn…” câu giờ “, dùng…” giờ cao su “. Thậm chí…chẳng cần giờ giấc.

Thời gian là cái thá gì mà phải tôn trọng nó?

Khắp nơi, người ta đang đua nhau ” giết thì giờ ” kia kìa!

Tội nghiệp cho thời gian, rơi vào tay phường giá áo túi cơm.

Chỉ có văn nghệ sĩ mới nâng niu, e ấp thời gian.

Me có hay chăng con về?
Chiều nay thời gian đứng im để nghe
Nghe gió trong tim tràn trề
Nụ cười nhăn nheo bỗng dưng lệ nhoè
(Phạm Duy, Người về)

Thời gian đứng im để nghe, cảm động và dễ thương biết mấy! Đâu có hãm tài như cái đồng hồ đứt giây cót, nằm ì.

Cô gái thủ đô ơi
Tôi muốn bên cô trọn kiếp người
Tôi muốn thời gian chìm đắm mãi
Để tràn âu yếm cả lòng tôi
(Lê Minh, Nắng rơi)

Nhưng…

Thì giờ thấm thoắt thoi đưa… Ôi, cuộc vui sao chóng tàn !

Biết bao nghệ sĩ đã từng rung động, cảm nhận được hương sắc…

Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngắt
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh...
(Đoàn Phú Tứ, Màu thời gian)

…và cả sức nặng của thời gian :

Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rớt một dòng buồn tênh
(Lưu Trọng Lư, Thơ sầu rụng)

Nhưng chưa có ai đạt thành tích nắm giữ được thời gian.

Đôi lúc các nhà tạo hình, hoạ sĩ ” giận cá chém thớt ” lôi cổ cái đồng hồ ra bóp méo, vặn cong, bẻ kim, để bày tỏ cơn giận hờn thời gian.

Sách Thần tiên kí kể chuyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu lạc vào Thiên Thai, gặp tiên. Hai chàng sống với tiên được nửa năm thì nhớ nhà, trở về quê cũ.

Quê hương đổi thay. Tất cả đều xa lạ. Con cháu đã đến đời thứ 7.

Chẳng còn nhớ đến khúc nghê thường
Một phút chiêm bao một phút thương…
(Tiên tử hoài (nhớ) Lưu Nguyễn,
Hồng Đức quốc âm thi tập, Văn Học, 1982, tr. 102)

Một phút cõi tiên bằng cả ngày cõi trần !

Tiếc rằng đời Hồng Đức ta chưa đo được phút.

Chữ phút ngày nay có nghĩa là đơn vị đo thời gian, đo góc độ. Chữ phút còn được dùng để chỉ một khoảng thời gian rất ngắn. Nghĩa này đến từ chữ Khơ Me p’ot nghĩa là đột nhiên, một giây lát rất ngắn (Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều).

Chữ phút của câu thơ trong Hồng Đức quốc âm thi tập bị đọc sai  hay được dùng với nghĩa gốc Khơ Me ngay từ thế kỉ 15?

Từ ít năm nay, nhiều người Việt thích tụng bài kinh cứu rỗi ” Thì giờ là tiền bạc “, với niềm tin ” Có tiền mua tiên cũng được “.

Cũng may, Đông và Tây chưa hoàn toàn giống nhau. Nhờ vậy mà nước ta vẫn còn dăm ba nàng tiên bằng da bằng thịt. Không phải tiên…huyền hay tiên…mĩ viện !

Thời gian có mặt khắp nơi nhưng lại tuỳ nơi, tuỳ cảm xúc chủ quan của mỗi người mà co dãn thoải mái.

Người đời thử ngẫm mà hay
Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê
(Tản Đà, Đời đáng chán)

Một ngày vui sướng trên cõi tiên dài bằng cả một năm đầu tắt mặt tối dưới cõi trần.

Nhưng chưa dài bằng thời gian trai gái nhớ nhau.

Xin đừng ra dạ Bắc Nam
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề

Một ngày không thấy nhau tưởng như đã ba năm.

Ba năm có thấm thía gì so với cái ” không có gì quý bằng “.

Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại

Một ngày mất tự do dài lê thê như hàng chục kiếp sống đọa đày.

Thời gian mờ ảo, lung linh…

Trễ rồi, đứng dậy lo cơm nước đi chớ !

Ờ nhỉ !

Rốt cuộc, bàn về thời gian chỉ…mất thì giờ!

Nguyễn Dư

Lyon, 2005

Ngôi Chùa Vỏ Sò Kỳ Quan

Pei Khe Miao là tên gọi tiếng Trung quốc cho ngôi chùa độc nhất vô nhị  tạo nên hoàn toàn bằng vỏ sò. Đó là một công trình kiến trúc lạ thường nhất thế giới nằm trên những ngọn đồi gần San Chih ở phía Bắc Đài Loan. Đền thờ này có cái tên rất dài  là Wat Arunratchawararam Ratchaworamahavihara.

Ngôi chùa này được xem như một kỳ quan của thế giới. Tất cả hình cẩn và khảm trên tường đều bằng vỏ sò và san hô.   Vỏ sò và các đồ sứ được dùng để  tạo nên các kiểu ghép khảm trước đây được các tàu đi từ Trung Quốc sang Bangkok dùng làm đồ dằn tàu cho thăng bằng.

Công trình kiến trúc vỏ sò  này  làm biết bao  người xem sững sờ
Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan

Temple of the Dawn  Seashell Temple Taiwan


Seashell temple in Taiwan Seen On www.coolpicturegallery.net

Mời các bạn xem file video về ngôi chùa này

Huỳnh Huệ

dịch từ The Amazing Seashell Temple in Taiwan

Nghề Ươm Ước Mơ

Mười hai năm em cắp sách đến trường nếu tính cả 3 năm học trường mẫu giáo , chừng ấy năm em cùng đi trên một con đường ấy nhưng cứ 3 năm, 5 năm, 4 năm năm một em lại đi trên 3 hướng khác nhau như ba ngã rẽ lớn của cuộc đời tôi. Trong 3 ngã ấy em đều được đưa đến cả 1 thế giới học vấn bởi những người thầy, chính điều đó giúp em trưởng thành hơn từng ngày.

Như một cái cây cần người nông dân chăm sóc, như một ngôi nhà cần người thơ xây nên, em cũng cần người thầy uốn nắn. Vẫn trên con đường đến trường, em cảm nhận được từng làn gió thổi vào mặt, em tưởng như thầy cô đến với đời em như một cơn gió, mang ước mơ em bay xa. Người ta bảo rằng làm nghề giáo viên chi cho khổ chỉ như người lái đò sang sông, chở người qua sông rồi họ cũng quên mình. Đã thế lương thì ít, suốt ngày chỉ có bảng và phấn thật là nhàm chán. Nhưng đối với thầy đó là một nghề đẹp đẽ. Em biết chứ, chỉ qua từng ngày thầy đến lớp giảng bài, em có thể cảm nhận được tâm huyết của thầy qua từng tiết học, những lời giảng ấy nghe sao mà ấm áp, thầy đã truyền vào trang vở của em những bài học, cho em thấy khát vọng dạy người, ươm mồng mống cho tương lai của thầy. Dù  thời gian sẽ trôi nhưng thầy, một người lái đò thầm lặng, vẫn cầm lái vững chác lái đoàn thuyền qua sâu cập bến tương lai. Thầy dạy em kiến thức, thầy còn dạy em cách làm người, thầy đã cho em một ước mơ..Em biết rằng cuộc đời thầy đã, đang và sẽ chở nhiều người qua sông nhưng có mấy người quay đầu lại nhìn thầy. Đã bao mùa bàng rụng là, đã bao mùa phượng nở hoa đỏ rực, tùng lớp học sinh hết ra rồi lại vào ngôi trường nhưng thầy vẫn ở đó, vẫn say sưa với bài giảng của mình, thầy vẫn truyền nhiệt huyết với chúng em. Thầy cô đã làm cho em rất nhiều nhưng dường như em còn chưa đền ơn đựơc Em chợt thấy rằng mình dường như cũng chỉ là một người qua đò.

Thầy dạy em thời gian là vàng là bạc, cần phải quí trọng nó nhưng dường như em đã lãng phí nó rồi, em bị vùi sâu vào cái nhịp sống này rồi dường như lại quên đi những điều quí giá nhất. Tốc độ của thời gian  sao nhanh quá, đến nỗi em cũng ngỡ ngàng. Rồi đến khi ấy em mới nhận ra mình đã bỏ lỡ nhiều điều, đời học sinh đâu chỉ có học, còn có bạn bè, trường lớp và nhất là thầy cô. Em biết rằng chính thầy là người em biết đến sau cha mẹ, ông bà, họ hàng mà có thể trước cả bạn bè, thầy chính là người bạn đầu tiên khi em bước vào một ngôi trường mới, thầy ân cần chỉ bảo từng chút một cho học sinh, thầy kiên trì, nhẫn nại giạng bài cho chúng em hiều. Cuộc đời thầy thật kì lạ, em tưởng như thầy là một phép mầu kì diệu đến với đời em. Phép mầu ấy mang lại cho em rất nhiều thứ.

Chính vì vậy mà em cảm ơn và xin lỗi thầy nhiều lắm.

.
Nguyễn thị Nguyệt Linh
Lớp 9 trường THCS Phan Chu Trinh

Buôn Ma Thuột

Buồn Vui Chuyện Nhà Giáo Và Tuổi Học Trò

Trong quãng đời học sinh phổ thông có biết bao nhiêu chuyện vui buồn mặc dầu đời học sinh chan chứa bao sự hồn nhiên, vô tư và trong sáng.

Tôi vẫn chẳng thể nào quên được một câu chuyện buồn xảy ra cách đây cũng khá lâu , khi tôi về trường dạy học được mấy năm .

Đó là năm tôi chủ nhiệm lớp Chín , phần lớn các em là học sinh vùng nông thôn , chỉ duy nhất có  em Lê Trung Nam(lớp phó học tập) là con em cán bộ Nhà nước.Nam khá thông minh, lanh lợi và hài hước .Dáng người cậu bé này nhỏ nhắn , giọng nói trong trẻo, âm sắc cao vút (có lẽ là lúc bấy giờ cơ thể em chưa phát triển hoàn chỉnh , nói cách khác là em vẫn chưa vượt qua tuổi trăng rằm chăng?)

Cùng học chung lớp có em Nguyễn Thị  Quỳnh .Chẳng hiểu sao mà Nam và Quỳnh như mặt trăng với mặt trời ,Nam ghét Quỳnh  ra mặt ? Thời bấy giờ Quỳnh là cô bé xét về diện mạo tuy không xinh xắn như vài cô bé  khác trong lớp nhưng mặt nổi trội của em là có năng khiếu về văn nghệ. Em từng dẫn chương trình nhiều buổi biểu diễn Văn nghẹ của trường và để lại khá nhiều ấn tượng trong giới học trò. Các đợt tập dượt tôi đã lập được một đội văn nghệ và cử em Quỳnh làm đội trưởng.Em cũng là lớp phó phụ trách văn thể mỹ và  đã có nhiều đóng góp cho phong trào Đoàn thanh niên. Em từng dẫn chương trình nhiều buổi biểu diễn Văn nghẹ của trường và để lại khá nhiều ấn tượng trong giới học trò  nhưng lực học của em lại không đều nên chỉ xếp kết quả chung là Trung bình. Bù lại em lại có thiên hướng về các môn xã hội mà nổi trội nhất là môn Ngữ văn.

Được biết Nam đã từng xoẹt hộp quẹt để phóng hỏa làm cháy tóc Quỳnh, rồi sau đó còn xé vở của Quỳnh khi Quỳnh phản ứng về những trò đùa nghịch của Nam. Đó  là việc làm dại dột mà theo tôi nhìn nhận bây giờ là “vô nhân tính” – tuy vẫn biết rằng tuổi trẻ con vẫn chưa hết bồng bột, nông nổi. Không suy nghĩ thấu đáo, không tính đến hậu quả mọi việc, mọi trò quậy phá tai ác… thường là đẳng  cấp  thứ ba (Nhất quỷ- Nhì ma- thứ Ba học trò là thế !)

Chưa hết, cậu ta còn viết những lời thô tục lên bảng để nói xấu, rồi chửi rủa Quỳnh bao lời lẽ hết sức thô tục ! Tồi tệ hơn, khi chuẩn bị kết thúc năm học, trả sách cho Nhà trường , chẳng hiểu sao mà cậu ta còn vu khống rằng Quỳnh đã tráo đổi bìa sách thay cho ruột một cuốn sách khác (gọi là “treo đầu dê bán thịt chó”).

Nỗi  oan ức  như  trời  giáng , nhiều bạn bè đã thanh minh cho Quỳnh, em  đã khóc hết nước mắt để thanh minh rằng em không hề làm vậy.

Ấy thế mà, mỉa mai thay ! đáng trách thay!  tôi lại tin Nam  mà không phải là Quỳnh, tôi còn trách móc Quỳnh là thiếu trung thực (?!?).

Khi lớp tổ chức buổi liên hoan chia tay, Quỳnh không có mặt mặc dù Quỳnh vẫn nạp tiền liên hoan cho lớp,Quỳnh làm giấy xin phép nghỉ v à  gửi lại tôi qua một học sinh khác( lí do Quỳnh có đám giỗ mãn tang ông ngoại !?       Mãi sau này tôi mới nghĩ ra đằng  sau lí do Quỳnh không dự buổi liên hoan, buổi gặp mặt cô giáo và bè bạn  năm học cuối cùng do tôi chủ nhiệm l ại  chuyển sang một  hướng  kh ác ( Quỳnh không tự ái mà là vì Quỳnh xấu hổ khi tôi và một số bạn vẫn cố hiểu lầm Quỳnh là người gian dối và Qu ỳnh quyết đòi lại bằng  được  danh dự và sự công  bằng )

Rồi một ngày, sau  khi chúng tôi nhận quyết định đi làm công tác thi tốt nghiệp, thầy Hiệu trưởng đã gặp riêng tôi và trao đổi

-Có một học sinh lớp cô là Nguyễn Thị Quỳnh,chính hôm lớp cô tổ chức liên hoan đã đến gặp tôi kể cho tôi nghe mọi chuyện mà bao lâu nay em âm thầm chịu đựng. Nào chuyện em bị một bạn cũng là một lớp phó phụ trách học tập chuyên hà hiếp: chuyện em bị  phóng hỏa đốt tóc, chuyện bị xé vở, rồi còn nhiều chuyện mà suốt mấy năm học qua em đã phải câm nín trong lòng. Mãi hôm nay, bức xúc nhất vẫn là chuyện trả sách giáo khoa cho Nhà trường ( thời bấy giờ trường chúng tôi có chủ trương xây dựng tủ sách giáo khoa dùng chung cho học sinh nhưng sách cũng thiếu trầm trọng ) em mới có dịp gặp tôi để báo lại vì em bảo cô chủ nhiệm không tin em, không để em được thanh mính.

Ồng Hiệu trưởng im lặng hồi lâu, rồi tiếp :

-Em Quỳnh vừa nức nở vừa báo cho  tôi trong tâm trạng ấm ức về chuyện hiện tượng trà trộn sách giáo khoa ở lớp cô. Cô xử sự thế nào chứ tôi không tin học sinh Quỳnh này có thể làm chuyện đó vì trông em rất chân chất, thật thà.Vả lại, một khi một học sinh đã trực tiếp gặp Hiệu trưởng mà không phải là Giáo viên chủ nhiệm là cả một vấn đề vì cô thấy đấy, học sinh ở đây rất rụt rè , hiếm thấy em  nào dám đến gặp Hiẹu trưởng

Rồi ông nói tiếp :

–   Cô Lương à, là một giáo viên chủ nhiệm liên tục hai năm với đối tượng học sinh của nguyên  một lớp , lẽ nào cô không hiểu tâm lí tuổi học trò ? Đã có khi nào cô có cách nhìn thiển cận ,chủ quan cho rằng mọi học sinh học khá, giỏi đều không có những góc khuất ? Cô hãy đặt vị trí mình là học trò bị oan khuất đi ! Đã bao giờ cô nghĩ rằng vì oan ức , không giãi bày được  mà học sinh đó có thể làm liều, tự sát ?

Tôi vẫn chăm chú nghe ông nói :

– Cũng may là “Trời xui Đất khiến” thế nào mà em Quỳnh đã đến gặp tôi và tôi đã cho em niềm tin, tôi đã hứa với em sẽ làm rõ việc này để minh oan cho em !

Ông hiệu trưởng lại ôn tồn:

-Tôi còn biết được em Quỳnh đã gặp cô Nga , cán bộ thư viện xin tìm bằng được cuốn sách – mặc dù cuốn sách đó tôi tin là học sinh khác đã cuỗm mất rồi mà biết đâu thủ phạm lại chính là em Lê Trung  Nam “cả vú lấp miệng em”, đã là người “đánh cắp thừa thế” ?

– Vâng…  ạ ! – Tôi bàng hoàng đáp lại .

– Tất cả mọi sự việc không quá trầm trọng nhưng đã cho mỗi chúng ta một bài học, chắc cô hiểu ý tôi ? – Ông nói.

Tôi không biết nói gì thêm , lòng tôi nặng trĩu những trở trăn và thổn thức, day dứt, đàu óc tôi đeo đẳng bao suy nghĩ mông lung …và ngẫm lại thấy mình thật vô cùng đáng trách khó c ó thể tha thứ !

Cũng  may mà tôi đã không hạ bậc hạnh kiểm (Tốt) của Quỳnh và không phê điều gì  quá đáng gây  bất  lợi cho em  vào Học bạ …

.

CưMgr ngày 18 tháng 11/2010

Thịnh Hoa (KQ)

Một Lời Nguyện Gây Khó Chịu

.

Đây là lời nguyện được xướng lên lúc khai mạc khoá họp Thượng viện bang Kansas,
USA tháng 02 năm 2008.
Đến nay lời nguyện này vẫn còn làm cho một số người khó chịu.
Mục sư Jeremiah Wright từng là linh hướng của Obama, đã được đề nghị đọc lời nguyện khai mạc
Và ông đã cầu nguyện như sau :
.
Lạy Chúa, hôm nay chúng con đến xin lỗi Chúa
và để xin Chúa hướng dẫn chúng con.
Chúng con biết Chúa đã phán với chúng con rằng :
“Khốn cho những ai gọi điều gì xấu là tốt”,
nhưng đó chính là điều chúng con đã làm.
Chúng con đã làm mất quân bình tinh thần
và đã làm đảo lộn các giá trị.
Chúng con đã bóc lột người nghèo
và gọi đó là “Xổ Số”.
Chúng con đã tưởng thưởng tính lười biếng
và gọi đó là “Trợ cấp xã hội”.
Chúng con đã giết những người con của chính mình chưa được sinh ra và gọi đó là “Chọn lựa tự
do”.

Chúng con đã giết hại những kẻ lầm lỗi
và gọi đó là “Công bình”.
Chúng con sao lãng dạy kỷ cương cho con em
và gọi đó là “Phát triển lòng tự trọng”.
Chúng con đã lạm dụng quyền lực và gọi đó là “Chính trị”.
Chúng con đã thèm muốn của cải của người khác và gọi đó là “Cao vọng”.
Chúng con đã làm ô nhiễm làn sóng truyền thanh, truyền hình bằng lời lẽ thô tục và hình ảnh
khiêu dâm và gọi đó là “Tự do ngôn luận”.
Chúng con đã chế diễu các giá trị do ông bà tổ tiên thiết lập từ ngàn xưa và gọi đó là “Tiến bộ”.
Lạy Chúa, Chúa thấu suốt lòng chúng con, xin hãy thanh tẩy chúng con
và giải thoát chúng con khỏi tội lỗi.
Amen !

Đã có phản ứng tức thời…
Một nghị sĩ rời phòng họp trong lúc cầu nguyện.
Nhiều vị khác chỉ trích lời nguyện của mục sư là “một thông điệp bất khoan dung”.
Nhưng trong sáu tuần sau đó,
Hội Thánh nơi mục sư Wright làm việc, đã nhận hơn 5.000 cuộc điện thoại,
chỉ có 47 cuộc tỏ ý chống lại lời lẽ của vị mục sư.
Hiện nay, từ khắp nơi trên thế giới, đã gửi thư ngỏ ý muốn xin lời nguyện trên …
Với sự trợ giúp của Chúa, xin cho lời nguyện này được truyền đi cho mọi dân tộc.
Xin cho lòng chúng ta ao ước được trở nên “một dân sống trong ân nghĩa Chúa”.

Sưu tầm

Hoài Niệm Về Lũ

Cho đến bây giờ, khi đầu đã hai thứ tóc, mắt đã kém dần nhưng những kỉ niệm buồn thương vẫn đeo bám tôi mãi mãi , không dễ gì dứt khỏi tâm can. Nhất lại là cứ mỗi dịp mùa lũ lại trở về, trái tim tôi lại càng thổn thức.

Tôi vẫn còn nhớ như in, những năm đầu thập kỉ sáu mươi của thế kỉ XX, gia đình bố mẹ tôi đang ở vùng bãi, gần bờ sông Lam, lúc bấy giờ tôi khoảng chừng 4 tuổi , lũ lụt tràn về, nước dâng ngập trắng cả ruộng đồng , nhà cửa. Bố mẹ tôi phải chuyển  tất cả đồ đạc lên chạn (sàn gỗ- thường để cất lúa má và các vật dụng khác), mọi sinh hoạt của gia đình đều ở trên đó . Là trẻ con, hồn nhiên, ngây thơ, vô tư, trinh nguyên như tờ giấy trắng, nào biết đến cực nhọc là gì ? Chỉ biết rằng được ăn ngủ, rồi xem người lớn nấu cơm trên chạn thì thích thú, nào đâu hiểu được như bây giờ kia chứ ? Lại nữa , khi nước đã rút dần, mực nước  khoảng  chừng ở mắt cá chân thì “được” lội bì bõm trong nhà ,ôi chao là thích thú, mặc cho bố mẹ đang hì hục lau dọn nhà cửa, khắc phục hậu quả Thiên tai, mặc cho ai lòng lo ngay ngáy vì lại “điệp khúc đói “như năm nào!

Nghe mẹ và các chị kể lại, hồi sinh tôi ra mẹ không có cơm đủ ăn, đói kém nên nhà hàng xóm bới khoai chuối ở mảnh vườn ngay trước nhà tôi và thương tình cho mẹ ba củ để luộc ăn , mẹ mừng kinh khủng – khoai chuối là loại khoai chủ yếu trồng để chăn nuôi, thân và  lá thì để cho trâu, bò ; củ non và rễ thì đem giã rồi nấu cho heo, củ già hay củ bánh tẻ thì để người ăn, công bằng mà nói món  khoai này ăn ngon và chắc bụng : vừa bùi vừa ngọt, có nhiều  tinh bột ; về sau này người ta trồng để thu hoạch rồi chế biến thành miến dong nhưng ở quê tôi hầu như không còn trồng nữa vì hiệu quả kinh tế không cao vả lại đất đã bị xói mòn, bạc màu, không còn thích hợp cho loại cây này.

Tôi còn nghe kể rằng cũng vào năm tôi ra đời vì đói quá  mà chị gái kế tôi bị xỉu lả đi, cứ nghĩ mà lòng đau như xé !Không khóc nhưng nước mắt tôi cứ tràn ra ngập bờ mi,cổ họng nghẹn ắng và sống mũi lại cay cay!
Để tránh lũ lụt hàng năm vẫn xảy ra , bố mẹ tôi dời nhà cách bờ sông dễ chừng vài ki-lô-mét, là vùng đồi núi, nước lũ chẳng bao giờ đến. Chỉ có thể ngập ở vùng đồng thấp ruộng trũng.

Tôi lại nhớ những ngày tôi đã học Tiểu  học, thấy lũ tràn về đồng ruộng thì tôi cùng bọn trẻ con rủ nhau đi xem và nghịch nước. Có cả người lớn cũng đi để quan sát và so sánh với mực nước những năm qua . Chẳng có gì ngờ nghệch ngu ngốc hơn lúc bấy giờ, xung quanh có bao nhiêu người mà miệng  tôi cứ bô bô :
– Bay ơi ! Tau (tao) thích lụt !
Tôi vẫn chưa quên có người (hình như là ông Tí Trới ) đã  trừng mắt và  mắng chửi :
–  Tổ cha bay ! Đồ con nít! Ngu chi ngu rứa , kẻ nậy (người lớn) thì lo cháy rọt (ruột), còn thích nỗi chi mà thích, thích cái trôốc (đầu) cha bay hử ?Có một người đàn bà (hình như là  bà Năm Chín) biết điều thì chống chế :
– Chớ  chưởi quân nớ (tụi nó)  mần chi ? mấy đứa  hắn có biết chi lo lắng, chỉ thích lội  bì bõm dưới nước là ưng, rứa mới gọi là con nít.
Rồi bà còn nói mát với bọn trẻ  chúng tôi :
– Ừ, các con cứ lội cho lắm rồi ít bữa nọc nác (nước)  ăn chân rồi mà khóc.
Quả thật, hồi đó sau những lần nghịch nước, tôi thường hay bị ngứa và loét ở các kẽ ngón chân, càng gãi càng ngứa vậy mà vẫn cứ thích lội nghịch nước với đám trẻ nít trong làng, lại còn chơi trò té nước để ướt hết quần áo, và như thế…về nhà lại “được xơi” trận đòn nhưng chả chừa được lâu bao giờ, đâu lại vẫn vào đấy .

Mãi sau này, khi tôi đã không còn cái  tuổi lội nước để nô đùa nữa,đã bắt đầu ý thức được nỗi gian truân của những  người ở vùng nông thôn,đã cảm được cái khốn khổ mỗi khi lũ tràn về  thì bắt đầu đã biết nghĩ, biết nhận ra sự đau xót trước sự đe dọa của Thiên tai và một phần có cả nguyên nhân từ phía con người – khai thác rừng bừa bãi làm cho môi trường sinh thái bị ảnh hưởng không nhỏ.Tôi thầm nghĩ :
– Hồi nhỏ sao quá ngu ngốc , khờ khạo, ai lại đi thích lũ lụt bao giờ ?
Rồi tôi lại tự trấn an:
-Thế mới là  trẻ con ! Trẻ con chứ đâu phải người lớn thu nhỏ !

Mốc lịch sử của cơn đại hồng thủy năm 1978 đã ghi lại trong tôi một kỉ niệm đau thương mà cho tới mãi sau này, khi tôi đã tự lập cuộc sống tôi vẫn không thể nào quên! Sinh thời, ông cụ thân sinh ra tôi vẫn nhắc lại và mắt ông ngân ngấn lệ, lòng vẫn canh cánh nỗi day dứt thương con. Ngày đó nước ngập mênh mông , trường tôi phải nghỉ học cả hàng chục ngày ròng. Những ngày nghỉ học, mấy chị em tôi lên hòn rú Động Trường để khai hoang, vừa để có đất trồng sắn,trồng chè xanh vừa lấy gộc cây rành rành để đem về làm chất đốt, sưởi ấm về những ngày đông rét cắt da cắt thịt mỗi khi có gió mùa Đông Bắc tràn về. (Rành rành là một loại cây mọc hoang dại ở vùng đồi trung du, rất chịu hạn hán, khi đã lên cao gần  một mét, người ta cắt về, phơi khô, rũ sạch lá để  làm chổi quét thay vì quét chổi tre, lá của nó trong y học được chế thành dược liệu.)

Sau lũ, nhìn cảnh làng quê tiêu điều, lúa và hoa màu ngoài đồng mất sạch sành sanh.Nhiều gia đình lâm vào cảnh đói deo đói dắt. Lũ bạn và chị em tôi đi mót khoai lang nhưng vì khoai củ  non và nhỏ, không bở mà lại nhão, nên mẹ  lại luộc xong rồi đem dùng  đũa  xéo cho nát ra để xúc vào đọi (chén hay bát) cho dễ  ăn. Hễ quên đi thì thôi, còn nhớ lại, tôi lại không sao tránh khỏi ngậm ngùi… .

Thời gian cứ thế trôi qua, rồi một lần nữa tôi lại chứng kiến lũ lụt lớn hơn cả cơn lũ năm 1978.
Đó là vào năm 1989, khi con gái tôi hơn ba tuổi.Tôi đang ở nhà tập thể, một căn nhà tạm bợ lợp lá cọ, xung quanh che bằng phên nứa. Chỉ cần một cơn bão đi qua là có thể tốc mái và căn nhà sẽ sập bất cứ lúc nào. Lúc bấy giờ đang thời bao cấp, hầu như mọi cán bộ, giáo viên, công chức Nhà nước đều phụ thuộc vào đồng lương, mua  lương thực, thực phẩm bằng tem phiếu, sổ mua hàng, nếu để quá hạn , sang tháng khác là mất tiêu chuẩn, coi như nhịn đói. Mưa lũ kéo dài, gần hết tháng  không thể đi mua gạo và nhu yếu phẩm, chúng tôi vô cùng lo lắng.Gạo đã hết  mà người thì bị cô lập giữa biển nước mênh mông.Chúng tôi đã phải luộc củ mì non,  quả chuối tiêu đã già để ăn độn vào mọi bữa ăn cho qua những ngày vừa đói, vừa lạnh. Để khỏa lấp thời gian lo lắng, tôi lại nhặt nhạnh tất cả những mảnh vải vụn, những áo quần cũ ngồi cắt may, khâu sửa, chắp nối lại thành quần áo cho con…

Và rồi, những năm sau vẫn lũ lụt nhưng không nặng nề như hai cơn đại hồng thủy mà tôi đã ý thức được và đã từng nếm trải. Nói đúng hơn là tôi   không còn có dịp để chứng kiến tận mắt và chịu đựng vì tôi đã chuyển  công tác xa quê.

Sau này,  khi tôi có dịp về thăm quê, cả nhà ôn lại chuyện cũ, bố tôi  vẫn than thở:
– Cha nghĩ mà thương mi ngày đi học cuối cấp III (nay gọi là Trung học phổ thông), năm học 1978 – 1979 , là năm thi tốt nghiệp, thi đại học mà ăn uống cũng chả ra hồn, đi học ở lại trưa chỉ có khoai lang củ  , hay sắn củ  (củ mì ), đến nỗi đi thi học sinh giỏi tại huyện Đô Lương vẫn mang thêm bột sắn khô để làm bánh ăn độn, mỗi lần nghĩ là cha lại xót xa. Ông còn nói:
– Đúng là cái số mi khổ, ngay từ khi lọt lòng đã gặp cảnh túng đói rồi và sau này cũng vậy , may mà  kiếm được cái nghề ổn định để thoát khỏi cảnh bận hàn chớ mấy đứa cùng lứa với mi ở nhà lấy chồng rồi mần  ăn cực khổ lắm  nà !

Rồi…câu chuyện chị gái tôi bị đói và xỉu lả năm nào  lại được nhắc lại, và- tôi thấy cả bố mẹ tôi đều lặng im hồi lâu, môi mấp máy, tôi hiểu tâm trạng bố mẹ tôi nên đành lảng sang  chuyện khác.
Những chuyện đó giờ đây với tôi đã trở thành dĩ vãng, mảnh đất cao nguyên nơi gia đình tôi cư trú chẳng thể bị lũ lụt bao giờ. Cuộc sống của một giáo viên xưa nay vốn dĩ  thanh bần, chẳng có của ăn của để nhưng cũng gọi là ổn định, nếu biết cách chi tiêu thì không đến  nỗi nào- khéo ănthì no, khéo co thì ấm –  nhưng so với  những người  làm nông ở quê  tôi thì   còn sướng hơn nhiều.

Thế nhưng, cứ mỗi dịp lũ về  là lòng tôi lại rưng rưng kỉ niệm buồn thương, đau xót khi nghe những thông  tin, rằng chỗ này nhà ngập nước, người và tài sản bị lũ cuốn trôi; rằng chỗ kia có người mất tích…
Và … hôm nay đây, khi ngồi viết những dòng này, trái tim tôi vẫn nhói đau mỗi khi cập nhật những  thông tin, những hình ảnh tang thương , thiệt hại quá nặng nề ở các tỉnh miền Bắc Trung bộ rồi lại đến Nam Trung bộ bởi cơn lũ lịch sử lớn chưa từng có của hàng trăm năm về trước.

Tôi thầm ước ao có một phép mầu để có thể xóa đi mọi buồn đau, cứu vớt những thi thể nạn nhân để họ được sống an vui trở lại với gia đình, với làng xóm ,quê hương.

Máu chảy ruột mềm!

Cầu mong sao mọi người dân vùng lũ sẽ không gặp phải tai họa , sớm khắc phục những hậu quả và yên ổn làm ăn! Cầu mong những linh hồn của những nạn nhân bị lũ cuốn , những nạn nhân của chuyến xe định mệnh mang biển KS 48K- 5868 ngày nào sẽ được an trú thanh thản nơi chín suối và sớm được siêu thoát về cõi vĩnh hằng! Cầu mong con người ý thức được vai trò của việc bảo vệ và tích cực trồng  cây gây rừng để lấy lại được sự cân bằng sinh thái cho môi trường thiên nhiên; để Thiên tai không còn là mối đe dọa những con người vô tội! Cầu mong cho tất cả mọi người đừng vô cảm mà hãy giang rộng vòng tay Tương thân tương ái , Lá lành đùm lá rách, Thương người như thể thương thân… cưu mang , đùm bọc những người bị nạn, an ủi, chia sẻ, xoa dịu đôi phần nỗi đau, những tổn thất mà  họ đã phải gánh chịu! Cầu mong cho mọi người đừng mải vui chơi, chi tiêu, đầu tư quá mức cho những việc không cần thiết để dành tình yêu thương, san sẻ  phần nào gánh nặng mà mọi người dân vùng lũ đang phải oằn mình chịu đựng !

Than ôi !
Cầu mong…

Cao nguyên đất đỏ, tháng 11/2010

Khánh Quyên

( tác giả đã chỉnh sửa từ bài đã đăng trên trang LLĐLR)

Mời các bạn xem video clip ;

Thông Địệp Từ Miền Trung


 

Phiếm luận về mắt

So với các loài sinh vật hữu tình trên quả đất thuộc hệ Thái Dương này, đến hôm nay con người vẫn được đánh giá là loài thượng đẳng nhất do ở hình thái và tổ chức cơ thể tinh vi cũng như do có một đời sống tinh thần và tình cảm phong phú, trong một xã hội có tổ chức cao mà các loài vật khác không có.
Ở NGƯỜI, khuôn mặt có những nét đặc biệt, nhiều biểu cảm mà nổi bật là đôi mắt, một cơ quan cảm giác tuy nhỏ, nhưng lại có hồn và cần thiết nhất. Khi tiếp xúc với người khác, hai mắt của họ là cơ quan mà ta cảm nhận trước tiên; qua đó ta có thể đoán biết được tâm tư, tình cảm của họ nên người đời thường nói “con mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Cũng có những cái được gọi là mắt nhưng không phải mắt vì không có chức năng nhìn như “mắt cá chân “ hay “mắt bão”. Mắt mà tôi sắp đề cập ở đây là mắt để nhìn, là đề tài được nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, nhà tôn giáo đề cập nhiều nhất. Với những kiến thức còn hạn hẹp, tôi chỉ dám ghi nhận một số nét về đôi mắt bởi bản thân không dám “múa rìu qua mắt thợ” so với nhưng người đã từng nghiên cứu trước đây, cũng như không dám lấy “vải thưa che mắt Thánh”!

MẮT DƯỚI CÁI NHÌN CỦA Y HỌC & DÂN GIAN

Là một cơ quan cảm giác, hình thành từ ống thần kinh ở tuần lễ thứ ba của phôi kỳ, dưới dạng hai túi thị nguyên thủy, phát triển và lồi dần về phía trước tạo thành võng mạc, thủy tinh thể và các thành phần khác của mắt. Mắt nằm trong hốc xương nhỏ phía trước của hộp sọ, vị trí ở 1/3 trên khuôn mặt, dưới vầng trán, ở trên và đối xứng hai bên mũi. Nhãn cầu người có các thành phần chiết quang phía trước, và võng mạc phía sau, được vận động bằng các bó cơ nhỏ cùng các dây thần kinh , cũng như được nuôi dưỡng bằng hệ thống mạch máu . Mắt là cơ quan chức năng của cái thấy, với hai mắt cùng nhìn nhưng tia nhìn lại hướng cùng một phía và tập trung trên vật thể trước mặt. Những hình ảnh nhận được lúc đầu, tuy là do hai mắt, hiện trên mỗi võng mô của mỗi mắt, nhưng sự cảm nhận về hình ảnh chỉ có một. Nhờ 4 bó cơ thằng [ trên, dưới, trong ngòai]và hai cơ chéo [trên, dưới] nên nhãn cầu được chuyễn động hướng về các phía, tạo ra những cái “liếc mắt đưa tình” hay những cái nhìn sắc như dao, ngọt như mía hoặc dịu dàng như “sóng nước hồ thu”. Nhờ mống mắt [Iris] là một lọai cơ vòng có những bó cơ co thắt và dãn nở, nên đồng tử mở to khi ngạc nhiên hay sợ hãi; thu nhỏ lại khi phản xạ tức thời với ánh sáng.. và nhờ các sắc tố ta phân biệt được người có mắt đen tuyền như hạt cườm, long lanh như hạt sương, xanh biếc như hạt ngọc ….Nếu lấy mắt ra riêng lẻ, để trên bàn phẫu tích thì làm gì thấy được thần sắc của mắt. Thần sắc này có được là nhờ mắt nằm trên khuôn mặt, được che chở bởi mí mắt trên và dưới, với hai hàng lông mi dài mịn,dễ thương. Thêm vào đó là hai hàng lông mày nằm trên bờ hốc mắt trang điểm thêm khiến mặt và mắt rất duyên dáng. Nhờ các thành phần này nên khi ta chớp mắt, lúc cau mày cũng làm cho mắt có nét xúc động, ngạc nhiên. Chỉ cần một chút chuyển động của cơ nâng mi, cái nhếch mép của cơ môi, rồi chính cái cơ vòng của miệng khi cười nụ hay tủm tỉm lại khiến cho đôi mắt có cái tinh nghịch, mĩa mai . Cũng nhờ cái đuôi của mắt biết cười, nên đôi mắt càng làm lung lạc con tim người đối diện, khiến người ta bay hồn, lạc vía, nhớ mãi đôi mắt mình suốt đời.

Mắt đã theo sát cuộc đời của mỗi người, từ lúc còn là mầm phôi thai, đến lúc sinh ra và cuối cùng nhắm mắt, trỡ về với cát bụi. Ngay cả khi còn trong bụng mẹ, bắt đầu ở thời gian 24 tuần, mắt đã biết nháy mắt khi giật mình, biết phản ứng lại ánh sáng của thiết bị quang học thăm dò và biết chảy nước mắt. Khi trẻ mới “mở mắt chào đời”, những người thân yêu cười rạng rỡ khi nghe tiếng khóc đầu đời, và mong thấy trẻ mở to đôi mắt thơ ngây; và cũng thật buồn cười, người ta lại khóc khi đôi mắt ấy sắp đi vào cỏi chết, lại phải cố vuốt mắt vì không muốn thấy đôi mắt ấy nhìn mình “trừng trừng”, hay xót xa nhìn thấy đôi mắt ứa lệ nuối tiếc người thân yêu giây phút cuối. Trong thời gian ở chốn bụi trần này, ngòai những lúc nhắm khi ngủ, đôi mắt người luôn mở to để nhìn biết bao sự vật, sự kiện, đã sống cùng cơ thể qua những ngày tháng vinh, nhục, thăng, trầm. Thật ra có nhiều khi đôi mắt cũng biết khôn khéo, nhắm lại hay mở hé nửa chừng; những lúc ấy mắt muốn con người tận hưỡng trọn vẹn cái cảm giác đê mê của nụ hôn say đắm. Trong Y học ngòai một số bệnh chuyên khoa về mắt, cũng có một số bệnh nội khoa được biểu lộ qua màu sắc và chức năng nhìn của mắt thay đổi. Có một môn khoa học tuy chưa được công nhận, chẩn đóan về mống mắt [Irisdology] dựa trên sự thay đổi về màu sắc và hình thái của mống mắt [Iris]. Vậy mắt là cơ quan cảm giác dùng để thấy, để con người quan sát và kiểm sóat môi trường chung quanh, giúp liên hệ trao đổi, đôi khi thay lời nói và tình cảm tâm tư nên dân gian thường hay gọi mắt là “cửa sổ để tìm đến tâm hồn” [Eyes are the window to the soul]

Người đời gán cho đôi mắt đủ mọi hình tướng, đủ mọi nét đẹp sắc sảo như mắt phượng, dịu dàng như mắt nhung, thơ ngây như mắt nai, hay xinh xắn như mắt bồ câu, hoặc vô tình như mắt ếch. Họ không quên gán cho mắt những nét dữ dằn như mắt sư tử, ghen hờn như mắt Họan Thư, gian ác như mắt rắn, mắt cáo, mắt lươn họăc lẳng lơ như mắt lá răm. Ngòai ra mắt còn biết soi mói như mắt cú vọ hay mắt không ngần ngại “dán vào người” các kiều nữ hấp dẫn của những anh chàng có đôi mắt Thúc Sinh. Tạo hóa và thiên nhiên cũng đặc biệt tặng cho mắt thêm tuyến lệ, nên mắt được rữa sạch, làm ướt mi; lúc thì long lanh ngấn lệ, lúc thì đau khổ lệ trào khi cuộc tình ngang trái.. Tóm lại tùy theo tâm tư, tình cảm của chủ thể có đôi mắt hay tùy theo sự cảm nhận của đối tượng, con người trên thế gian đã gán cho đôi mắt mọi thứ trong khi bản thân đôi mắt thì vô tội.

MẮT TRONG THƠ VĂN & TÔN GIÁO

Bên cạnh các nhà khoa học, các nhà văn, nhà thơ cũng tốn khá nhiều tâm tư, thời gian và giấy mực để nói về con mắt. Từ cái nhìn đầu tiên, bốn mắt trao nhau luồng nhỡn tuyến, tiếng sét ái tình sau đó chỉ còn lưu lại trong tâm hồn mỗi người cái hình ảnh dễ thương, tha thiết, dịu dàng của đôi mắt. Đôi mắt ấy từ đó đã theo ta suốt cuộc đời, dù xa cách ngàn trùng hay dù tình yêu không trọn vẹn tốt đẹp; “đôi mắt người xưa” vẫn còn hiện diện trong tâm trí ta. Có thể nói không sai là ở phụ nữ, khuôn mặt đẹp là cái nổi bật nhất, trong đó không thể quên vai trò của đôi mắt. Cổ sử Trung Hoa có nói đến bốn người đẹp nổi tiếng nhất là: Điêu Thuyền, Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Tây Thi, đẹp đến mê hồn, đôi mắt quyến rũ đến nổi “khuynh nước, nghiêng thành” đem lại đổ vỡ các vương triều và đau khổ chết chóc cho nhân dân thời đó. Thế mà sau này có nhiều nhà văn, nhà thơ khi nói về cái tuyệt sắc vô cùng của giai nhân, cái quyến rũ ghê gớm của đôi mắt đã ca tụng mỹ nhân đến nổi “Tây Thi khiếp vía, Hằng Nga giật mình”.

Ca dao Việt Nam với những câu thơ dân gian mộc mạc cũng có đề cập đến đôi mắt rất nhiều:

Người khôn đôi mắt đen sì
Người dại đôi mắt nửa chì nửa thau
Trời sinh con mắt là gương
Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài
Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền
 

Chín thương cô ở một mình
Mười thương con mắt có tình với ai

Mấy người con mắt ốc nhồi
Giỏi tài đánh vợ, đá nồi đập niêu

Ngoài ra còn có những câu ca dao đố rất ý nhị:

Con gì đuôi nó có lông
Trẻ già trai gái đều cùng mang theo

[đó là con mắt]

Có càng mà chẳng có chân
Có hai con mắt to bằng ốc bưu

[đó là cái kính mắt]

Trên tạp chí Y khoa, các hình chụp bệnh nhân hay trên các tranh ảnh nhạy cảm, người ta phải xóa đen đôi mắt vì sợ xâm phạm đến đời tư cá nhân. Trong một số tiểu thuyết hình sự có kể chuyện một vài kẻ sát nhân sợ bị ám ảnh hay sợ bị khoa học ghi lại hình ảnh mình trong mắt nạn nhân , nên đã nhẫn tâm móc mắt nạn nhân. Trong văn học miền Nam, nhà văn Thanh Thảo có tả “đôi mắt lạc thần” của nhà thơ Bùi Gíáng như sau: “Cả gương mặt của Bùi Tiên sinh như dồn vào trong đôi mắt lạc thần Đó là đôi mắt luôn nhìn quá. Dù Bùi Giáng đọc thơ, nói cười, múa hát thì đôi mắt ấy vẫn im lặng”.

Rải rác trong các truyện ngắn, truyện dài cũng đề cập nhiều đến đôi mắt của các nhân vật như “Loan mắt nhung” và của các người phụ nữ có sắc đẹp mê hồn , nhưng nói đến mắt với những tình cảm khác nhau thì chỉ có thơ và nhạc là nói về mắt nhiều nhất.

Nhà thơ Nguyễn Bính trong bài thơ “Mắt nhung” tả đôi mắt quý phái, tia nhìn dịu êm như nhung của người yêu như sau:

Người ơi cứu vớt tôi cùng
Dành đôi mắt đẹp cho lòng rất đơn !
Tôi còn mơ ước gì hơn
Hai tay người chắp phiến đàn cho tôi
Phải chăng tôi đã già rồi ?…
Đêm qua buồn quá tôi say
Đã mơ một giấc mơ đầy mắt nhung!


Và ông lại ví mắt nàng sáng long lanh như vì sao trong buồi chia tay:

Sao Hôm như mắt em ngày ấy
Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu


Thi hào Nguyễn Du còn ví đôi mắt của Thúy Kiều như làn nước mùa thu và đôi lông mày như núi mùa xuân xanh thẳm [xuân sơn]:

Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Còn nàng Kiều về sau được Từ Hải cảm phục, khen nàng có cặp mắt tinh đời:  

Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần gian mới già!
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.

Lưu Trọng Lư lãng mạn hơn, trong bối cảnh của một đêm thu se lạnh; đôi mắt đẹp của người con gái được ông ví như dòng sông, còn mình như một con thuyền độc quyền chiếm hữu dòng sông,để một mình tung mái chèo khua động:

Vừng trăng lên mái tóc mây
Một hồ thu lạnh, mê say hương nồng
Mắt em là một dòng sông
Thuyền anh bơi lội giữa dòng mắt em….

Xuân Diệu hình dung đôi mắt ngọc của người yêu trong veo và buồn như hồ nước cuối thu:

Cuối thu vàng nước lên bờ
Nước non trong sạch ai ngờ thần tiên
Em cười đôi ngọc mắt đen
Nửa in sắc nước, nửa đan sắc trời

Nguyên Sa thì đề cao đôi mắt trong vắt, sâu lắng như khi nhìn thấy đáy sông:

Anh nhờ sông có nguyệt lạ lùng
Có trời lau lách chỗ hư không
Em tìm âu yếm trong đôi mắt
Thấy cả vô cùng dưới đáy sông.

Trong bài thơ “Tương tư” của nhà thơ Nguyên Sa, ông ca tụng:

Tôi không biêt rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghê thường
Cho nên đôi mắt mờ hư ảo
Cả bốn phương trời chỉ có em….

Còn nhà thơ Enxa-L-Aragon thì ví đôi mắt như mặt trời chiếu trong một vũ trụ sâu thẳm:

Đôi mắt em sâu xa khi nhìn vào
Anh thấy cả một mặt trời chiếu xuống
Chìm đắm cả con người tuyệt vọng
Đôi mắt em sâu xa đến nổi anh quên cả trước sau….

Nhà thơ Mùi Quý Bồng  nói lên tầm ảnh hưởng to lớn của tình yêu mà trong đó đôi mắt người yêu có mãnh lực đến nỗi chế ngự suốt cuộc đời mình như sau:

Chim trời mỏi cánh phiêu du
Ta đem chí lớn giam tù trong em
Mộng giang hồ đã nguôi quên
Vì em mắt biếc ta mềm suy tư…

M.Q.B

Còn nhà thơ T.G thì:

Mắt em là cả hồ thu
Tiếng em thánh thót như ru men tình
Ước sao chỉ có đôi mình
Nhưng đâu chỉ có chúng mình ước ao
Đêm nào ngước mắt trông sao
Cùng em ao ước nơi nào viễn du
Nhìn em đáy mắt hồ thu
Anh quên giấc mộng viễn du nơi nào

Mắt biếc[T.G]

Sully Prudhomme [1839-1907] cũng có những vần thơ Pháp lãng mạn không kém khi nói về đôi mắt như sau:

Bleus ou noirs, tous animés, tous beaux
Ouverts à quelque immense aurore
De l’autre côté de tombeaux
Les yeux qu’on ferme, voient encore

được Vương Ngọc Long phỏng dịch thật hay:

Ánh mắt huyền xanh đẹp dáng hồng
Bình minh vô tận vẫn hoài mong
Nồng say giấc ngủ trong mộ tối
Mắt nhắm nhưng mà vẫn ngóng trông

Riêng nhà thơ Hải Đà ca ngợi người mẹ với ánh mắt sáng như trăng rằm, chứa chan tình yêu thương con trọn vẹn, sắt son:

Mẹ như ánh mắt trăng rằm
Lệ từ bi chảy ngàn năm chẳng mòn
Vơi đầy đạo nghĩa sắt son
Tràn dâng biển Hạnh, ngập nguồn Tam cương

Đặc biệt Thiền sư Tuệ Sĩ với trí tuệ Bát Nhã, đã đem ánh mắt Bồ Tát nhìn đời, chấp nhận những đau khổ của cõi đời:

Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỉ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thỉ
Đêm dài con mắt vẫn đầy sao

Nhờ có những vần thơ xúc cảm ca ngợi đôi mắt, nên các nhạc sĩ đã đưa nhạc quyện vào thơ khiến đôi mắt càng thêm trữ tình, thắm thiết….Nhiều ca khúc nổi tiếng ra đời được nhiều thế hệ ưa chuộng, điển hình như : Thu trong mắt em &Trong mắt em là biển nhớ của N. T. Miên- Nước mắt rơi của Phạm Duy,-Đôi mắt người Sơn Tây của P. Đình Chương-Đôi mắt người xưa của Trúc Phương- Mắt lệ cho người của Từ Công Phụng- Nắng thủy tinh của T.C.Sơn- Tình yêu mắt nai của Quốc Dũng…..

Trong tôn giáo, mắt cũng được đề cao, được chọn làm biểu tựợng của quyền lực như Mắt trong đạo Horus Thần Mặt Trời. Mắt Thượng Đế nhìn thấy xa mọi chuyện [thiên lý nhãn], chung quanh có hào quang bao bọc trong một hình tam giác đều [Eye of Providence] . Biểu tượng Mắt được Thánh Thất Cao Đài VN thờ phượng, tượng trưng cho trí tuệ, gọi là “Thiên Nhãn”. Đó là con mắt của Trời soi xét mọi ý nghĩ, hành vi của người, nhắc nhở làm điều hay lẽ phải, từ bỏ cái xấu, cái ác.

Mắt của hình, tượng Chúa Jesus, và của Đức Phật đều nổi bật ở dáng vẻ dịu dàng, thánh thiện với ánh mắt bác ái, từ bi nhìn xuống con người đang ngụp lặn trong khổ đau,sinh tử luân hồi….Dưới tượng Chúa vị tha, dứơi tượng Phật bao dung, những người đau khổ tìm đến quỳ lạy dưới chân Ngài, ăn năn hối lỗi cầu xin Ngài tha thứ. Người tín đồ cầu xin Chúa cho có được “con mắt đức tin” để thấy hình ảnh Chúa trong các tín hữu , hay cúi xin Phật cho mình có được một “con mắt quán chiếu” “ để thấy tất cả chúng sinh đều là Phật sẽ thành.

CÁI THẤY CỦA MẮT

Đôi mắt của người thế gian tầm thường cũng khác với đôi mắt của các nhà ngọai cảm. Họ nhìn lại sự việc của quá khứ, thấy trước đươc tương lai sắp tới và giúp thân nhân người chết truy tìm huyệt mộ… Họ thường tập trung nhìn vào một đối tượng nào trước mặt như hình cầu, chiếc đủa…hoặc có khi nhắm mắt lại, tập trung tinh thần ; rồi cho thân chủ biết điều muốn tìm. Đó là cái thấy của năng lực tinh thần mà không sử dụng hai mắt, đó là cái thấy siêu nhiên, thần giao cách cảm chỉ có ở một số người có khả năng liên hệ với những người ở thế giới vô hình. Đây là một hiện tượng khó nghĩ khó bàn, đang trong vòng tranh cãi, nghiên cứu mặc dù thực tế có những trường hợp đạt kết quả tốt.

Mắt là cơ quan để nhìn, để quan sát. Cái thấy của mắt phải đầy đủ các yếu tố duyên sinh. Trước hết cơ quan này [nhãn căn] phải tốt, đầy đủ cấu trúc thì chức năng thấy sự vật [nhãn trần] mới được đảm bảo, và ý thức từ cái thấy mới phát sinh [nhãn thức]. Bên cạnh nhãn căn, nhãn trần, nhãn thức yếu tố ánh sáng phải đầy đủ và khỏang cách tối thiễu, tối đa từ mắt đến vật phải được tôn trọng thì hình ảnh mới hiện rõ trên võng mô. Nhưng đặc biệt chúng ta phải có cái ý “muốn thấy” [tác ý] thì nhận thức mới phát sinh. Khi ta không chú tâm hay không có ý muốn nhìn, thì dù cho sự vật nằm ngờ ngờ trước mắt mà ta nào có hay. Do đó người đời vẫn thường trách nhau là “có mắt như mù”. Khi tâm hồn ta đã nguội lạnh, con tim ta đã khô như đá thì dù có một bóng hồng bước đến, ta cũng chẳng để ý và bình phẩm. Riêng trong cái khỏang cách vừa và đủ để mắt thấy tốt, vị trí nhìn [điểm đứng] cũng quan trọng không kém để ta quan sát sự vật một cách tổng thể, rồi sau đó phân tích một thấu đáo, ta sẽ có một nhãn quan, một ý thức về sự vật này . Trong trường hơp này cái thấy không chỉ đơn thuần là chỉ thấy, mà nó còn cho thấy “quan điểm”, cách đặt và giải quyết những vấn đề lớn của tư duy. Cũng cùng một vấn đề nhưng do điểm đứng để quan sát và do tình cảm, tư duy của riêng mỗi người mà ta có những quan điểm khác nhau. Do đó chúng ta không nên áp đặt quan điểm của riêng mình, bắt người khác phải chấp nhận. Tưởng rằng “cái thấy” đơn giản , nào ngờ khi phân tích ra có muôn vàn yếu tố liên hệ với nhau. Đúng là “trùng trùng duyên khởi

Cái thấy nói trên là cái thấy có ý thức, nhưng nếu tầm nhìn của mắt không được tự do, lại bị ép buộc, che chắn, hay phải nhìn qua lăng kính hoặc qua cặp kính màu thì “cái thấy” có thể biến dạng, hạn chế và ý thức sẽ bị thay đổi . Chuyện đời có nhắc đến con ngựa kéo xe chở khách, người xà ích sợ con ngựa khi được tự do hai mắt, sẽ nhìn ngang dọc, không tập trung và sẽ hỏang hốt nhảy dựng lên , rồi làm lật xe; nên trong bộ dây yên có thêm hai miếng da tròn che phía ngòai hai mắt của ngưa. Con ngựa này chì thấy mỗi con đường phía trước, chỉ biết và chỉ làm mỗi một việc kéo xe, chở khách. Con người cũng thế, nếu hai mắt bị che chắn, tầm nhìn không tự do, thì con người chỉ thấy được một chiều, không thấy cái gì khác. Rồi cũng qua những cặp kính màu xanh đỏ, vàng…hình ảnh mắt thấy cũng bị nhuộm màu, không phản ảnh chân thật sự vật vốn có. Những cặp kính màu theo nhà văn V.Đ.C, chính là những định kiến, những điều đã biết, đã nhận được trước đây của mỗi người, sẽ làm chướng ngại cho việc thấy, và nắm bắt chân lý. Triết học tôn giáo gọi đó là “sở tri chướng”, một trong những cái trở ngại mà người đời nên tránh.

Cái thấy của thế gian, thường bị ảnh hưởng bởi tham, sân,si, bị ngăn che bởi những tà kiến. Cái thấy của những Thánh nhân, của những đấng giác ngộ là cái thấy có trí tuệ mà người ta gọi là tuệ giác hay “tuệ nhãn”, vì không có các yếu tố tham sân si. Chưa hẵn những người có bằng cấp cao, có địa vị sang trọng trong xã hội mói có cái nhìn sáng suốt; chính những người có năng lực tập trung tinh thần lớn, chánh kiến trong tư duy, có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, và nhất là có lòng độ lượng, bao dung, không chấp trước, không sân hận, không si mê thì những người đó mới có được cái tuệ nhãn cao quý.

THAY LỜI KẾT

Mắt thật sự là một cơ quan cảm giác tối cần thiết và quan trọng đến nổi để trả lời câu hỏi có tinh cách chọn lựa là giữa cuộc đời sang giàu, có địa vị nhưng bị mù lòa, với cuộc sống thiếu thốn nghèo nàn nhưng còn con mắt để nhìn thì con người sẽ chọn cuộc sống nào. Chắc chắn tất cả chúng ta chọn cuộc đời, dù nghèo nàn, không danh vọng nhưng còn được đôi mắt sáng. Người xưa thường nói:”muốn kiến thì nhờ nhãn, muốn thức thì nhờ trí”, và nhiều triết gia cũng khuyên phải tập nhìn đời bằng con mắt quán chiếu, tha thứ, thương yêu thì ý thức của chúng ta sẽ được sâu sắc và tình cảm của ta dịu mát, êm nhẹ, có lợi cho sức khỏe. Đó là con mắt trí tuệ, bác ái; con mắt Bát Nhã nhìn đời.

Con mắt là phần nổi bật trên khuôn mặt, nên nhiều người không ngần ngại tốn khá tiền để đi nhổ và xâm lông mày, uốn và nối lông mi; cũng như cắt mắt một mí thành hai mí, và tô kẽ mắt đủ thứ màu theo thị hiếu, sở thích của từng người. Chúng ta cảm ơn Tạo hóa, thiên nhiên, ông bà cha mẹ đã cho ta một giác quan THẤY tuyệt vời và chúng ta cũng có thể hảnh diện mình có đươc một “đôi mắt đẹp” để nhìn đời và ngược lại để đời nhìn mình. Điều này chỉ thực sự có ý nghĩa khi đạt được cả hai: hình thức và nội dung.
.

Vy Kính

( Ban Mai Hồng sưu tầm)

 

Đôi Mắt Người Sơn Tây – thơ Quang Dũng – nhạc Phạm Đình Chương- ca sĩ Đức Tuấn

Nắng Thuỷ Tinh – Trịnh công Sơn – Khánh Ly

Mắt Lệ Cho Người – Từ công Phụng – Tuấn Ngọc

Dọc Đường Phụ Nữ

Lang thang vui chuyện.

Mà phải kê khai trước rằng trong cái gia tài tinh thần vốn còm cõi của tôi, phần còm cõi nhất vẫn cứ là phần kinh lịch nhi nữ, để thể tất cùng nhau, tránh những ngờ vực chính đáng từ cái đầu đề vốn không mấy nhã này!!

Mà là dọc đường phụ nữ, chứ tuyệt không có ý phụ nữ dọc đường!

Người phụ nữ mà tôi để ý, để vừa kính vừa hãi, lại là nàng Kiều nổi tiếng tài sắc ai bì. Kính là kính cái đức hiếu để đời, ngẫm xem vào thời tiết trinh người con gái đáng giá nghìn vàng, mà nàng đắn đo đến “ dẻ cho để thiếp bán mình chuộc cha” thì cái sự hi sinh ngang bằng một dấn thân, một liều mình, một lìa bỏ, ngang như người chiến sĩ “ cầm ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo” vậy! Là kính! Mà ứng xử ấy kể vào hàng đáng hãi. Quyết liệt ấy, chỉ nhẹ một phân lượng là đã rơi vào hàng nhẹ lòng kém đức!!! Kể cũng liều lĩnh quá chừng!

Ngẫm sau nàng hai gần hai trăm năm, người phụ nữ đại diện cho tam tòng tứ đức ( hình như là cuối cùng) là chị Dậu cũng thà bán con mà chẳng chịu bán mình! Miễn bình.

Nên chợt ngẫm giá mà mình mặc được cái cốt cách hào hoa phong nhã như Kim, thì tiết Thanh Minh năm ấy hẳn sẽ ngỏ lời chọn Vân làm vợ. Bởi đoan trang tốt nết như Vân thì thật là một thê nhi mẫu mực. Lại  được cái phúc có một bà chị vợ như Kiều để tiết nguyên tiêu kì đoan ngọ lại mời bà chị cùng bả tửu vấn nguyệt cao hứng đàm luận chuyện văn chương rồi lại cung kính tiễn chị về! Ờ, Kiều chắc tửu độ cũng khá đây, đã từng khi chén rượu lúc cuộc cờ mà! Với Kiều lòng ngưỡng mộ chỉ đến thế thời thôi. Thẹn!

Người thứ hai đủ dọa đến nhát thần hồn các bậc nam nhi hẳn là bà chúa Xuân Hương.

Kể từ nhi nữ xuân tình, dám lỏng then tạo hoá đón xuân vào cho đến khi mất hút vào cõi vô tăm vô tích cũng đã hai đời chồng, hai lần lẻ mọn,chưa một lần làm mẹ, ngẫm cũng tội tình. Nàng không có cái để tòng, với nàng, đức Khổng chừng vô kế khả thi trong lời giáo huấn: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.

Không thọ đạo thánh hiền, mà nàng như cũng xem thánh hiền như quỉ thần kính nhi viễn chi, bởi suốt đời lập ngôn nàng chưa một lần ngạo cùng đức Khổng, ngoại lai nàng ngạo tất: Dạy lũ khoá sinh làm thơ, châm chọc sư sãi thánh thần, giẹo chân giễu tướng Tàu thất thế… Lại còn cợt người quân tử nặng bụng đồ thư đến nửa phần người thất thế với nửa phần thái giám.

Kính bái!

Trong danh sách nhi nữ của tôi còn một dấu khuyên đỏ cho bà Đặng Thị Mẫn, dòng dõi họ Đặng nổi tiếng thi thư làng Lương Đường tỉnh Hải Dương, vợ của đấng tú tài nỗi tiếng phong nguyệt tình hoài Trần Tế Xương.

Lặn lội một đời, cam chịu một đời, hi sinh một đời. Con nhà dòng dõi mà cam vì chồng hoá thành hàng tôm hàng cá, chịu tiếng đời mai mỉa, thật thà cũng thể con buôn, khôn ngoan cho lắm cũng phường lái trâu.

Thế mới hiểu Tứ Xương dù ác khẩu đến có lúc ví mình là chó ( Tế đổi làm Cao mà chó thế) mà cứ một mực nắn nót cho bà Mẫn thành hình tượng con cò lặn lội thật đáng yêu( lặn lội thân cò khi quãng vắng).

Bà Mẫn sinh được một gái, tên là Thục, tiếc rằng không đủ thời gian tiền của để thoả cái tâm huyết về quê Nam Định xin tham lĩnh gia phả dòng họ Trần, tìm xem cô Thục ấy rồi còn lưu giữ cái đức bà Mẫn đến mấy đời!

Trên là những gương mặt phụ nữ đã trở thành cổ điển. Ngẫm một điều không ngoa ngoắt mấy rằng lắm người trong lớp hậu sinh nhiều khi ngộ chữ, loạn chữ thành liều lĩnh mà ao ước dại có ngày sánh với một nàng đáng mặt như những hình mẫu của sách giáo khoa! Biết đâu cái mặt trăng kia cứ sáng rờ rỡ cốt chỉ lừa đời cho vui, kì thực nó khô không khốc, đố ai sống được với nó!

Đem công dung ngôn hạnh mà đo thì chừng nhiều khiếm khuyết đó.

Kiều khuyết cái công. Nên bị trạng Trứ mắng.

Người cổ nguyệt lại hỏng cái ngôn. Nhà nho mắng là con yêu nữ họ Hồ!

Kính cụ Ức Trai nên chẳng dám có điều vô phép, nhưng mách nhỏ rằng bà Thị Lộ được vua yêu hình như cũng làm cụ Nguyễn đau lòng thì phải, không dưng sao lại nhắn gửi “ ngoài ấy dầu còn áo lẻ, cả lòng mượn đắp hơi cùng!”

Bà Nguyễn Thị Hinh nhờ oai ông huyện Thanh Quan đã ấm cái thân, lại còn vượt phận dám khuyên xằng xử bậy để đến nỗi thân ông mang vạ! Thật chẳng chính danh. Chưa tại kì vị đã mưu kì chính.

Chao cái dân tộc văn hiến này, đã tạc nên người phụ nữ ngóng chồng hoá đá, lại dựng nên bà Trưng cưỡi voi bà Triệu cưỡi cá kình. Thật lắm điều ghê gớm! Tôi cũng tự hào về phụ nữ anh hùng, phụ nữ thi nhân, phụ nữ tài hoa của sách vở ngàn xưa để lại lắm, nhưng vẫn phải thật lòng nhắc nhỏ phe mình hãy cứ mê mê muội muội nhưng cũng khắc khắc mà tỉnh cái nhìn!

Lời ngay khó nuốt. Khéo tối nay gặp cơn ác mộng thấy bà Lê Chân dẫn một đoàn nữ binh về chỉ thẳng roi ngựa vào mặt mình mà mắng: Thằng này láo, quân đâu…

Tháng 10 ngày nghỉ.

Nguyễn Tấn Ái.

Má Hồng Một Thuở

Trời sinh làm kiếp má hồng

Là xui em những đèo bòng truân chuyên

“Má hồng” là nhũ danh cho một nửa thế giới. Một nửa thế giới ấy nếu thiếu đi sẽ là cả một đại họa, sẽ không thể tồn tại được một chu trình kiến vận của tạo luật, sẽ không còn cái gọi là sắc màu cuộc sống, ngắn gọn hơn, là không có cả nửa thế giới còn lại nữa. Nhưng một nửa thế giới vô cùng quan thiết này đã, đang hiện diện và tồn tại như thế nào ?

Bằng vào giới chức từ đấng thiên năng giao phó, những má hồng mặc nhận thân sinh nghiệp tại với bao nỗi thăng trầm đa đoan trúc trắc. “Má hồng phận bạc”. Không bỗng dưng mà nảy ra câu thành ngữ ấy. Nó đã dược chiêm nghiệm từ hàng nghìn hàng triệu mảnh đời liễu yếu tự đông tây kim cổ. Cho đến bây giờ và cho đến cả muôn sau, câu thành ngữ ấy vẫn luôn có một vị trí cố định trong thế giới người.

Vì sao lại bạc ?

Là bởi vì cuộc sống luôn đòi hỏi quá nhiều ở người phụ nữ. Cứ như đã sinh ra làm phụ nữ thì phải có nhiệm vụ chu toàn tất thảy mọi điều. Phải đẹp, phải xinh, phải duyên, phải giỏi, phải biết năng động, phải biết lo toan, phải biết dịu dàng, phải biết chu đáo, phải biết hy sinh, phải biết nhường nhịn, phải biết khoan dung, phải biết chịu đựng…Có quá nhiều cái phải, và thiếu bất kỳ trong những cái phải ấy thì cứ nghiễm nhiên như là có lỗi. “Phụ nữ gì mà…”. Lại một yếu tố đặc tính của tạo hoá, phụ nữ luôn sống theo cảm tính, lấy tình cảm làm căn bản sống, bao nhiêu khó khăn gian khổ gì cũng có thể cưu mang gánh vác được chỉ vì một chữ “Tình”. Trong khi đối tượng phối tác thì lại mang một đặc tính hết sức trái ngược “tham lam và ích kỷ”. Đây là vấn đề then chốt để bao nhân trần khổ ải chất lên tấm thân mỏng mảnh yếu đuối. Đôi lúc nghĩ tạo hoá cũng hết sức tinh vi khi sắp bày cơn cớ. Để bao mảnh đời mỏng manh yếu đuối ấy vẫn dẻo dai bền bỉ mà chống chèo qua sông to biển lớn nghiệt oan cũng nhờ vào một chữ “Tình” thăm thẳm.

Phần lớn phụ nữ thường đơn giản trong khát vọng. Họ chỉ mong có một cuộc sống bình ổn bên những người mà họ thương yêu. Họ luôn muốn đem hết khả năng sức lực của mình để mà lo toan chăm sóc chồng và con. Không hiếm khi họ bỏ quên cả bản thân, điều họ mong được đáp lại là tình cảm. Chỉ cần một hành động quan tâm nho nhỏ thôi, họ cũng đủ phấn khích và thoả mãn lắm rồi. Họ không nhiều tham vọng chinh phục những đỉnh cao nào cả. Họ lặng lẽ làm chiếc bóng, làm một thứ phông nền cho những bước tiến của chồng con, họ lấy niềm vui và sự thành đạt của chồng con làm hạnh phúc của mình. Và cũng không ít những người trong số này phải nhận lại những hồi đáp tệ bạc. Những “đối tác” cứ như tự cho mình nghiễm nhiên được thụ hưởng, mà không hề nghĩ rằng trong những thành quả mình có được một phần không nhỏ thuộc về những công sức lặng thầm kia.

“Chẳng lẽ không có đàn ông, phụ nữ không sống nổi sao ?”

Đó là câu có thể thốt ra từ khoảng 20% những người phụ nữ đủ mạnh mẽ cứng cáp để không phải phụ thuộc qúa nhiều một nửa của phía bên kia. Típ phụ nữ này thường là cái gai trong mắt đàn ông. Là bởi họ làm cho đàn ông không có cơ hội thể hiện cái gọi là nam tính của mình, không có có hội sở hữu hay ít nhất cũng tỏ ra được một chút oai phong. Trong con mắt của đa số đàn ông, phụ nữ không được phép thoát khỏi sự quyền chế của họ. Như một định lý bất biến ở cuộc đời này “Chân lý thuộc về kẻ mạnh”. Vì thế mà với đàn ông ít nhất cũng có đươc vài thế mạnh, mạnh về sức lực, mạnh về tiềm lực kinh tế, mạnh về quan niệm số đông xưa nay nghiêng ưu thế về họ. Để rồi đó đây trên trái đất này, vẫn luôn có rất nhiều những mảnh đời mong manh yếu đuối phải chịu sự khuất luỵ của kiếp “mà hồng phận bạc”.

Trên đời này không có gì là tuyêt đối, số đông không có nghĩa là tất cả, vẫn có một thành phần phụ nữ có được một đời sống êm ấm hạnh phúc thực sự. Thành phần này đương nhiên là đã có được những yếu tố then chốt của giới phái, họ cũng phải trải nghiệm gánh vác những trách vụ đặc trưng của tạo luật, nhưng điều quan trọng hơn, là họ nhờ gặp được những người đàn ông thực sự biết quan tâm, biết chung chia, biết tôn trọng và thương yêu dúng nghĩa, nhờ đó mà sự vất vả lo toan cũng giảm đi được ít nhiều. Chỉ có điều so với tổng thể thì con số này thật quá chênh lệch. Nên nhìn quanh nhìn quẩn vẫn thấy quá nhiều má hồng nhạt nhoà nước mắt, vẫn thấy nhan nhản những bất công đày đoạ, những gương mặt dàu dàu héo úa, những giọt nước mắt lã chã rơi trên những đôi tay gày guộc, những khuất chìm dồn nén xuống tận đáy lòng, những âm thầm gắng gượng mà đi qua mảnh đời phận bạc long đong.

Cách này hay cách khác, hình thức này hay hình thức khác, bối cảnh này hay bối cảnh khác, những má hồng vẫn dọc dài kiếp phận truân chuyên. Tác giả bài viết này thật lòng gửi đến một lời tri cảm những đấng mày râu đáng bậc trượng phu, đúng nghĩa chính nhân quân tử. Các vị đã làm cho những người phụ nữ của các vị cảm nhận được ý nghĩa về sự có mặt của họ trong cuộc đời này. Và cũng xin mong cầu phần nhiều những “nam nhi chi chí” khác, hãy sống xử một cách chân thành, có tình và tôn trọng hơn một nửa của mình. Cho dù một nửa của bạn ấy chẳng tài cán nổi trội, chẳng hương trời nước sắc, họ chỉ có một trái tim và một tấm lòng đã trao cả về bạn. Nếu tất cả những người đàn ông trên thế gian này, biết mình biết người một chút, thì chắc chắn những “má hồng” cũng sẽ không đến nỗi “phận bạc”. Nhân một ngày cho một nửa thế giới mỏng manh liễu yếu, xin gửi lời cầu chúc đến những chị em yêu quý của chúng ta thật sự có một ráng hồng hạnh phúc trên đôi má dẫu làn da đã tô đậm những vệt màu thời gian.

.

Đàm Lan

Đưa con đi học

Ngày cao điểm, mẹ phải đưa chị lớp Chín đi học lúc 6g30, quay về đưa anh lớp Hai đi học 7 giờ, lại quay về đưa bé Út đi mẫu giáo lúc7g30 rồi đi làm luôn; trưa tranh thủ ra sớm rước chị lớp Chín lúc 11g45 về nhà ăn cơm, nghỉ ngơi tí xíu lại đến trường 13g30; chiều 17g đi làm ra ghé rước chị lớn cùng về; buổi tối lại thêm 2 tua đưa và rước một trong hai anh chị đi học thêm. Buổi trưa, ngoài cái nắng nóng như thiêu đốt còn là cảm giác căng thẳng vì buồn ngủ mà không được ngủ. Có khi mẹ đang lái xe một cách tập trung vì vấn đề ấy thì nghe gõ cốc cốc vào đầu từ phía sau; thì ra là cái nón bảo hiểm của con cốp cốp vào nón mẹ – con ngủ gật.

Ấy là mẹ đã sử dụng quyền trợ giúp “nhờ người thân” trong việc đưa đón các con đi học. Bởi thế, có lần khi vừa đến trường trường mẫu giáo, bé út hỏi sao các bạn được mẹ đón còn con thì không. Mẹ trả lời vì mẹ đi làm ra rất trễ. Con gái của mẹ tạm thời bỏ qua. Còn Bách, một bạn cùng hoàn cảnh với con đã nói cứng rắn: “Con sẽ đợi mẹ”. Và hôm sau, khi mẹ Bách đến đón, con trai đang khóc vì buồn và sợ: mẹ Bách bị kẹt xe đến trễ.

Chuyện đưa con đi học thời kẹt xe ở Sài gòn thì đúng là dở khóc dở cười. Một buổi sáng, cái lô cốt đào đường hiện diện ngay trước cổng trường mẫu giáo của bé Bơ. Vất vả lắm với bao nhiêu là khói và bụi, chiếc xe của mẹ và bé Bơ mới tới được cổng trường. Tới cổng trường rồi nhưng còn khó khăn lắm mới lọt vào được sân trường nên mẹ phải gửi bé Bơ lọt vào cổng trường trước cho đỡ cái khói bụi, mồ hôi, ồn ào. Cho đến khi đưa được xe vào sân trường, không thấy con đâu, mẹ hốt hoảng chạy lên lớp, con đang ngồi trên cái ghế thấp cất ba lô vào tủ trước của lớp, mắt ngấn nước, và chỉ chờ có gặp mẹ là bao nhiêu nước trong đôi mắt ngây thơ đến tội nghiệp ấy trào ra. Mẹ cũng không cầm được nước mắt.

Cũng là nạn kẹt xe mà có những chiều đón chị lớn về nhích từng chút một, có khi hơn cả tiếng đồng hồ, mà cái đoạn kẹt xe chỉ cách nhà còn ½ cây số. Rất xót con thời giờ không có, bài vở lúc nào cũng nhiều quá sức có thể hoàn thành, nhưng nạn kẹt xe không loại trừ ai. Con đã ra khỏi nhà từ trước 6g30 sáng và cũng vào giờ đó buổi chiều tối mới về được tới nhà.

Không kẹt xe thì quang cảnh trước trường đầu giờ sáng rất vui, đáng được làm thành một bài tập làm văn. Nhìn từ xa trên cao, hầu như tất cả chỉ có một quy trình: xe trờ tới cổng trường, các cô cậu học trò xuống xe, chào ba mẹ và bước vội vào trường; có khi vội quá quên đồ lại phải í ới gọi nhau quay lại. Không nhiều, nhưng cũng còn vài gia đình giữ nếp hôn tạm biệt, trông rất tình cảm. Có phụ huynh vội vọt xe đi, cũng có người nán lại đến khi con vào khuất cổng trường …

Bước qua cổng trường là con đã vào một thế giới khác, ở đó là thầy cô, sách vở, bạn bè, những giờ học nối tiếp nhau, một guồng máy mãi quay kéo theo bao nhiêu là tâm huyết, sức khỏe thầy và trò. Những lần đến sớm đón con, mẹ thích quan sát quang cảnh trong sân trường: những con người di động và những vật thể đứng yên. Tất cả đều mang màu sắc của dạy và học. Tuy là học trò tất cả đều đồng phục, nhưng không một ai giống ai. Mẹ tưởng tượng trong vai Thầy Cô đứng trước lớp, trước mấy chục khuôn mặt và từng ấy đôi mắt khác nhau đang nhìn mình, quả là một điều thú vị. Chấm bài, đọc từng ấy nét chữ, quả là cuộc sống đầy sắc màu. Nhiều lúc thật là buồn với cái cặp 4-5 kg của con, nhưng cũng biết từng ấy chữ nghĩa, kiến thức con được học mỗi ngày. Và cho dù mẹ “bó tay” bất lực với một áp lực học hành đè nặng lên một đứa con mà mẹ đã sinh ra vốn đầy đủ, lành lặn, khỏe mạnh, vui vẻ, hiền hòa; mẹ vẫn phải công nhận nhà trường vẫn là một môi trường sống quan trọng, chi phối con nhiều hơn 10 tiếng mỗi ngày ở đó; tình cảm của thầy cô, bạn bè ở đó đã cân bằng và bổ sung tình cảm, nghị lực, ước mơ của con.

Giữa bộn bề cuộc sống gia đình, công việc, con cái học hành, lắm lúc mẹ thấy chuyện đưa đón các con đi học thôi cũng đã là vất vả rồi;mà quên mất các con được đi học, còn đi học, mẹ còn được đưa các con đi học là một niềm hạnh phúc to lớn. Bởi thế, mỗi lần đưa con đến lớp, mẹ luôn muốn cười chào tạm biệt. Cười để xí xóa những gì đã qua;  cười động viên, chúc con tự tin và nhiều may mắn với một ngày mới. Không chỉ có đôi mắt cười mà mẹ còn muốn kéo khẩu trang xuống để cười trọn nụ cười với con.

.

Phương Thảo

16/ 10/2010.

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: