• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 908 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 908 other followers

Cái Nắm Tay Của Thiền Sư

Là lời nhắn gửi về buông bỏ. Buông để có thể sống an yên trong từng ngày.

Là lời nhắn gửi về buông bỏ. Buông để có thể sống an yên trong từng ngày.

Đức Phật khuyên chúng ta thuần phục con khỉ trong tâm, như thế nào?

ĐỨC PHẬT KHUYÊN CHÚNG TA  THUẦN PHỤC CON KHỈ TRONG TÂM, NHƯ THẾ NÀO?

BJ Gallagher – Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
Source-Nguồn: http://www.huffingtonpost.com

Tiếp tục đọc

Về Với Yêu Thương

Giữa sa mạc ai mà không khát nước
Bước vào đời ai chẳng khổ đau.

Nước mắt thường nối gót nụ cười, có niềm hạnh phúc nào mà không nằm trên đau khổ hay một viễn tưởng của đau khổ. Con người chúng ta như đang sống mà không thể thoát khỏi một sự ám ảnh nào đó. Có một triết gia nói: “Một nửa bánh mình vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì lại là giả dối”, và chúng ta, thương thay, lại đang sống với một nửa hạnh phúc của mình. Tiếp tục đọc

Công thức tìm kiếm hạnh phúc

Tại tập đoàn công nghệ khổng lồ Google, có một kỹ sư với nhiệm vụ khá bất thường: Làm cho mọi người hạnh phúc và thế giới yên bình hơn.

https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRND4bjNBIeQ6RS_T97gPj5HPA9BVd3WrEpCQ3U4D8C5pVIXP83Z-5l1Vg

Một vài năm trước, Chade-Meng Tan, một trong các kỹ sư đầu tiên của Google tại Mountain View, nhận ra nhiều đồng nghiệp của mình bị căng thẳng, mệt mỏi ở công sở, và ông đã tìm cách để giải quyết vấn đề này. Tiếp tục đọc

Lời Cuối Cùng Của Milarepa – Surya Das ( Nguyễn Tường Bách dịch )

Lời Cuối Cùng Của Milarepa
Trích: SƯ TỬ TUYẾT BỜM XANH  ( The Snow Lion’s Turquoise Mane )
Nguyên tác: Surya Das
Nguyễn Tường Bách dịch

Bìa sách Tiếng Anh

Tiếp tục đọc

Bốn Hỉ Lạc – Ni sư Ayya Khema

Tất cả chúng ta đều kiếm tìm hạnh phúc, nhưng rất ít người bắt được. Hai điều trong Tứ diệu đế của Đức Phật đã nói rằng hạnh phúc thế gian là ảo tưởng, vậy mà ta chẳng bao giờ từ bỏ hy vọng tìm thấy nó. Tuy nhiên điều đó cũng không hoàn toàn xấu, vì nếu không có lòng mưu cầu hạnh phúc, ta sẽ trở nên thối chí, nản lòng khi không thể tìm được hạnh phúc hoàn toàn. Tiếp tục đọc

Mục Đích của Thiền Định và Cuộc Sống Hôm Nay – HT Thích Minh Châu

https://i0.wp.com/www.daophatngaynay.com/vn/files/images/2011/quy3/5327363552_d194dd3c39_z_975903056.jpg

“Người hãy tự cố gắng
Như Lai chỉ dẫn đường
Ai vào đạo tu thiền
Giải thoát khỏi lưới ma.” (Pháp cú 276)

Trước khi bàn phương pháp thiền định, hãy nói đến mục đích thiền định: “Tại  sao tu thiền định?” hay “Tu thiền định được ích lợi gì?”

Tiếp tục đọc

Tìm Hiểu Nội Dung Và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ( Nguyễn Nam Trân)

Nguyên tác: Yanagida Seizan

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

Phóng Ngưu Đồ


“Tìm hiểu nội dung và xuất xứ Thập Ngưu Đồ” là tựa đề đặt tạm cho phần đầu tác phẩm “Thập Ngưu Đồ: Hiện tượng luận về bản ngã” của hai tác giả  Yanagida Seizan và Ueda Shizuteru.

Tranh thả trâu của Sesshuu

(Tuyết Chu, 1420-1506) – Bản Thảo – 2009

Tiếp tục đọc

Cỏ Non Xanh Tận Chân Trời (Cao Huy Thuần)

Ông giáo Minh soạn bài để giảng một bài thơ xuân. Trong bài thơ có một ông sư già và một cô gái trẻ. Đề tài hấp dẫn như thế, vậy mà đã ba ngày rồi ông chưa hạ bút được một câu.

Sáng nay, ông lại ngồi trước trang giấy trắng. Vợ vừa đi làm. Con còn ngủ. Nhà thanh vắng. Ông nhắp ly cà phê, chờ ý đến. Ý đầu tiên đến với ông là cái giấy phạt xe. Ông vừa ngừng xe, vào tiệm mua bao thuốc lá, trở về xe thì cái giấy phạt đã hiên ngang nằm trước tấm kính. Ông vội vàng xua đuổi ý đó đi, và nó đi ngay, nhưng ông lại chợt nhớ rằng trước khi đi làm, vợ ông có dặn trưa nay phải cho con cái ăn uống đàng hoàng, đừng bắt chúng ăn mãi trứng gà bảy món. Ông lại phải đuổi gà đi, và đuổi thêm năm bảy ý khác nữa, thì, may quá, thơ hiện ra. Nhưng không phải ông sư già và cô gái trẻ. Tiếp tục đọc

Hiểu biết khoa học mới nhất về tâm tĩnh lặng

Mời  các bạn đọc một bài viết rất hay của Bác sĩ Thái Minh Trung, chuyên khoa Tâm Thần, và cũng là một triết gia Phật giáo.

Cám ơn BS Huỳnh Tình đã chuyển bài cho BMH.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng mặc dù con người sống trong xã hội tân tiến nhưng càng về sau này sự thỏa mãn trong cuộc sống giảm dần và mức độ căng thẳng (stress) càng lên cao. Tài chánh và thời gian rảnh rỗi hình như không có đi đôi với nhau. Muốn có tiền nhiều thì phải làm việc nhiều. Hơn nữa xã hội liên tục tạo ra những sản phẩm mới để dụ dỗ người tiêu thụ. Đến một mức độ nào đó, sự chênh lệch giữa cái cần và cái muốn càng ngày càng xa. Sự chênh lệch đó tạo ra căng thẳng. Có lẽ vì thế mà một thăm dò gần đây cho thấy rằng số lượng người thỏa mãn với nghề nghiệp của mình càng ngày càng giảm. Ở lứa tuổi 35- 44, sự thỏa mãn với nghề nghiệp tụt từ 61% xuống 49%.

Nhìn về phương diện đáp ứng cuộc sống, ngay từ nhỏ, con người có thói quen bắt chước. Bắt chước là một phản xạ tự nhiên để bảo tồn sự sống còn. Con khỉ con phải bắt chước khỉ mẹ để tránh những nguy hiểm, loại bỏ những thức ăn có độc tố trong đó, và tập nhận ra những con thú dữ. Khi ta nghe một tiếng nổ và thấy đám đông chạy về một hướng nào đó thì ta không cần suy nghĩ mà chạy theo, ta không cần biết hướng đó đúng hay sai. Dân gian qua sự quan sát nhiều thế hệ có câu tục ngữ nói về bắt chước là: gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh xã hội tân tiến hiện đại, xã hội rất loạn động và khi ta (bắt chước) theo sự loạn động đó thì tâm ta bị loạn động theo. Loạn động tạo rất nhiều căng thẳng tinh thần.

Hệ thống thần kinh loài người khác với loài thú. Ở loài người, vỏ não (cortex) phát triển rất nhiều. Vỏ não giúp cho ta suy nghĩ, phán xét và quyết định một cách khôn ngoan (executive function). Tuy nhiên cái tiêu cực của sự phát triển vỏ não là sự lo âu. Sợ hãi khác lo âu ở chỗ sợ hãi là một chuỗi phản ứng sinh lý giúp cơ thể chiến đấu hay bỏ chạy trước một hiểm nguy. Khi hoàn cảnh nguy hiểm qua rồi thì cơ thể dần dần trở lại sự bình thường. Hơi thở chậm lại, nhịp tim chậm lại và những bắp thịt thư giãn ra. Khi vỏ não phát triển thì con người bắt đầu biết suy nghĩ đến hoàn cảnh sợ hãi trong lúc không có hiểm nguy. Hệ thống thần kinh của chúng ta không phân biệt được sự nguy hiểm do hoàn cảnh và sự nguy hiểm do ta suy nghĩ. Khi ta suy nghĩ về hoàn cảnh nguy hiểm thì tự nhiên tim ta sẽ đập nhanh hơn, ta có cảm giác hồi hộp như đang đối diện với sự nguy hiểm thật sự vậy.

Suy nghĩ thường dựng ra hai thái cực (splitting): không tốt thì phải xấu. Suy nghĩ ít chịu dừng ở chỗ có thể xấu và cũng có thể tốt hay không tốt cũng không xấu. Khi chia thái cực rồi thì não bộ ta mất khả năng nhìn sự thật. Nói một cách khác suy nghĩ tạo một ảo giác trong não bộ mà não bộ cho rằng cái ảo giác đó là sự thật. Nói một cách cho dễ hiểu là thí dụ ta đi trên con đường A và bị tai nạn nơi đó. Ta tin rằng con đường đó rất nguy hiểm và tìm đủ mọi cách tránh con đường đó. Đó là cái thực tế của suy nghĩ lo âu chia ra thái cực xấu và tốt. Như thế suy nghĩ có khuynh hướng thấy phiến diện (reductionistic view) và khó có được sự cảm nhận toàn diện.

Khi ta có suy nghĩ đó rồi thì những mạch thần kinh (neural circuits) liên kết con đường A với nguy hiểm được củng cố. Khi đó thì ta mất đi cái nhận thức rằng sự nguy hiểm đó không phải lúc nào cũng xảy ra. Ta quả quyết tin rằng con đường đó thật sự nguy hiểm. Nếu có người nào đi trên con đường đó mà không có gì xảy ra, họ nói với ta rằng con đường A không nguy hiểm, ta sẽ không tin họ và cho rằng họ là người nói láo hay có ý xấu muốn ám hại ta, xúi ta đi trên con đường nguy hiểm. Như thế do suy nghĩ gắn liền con đường A với sự nguy hiểm, ta dần dần mất đi khả năng nhận thức cái thực tế con đường A không nguy hiểm đối với người khác. Suy nghĩ có thể ngụy tạo cái mà nó cho là “thực tế”. Ở thí dụ trên, suy nghĩ ngụy tạo cái “thực tế” là người khuyên ta đi trở lại con đường A có ý xấu muốn ám hại ta. Nói tóm lại, ta chỉ thấy những gì ta muốn thấy và cho rằng đó là sự thật. Đa số mọi người không nhận thức được điều này vì thế mới xảy ra mâu thuẫn và chiến tranh.

Những nghiên cứu thần kinh học và phân tâm học cho ta thấy rằng chức năng của vỏ não bộ (cortex) càng phát triển thì căng thẳng xảy ra càng nhiều. Căng thẳng xảy ra do sự xung đột của cái “thực tế” vỏ não bộ cảm nhận và cái “thực tế” thứ nhì của hệ thống limbic. Đây là vùng não bộ liên quan đến bản năng và tình cảm. Khi suy nghĩ càng nhiều thì sự liên kết đối thoại giữa hai vùng não bộ này càng khó khăn. Hiện tượng này phân tâm học gọi là cơ chế kháng cự (defense mechanism). Thí dụ như biện hộ hay đổ thừa là một trong những cơ chế kháng cự. Khi ta biện hộ hay đổ thừa thì ta mất khả năng thấy được cái hiện trạng của tình cảm ta. Như thế trong não bộ ta không có sự liên kết giữa hai vùng vỏ não (lý trí) và vùng limbic (tình cảm). Hai vùng não này của ta hoạt động song song và tạo dựng hai “thực tế” riêng rẽ.

Một thí dụ cho dễ hiểu, ông B là người dễ giận sau khi bị tai nạn xe cộ nhưng ông ta không nhìn nhận cơn phẫn nộ của mình. Ông ta hay suy nghĩ (chức năng của vỏ não) để tìm những điểm xấu của những người lái xe cẩu thả làm ông ta giận. Ông ta lập bè đảng và cho rằng những người làm nghịch ý ông là “kẻ thù” vì họ có nhiều hành vi và suy nghĩ không đúng. Đó là cái “thực tế” do võ não suy nghĩ vẽ ra. Vì thế khi lòng sân càng cao thì cái ảo tưởng (delusion) “đe dọa” của “kẻ thù” càng mạnh. Cái ảo tưởng “đe dọa” này nuôi dưỡng lại (feedback) lòng sân hận. Đó là cái vòng lẩn quẩn (vicious cycle) thật khó mà thoát ra. Càng suy nghĩ nhiều thì ông B lại càng tự khóa mình trong ảo tưởng của giận và hận thù. Càng suy nghĩ nhiều thì ông ta càng mất đi cái khả năng nhận ra sự thật khách quan. Ông ta quả quyết rằng cái cảm nhận chủ quan là sự thật. Cũng như người bị cận thị chưa có mang kiến cận thì quả quyết tin rằng cái thế giới mờ mờ là sự thật.

Vì không có sự liên kết hài hòa giữa hai vùng não kể trên nên hệ thống thần kinh ta bị mất rất nhiều năng lượng. Có thể ví như ta ngồi trên xe ngựa có hai con ngựa kéo, mỗi con đi một hướng khác nhau. Sức hai con ngựa kéo thì nhiều nhưng xe ngựa thì không đi đâu xa được. Đó là trạng thái của lo âu. Khi để những suy nghĩ lo âu làm chủ tâm hồn ta thì lúc đó ta không phải có hai con ngựa mà hàng trăm, hàng ngàn con kéo ta đi vô số chiều hướng khác nhau. Quý độc giả chắc ai cũng có, không ít thì nhiều, cái kinh nghiệm của lo âu làm ta căng thẳng, mất ngủ, mệt mỏi và hậu quả của lo âu làm ta mất sự chú tâm (concentration) và làm công việc ta mất hiệu quả rất nhiều. Trong lúc lo âu, ta có thể đọc một trang sách, đọc tới đọc lui hoài mà không hiểu bao nhiêu. Nếu ta đang lo âu mà lái xe thì dễ vượt đèn đỏ hay đi lạc đường. Điều này muốn nói lên rằng trong lúc suy nghĩ lo âu, hệ thống thần kinh ta mất sự liên kết hài hòa, phải dùng năng lượng rất nhiều (ta có cảm giác mệt mỏi) mà hiệu quả (sự chú tâm) thì rất thấp.

Để tâm tĩnh lặng là một cách phối hợp vùng vỏ não và vùng limbic giúp cho hai vùng này làm việc chung với nhau một cách hài hòa (synchronization). Khi hai vùng này bị phân cách thì con người dễ sống ở thái cực hoặc là thích suy nghĩ trừu tượng (extreme rational) hay là thích những phép lạ mầu nhiệm (extreme irrational). Sản phẩm của sự phân cách này trên phương diện tôn giáo là cá nhân áp dụng những giáo điều một cách cứng rắn hay tự bắt buộc mình phải có lòng tin tuyệt đối, dễ đưa đến cuồng tín. Những phản ứng này sẽ tạo ra nhiều căng thẳng hơn vì nó dùng năng lượng thần kinh một cách không hiệu quả, dẫn đến sự rối rắm (confusion). Khi để tâm tĩnh lặng thì vùng vỏ não và vùng limbic sẽ liên kết với nhau dễ dàng hơn và lúc đó cái cảm nhận sự thật sẽ hiện ra khác. Cái cảm nhận thực tại được các giáo chủ tôn giáo gọi là chân lý, có nghĩa là sự thật lúc nào cũng đúng.

Tại sao để tâm tĩnh lặng thì giúp hai vùng não bộ hòa hợp với nhau? Khi suy nghĩ nhiều ta vẽ ra những cái mà ta cho là thực tế. Con người có vô số suy nghĩ khác nhau vì vậy mà có vô số thực tế khác nhau. Kiến thức – sản phẩm của vỏ não – là một khu rừng rậm với vô số loài thảo mộc khác nhau. Càng đi sâu vào đó thì tâm ta càng dễ loạn động, thật khó mà phân biệt kiến thức nào là đúng hay sai. Càng suy nghĩ nhiều để hiểu thì ta càng bị rối trí, như đi lạc vào rừng mà không có địa bàn chỉ hướng đi. Rồi có một số người mong tìm được sự vững chắc, bám vào (cố chấp) một triết lý hay trường phái suy nghĩ hay tôn giáo nào đó và đả phá những người suy nghĩ khác mình. Khi tham được đúng, sân khi bị người khác không chấp nhận mình thì hệ thống limbic (tình cảm) bị khơi động. Khi hận thù kết hợp với những mê lầm của suy nghĩ biện hộ thì con người càng bị lún sâu vào cái thế giới ảo tưởng (delusion) của tự kỷ ám thị (self fulfilling prophecy). Danh từ Phật giáo gọi là vô minh (mất ánh sáng tỉnh thức).

Những kiến thức là hình bóng của sự thật đã qua. Thí dụ: “Con đường A thật nguy hiểm.” Kiến thức và sự thật chỉ đúng (có nghĩa là hòa hợp/synchronize) ở một thời điểm nào đó. Nhưng nếu ta giữ cái hình bóng suy nghĩ quá khứ đó và phóng vào hiện tại và tương lai thì sự hòa hợp sẽ bị mất đi và kiến thức lúc này sẽ trở thành ảo tưởng (delusion). Khi ta lập đi lập lại cái ảo tưởng lo âu trong tâm, ta củng cố những mạch thần kinh liên quan đến sự sợ hãi trong quá khứ và mất đi khả năng tạo những mạch thần kinh hòa hợp với hiện tại. Lúc bấy giờ ta khởi động nỗi lo sợ ở hệ thống limbic và nó lan tràn rồi lấn áp cái thực tại. Ta có thể nằm trong phòng với bốn bức tường thật an toàn nhưng lăn lộn ngủ không được vì những suy nghĩ lo âu đem những cảnh tượng kinh hãi của quá khứ vào phòng ngủ của ta. Stress xảy ra khi tâm và thân mất sự hòa hợp với hoàn cảnh hiện tại (căn phòng ngủ ấm cúng). Những căn bịnh tâm thần có thể xảy ra khi ta không làm chủ được dòng suy nghĩ lo âu.

Khi để tâm tĩnh lặng ta không khơi động những suy nghĩ lo âu. Ta nhìn ra cái giá trị thật của chúng là ảo tưởng. Vì thế suy nghĩ hiện ra rồi biến mất. Lúc đó là lúc ta từ chối không cho tư tưởng của quá khứ liên kết với những mạch thần kinh của sợ hãi. Hệ thống limbic không bị khởi động, ta cảm thấy những bắp thịt thư giãn. Ta không lo âu nên sự chú tâm nhận ra hiện thực càng ngày càng mạnh (trí tuệ). Hệ thống vỏ não không tạo ra những ảo tưởng hay thành kiến nữa nên có thể lắng nghe (hay điều hòa) với hệ thống limbic. Sự điều hòa càng nhiều thì năng lượng thần kinh được dùng càng ít đi. Một sự nhẹ nhàng thật khó tả trải rộng ra trong tâm hồn. Đó là cảm giác khi ta tập tâm tĩnh lặng. Khi đi sâu vào tâm tĩnh lặng, khi hòa hợp nhiều hơn với hệ thống limbic (thế giới của tình cảm và giấc mơ) thì ta sẽ có cảm nhận hòa hợp với nhân loại và vũ trụ. Lúc đó ta mới thấu hiểu được cái nghịch lý của: “trong một có tất cả”. Tâm tĩnh lặng có thể nói là chìa khóa mở cửa vào thế giới của sự hài hòa, vui vẻ và hạnh phúc vững bền.

.

BS Thái Minh Trung

Nguồn:  thienviendaidang.net

Chuyện Người Kỳ Nữ

Bỗng nhiên nàng thấy mình đi từ thế giới này qua thế giới khác, như đi suốt cả vũ trụ. Tâm tư thế nào, thế giới ấy liền hiển lộ, không hề vướng mắc. Mỗi thế giới đều có một thanh âm khác nhau, chỗ nhẹ nhàng, nơi bi lụy, chốn say đấm, nơi thâm trầm. Nàng sực nhớ lời người lữ khách “Trong các loại thanh âm, thì im lặng là thanh âm vi diệu nhất”. Vừa nhớ tới câu đó, một thế giới thù thắng hiện ra, đầy âm thanh mỹ diệu trầm bổng mà nàng chưa bao giờ được nghe.

Vùng nọ, có một đô thị sầm uất, dân cư đông đúc, khí hậu điều hòa. Thương thuyền lui tới tấp nập bất kể ngày đêm, người đi như hội.
Đô thị ngày càng mở rộng nhưng chỗ đẹp nhất vẫn là khu phố cổ, nhiều ngõ ngách nhỏ hẹp ẩn mình dưới hàng liễu rũ xanh tươi. Khách xa tới đây đều tấm tắc khen là thiên đường hạ giới.

Trong khu phố cổ có một kỹ viện, xây dựng lên từ đời nào không rõ. Kỹ viện có nhiều nàng kỹ nữ xinh đẹp, múa hát rất hay. Thương nhân đến đây lắm kẻ quên đường về.Trong các nàng kỹ nữ, có một nàng kiều nữ, mặt đẹp như ngọc. Nàng không múa bao giờ, chỉ ca hát. Đặc biệt nàng tự ôm đàn, vừa đàn vừa ca, không hát cùng ai, không để cho ai đàn hát họa theo. Hàm răng trắng đều, nàng thường nở nụ cười truyệt đẹp. Khách ra về bâng khuâng không biết lưu luyến tiếng hát hay nụ cười. Tông tích người kỹ nữ này không ai rõ, chỉ biết rằng nàng đã vào kỹ viện rất sớm. Cũng không biết ai đã dạy nàng hát, chỉ thấy rằng mỗi lần hát, nàng đưa hồn vào lời ca tiếng hát, khách nghe đôi khi không biết mộng hay thực. Khách yêu tiếng hát thì nhiều nhưng không ai dám hỏi nàng làm vợ. Còn nàng hình như cũng chẳng thiết tha tới ai, sống một mình một bóng.
Ngày qua ngày, người kỹ nữ hát càng điêu luyện, nhưng nàng chỉ còn thích hát một vài bài đắc ý, mỗi lần hát hầu như nàng lạc qua một thế giới khác.

*
Một buổi chiều kia, trời mưa dầm, nàng cảm thấy cô đơn vô hạn. Khách nghe thì nhiều nhưng thế giới hầu như trống rỗng, vắng lặng. Nàng nhìn mưa rơi tự hỏi “trời đất bao la thế này thôi sao, trương phu quân tử chỉ chừng đó thôi sao?”
Nàng bất giác ôm hồ cầm:

Tích tịch tình tang
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ.
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường
Hồ trường hề! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu
Rót về Đông phương,
Biển Đông nổi sóng sinh cuồng loạn
Rót về Bắc phương,
ngọn Bắc phong heo hút cát chạy đá giương
Rót về Tây phương,
mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về phương Nam, trời Nam mờ mịt.
Có người quá chén như điên như cuồng.

(1) Trích Hồ trường, một sáng tác của Nguyễn Bá Trác (đầu thế kỷ 20).

Hát xong lệ tuôn như mưa, khách nghe ngậm ngùi, không ai nói điều gì.
Bỗng trong đám người nghe, có một người khách lạ đứng dậy nắm lấy cây hồ cầm. Người này có vẻ là một lữ hành, áo quần mang nét phong sương, mặt còn trẻ, dáng điệu đôi chút bối rối. Vừa so dây, người lữ hành vừa nói:
– Mời nàng hát lại bài Hồ Trường, lần này ta xin đàn cho nàng hát.
Người kỹ nữ ngỡ ngàng nhìn lữ khách. Nàng chưa kịp nói gì thì y đã tấu lên vài tiếng nhạc. Đàn hồ cầm vốn quen nhạc réo rắt, nhưng trong tay kẻ lữ hành lại khác hẳn. Âm sắc vang lên ấm như mùa Xuân, tươi như hoa nở, sáng như bình minh.

Tích tịch tình tang
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết, lòng ta hay.
Nam nhi sư nghiệp ư hồ thỉ.
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

(1) Trích Hồ trường, một sáng tác của Nguyễn Bá Trác (đầu thế kỷ 20).

Cùng tiếng đàn của người khác lạ, nàng cảm giác như có đôi nam nữ sóng vai nhìn bốn phương tám hướng, niềm cô đon tan biết tự bao giờ.
Nàng vừa hát xong, còn vương niềm vui sướng, người lữ khách đã đặt cây hồ cầm lại chỗ cũ, nói:
– Đường vào đạo có tám vạn bồn ngàn ngõ, thanh âm cũng là đạo. Trong các loại thanh âm thì im lặng là thanh âm vi diệu nhất.
Người kỹ nữ nghe câu nói, không kịp suy nghĩ gì thêm. Nàng ngướic nhìn lữ khách, mắt long lanh, muốn hỏi tên tuổi. Y im lặng đầm ấm nhìn lại, khoong nói gì, xoay người đi thẳng.
*
Một sángkia, còn chưa tỉnh giấc, nàng bỗng nghe tiếng hát:

Như mẹ hiền thương yêu con một
Dám hy sinh bảo vệ cho con
Với muôn loài ân cần không khác
Lòng ái từ như bể, như non

(Kinh Từ Bi (Metta-Sutta). Kinh ngắn gồm 10 đoạn, mỗi đoạn 4 câu)

Nàng nhìn qua cửa sổ, thì ra đó là tiếng hát của một bà cụ ăn xin. Cụ bà ngồi bên vệ đường, đầy người qua, kẻ lại. Mặt mày ủ dột, vai mang một cái bị nhỏ bạc màu. Gọng người ăn xin yếu ớt, sắc âm thô kệch, nhưng lời ca nghe rõ từng tiếng. Khách qua đường không mấy ai đề ý, nàng thương xót sai trẻ cho ít nắm cơm.

*
Ngày tháng trôi qua, tuy không nguôi thương nhớ người lữ hành ngày xưa, nàng kỹ nữ cũng không còn mong ngày gặp lại. Còn bà cụ ăn xin ngày nào cũng ngồi xin gần cửa sổ của phòng nàng, chỉ thuộc vỏn vẹn một bài hát, hát lui, hát tới chỉ một bài đó. Nàng kỹ nữ nghe hoài cũng thuộc lòng.
Một buổi sáng kia, nàng thức dậy lúc bình minh chưa rạng hẳn. Đứng ngắm mặt trời vừa lên, nàng bỗng nhớ âm sắc rực sáng của tiếng đàn người lữ khách chiều nọ. Hốt nhiên nàng cất tiếng hát bài ca của bà cụ ăn xin, đưa hồn vào từng ý nhạc. Nàng đứng nghe tiếng mình như nghe tiếng ai khác. Đến đoạn:

Có hình tướng hay không hình tướng
Ở gần ta hoặc ở nơi xa
Đã sinh rồi, hoặc sắp sinh ra
Cầu cho tất cả đều an lạc

(Kinh Từ Bi (Metta-Sutta). Kinh ngắn gồm 10 đoạn, mỗi đoạn 4 câu)
Bỗng nhiên nàng như lại vào thế giới của chim chóc đang sống chung quanh. Tiếng chim hót dường như không phải chỉ có nhạc mà còn có lời, bỗng một tiếng chim cất lên:
– Vái chào cô nương! Vái chào cô nương…
*
Nàng ngỡ ngàng nhìn quanh. Bỗng một con chim câu sà xuống bên cạnh, nàng nhìn chằm chặp, hỏi chim:
– Ngươi hiểu tiếng người, hiểu ta nói chăng?
Chim đáp:
– Em hiểu cô nương, hiểu cả ý tứ cô nương nữa. Cô nương hát hay lắm nhưng thanh âm buồn quá.
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên cười khanh khách nhưng giọng bỗng chùng xuống:
– Ta buồn làm sao ngươi biết được?
Chim câu thong thả trả lời:
– Cô nương buồn vì gã thiền sư đó, ai lại không biết.
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên cực độ. Chim hiểu ý nói tiếp:
– Người gảy đàn cho cô nương mấy năm về trước là một gã thiền sư phiêu bạt, không gia đình, không bè bạn.
Nàng nửa tin, nửa ngờ hỏi:
– Thiền sư sao vào kỹ viện nghe hát?
– Gã thiền sư đó đã tu dưỡng tới trình độ phi thường, nhưng y vướng nghiệp mê tiếng hát của cô nương….
Nghe nói đến người lữ khách, nàng hỏi dồn dập:
– Thế bây giờ y ở đâu, ta còn gặp y được nữa không?
Chim lắc đầu:
– Y đã qua cảnh giới hòa âm thiên, một thế giới xây dựng thuần túy bằng thanh âm. Y không trở lại đời này nữa.
Nghe xong. Nàng kỹ nữ hết sức đau đớn. Nàng ôm đàn nức nở:

Giờ còn mong chi người hát theo đàn
Giờ còn mong chi hợp cánh hoa tàn
Lời đàn năm xưa ta kết đôi lòng
Lời đàn năm nay đôi lứa xa vời

Trích Cung Đàn Xưa, nhạc Văn Cao

Tiếng đàn giọng hát chưa bao giờ u uất như vậy. Cùng tiếng hát, nàng bỗng chốc đi vào một thế giới mưa gió sầu thảm, xa xa có tiếng suối reo sóng vỗ. Khắp nơi nước xanh trong một màu, không còn tiếng chim chóc nữa.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, nàng lại cất tiếng hát với ước mong gặp lại chim để hỏi chuyện gã thiền sư. Nhưng lần này nàng không rời bỏ được tâm ý loài người. Nàng hát suốt một bài ca ăn xin với hy vọng nghe hiểu được tiếng loài chim nhưng vẫn không được.
*
Ngày tháng trôi qua, nàng kỹ nữ thương nhớ người lữ khách vô hạn nhưng tâm tư nhẹ nhàng thảnh thơi. Một ngày kia, nàng ngạc nhiên thấy mình rũ bỏ tâm bi lụy tự bao giờ. Tiếng hát nàng vút cao:

.…Nhưng thôi, tiếc mà chi,
Chim rồi bay, anh rồi đi
Đường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng
Gửi gió cho mây ngàn bay…..

Trích Gửi gió cho mây ngàn bay, nhạc của Đoàn Chuẩn, Từ Linh.

Một đêm nọ, trăng sao vằng vặc, nàng ngắm ánh trăng trong mát, soi sáng muôn vật, không sở cầu, không phân biệt. Lòng không gợn chút cầu mong, hồn nhiên như ánh trăng, nàng bỗng hát bài ca người ăn xin. Đến đoạn:

Tung rải từ tâm khắp vũ trụ
Mở rộng tình thương không giới hạn
Tầng trên, phía dưới và khoảng giữa
Không vướng mắc, oán thù, ghét bỏ (Kinh Từ Bi (Metta-Sutta). Kinh ngắn gồm 10 đoạn, mỗi đoạn 4 câu)

Bỗng nhiên nàng thấy mình đi từ thế giới này qua thế giới khác, như đi suốt cả vũ trụ. Tâm tư thế nào, thế giới ấy liền hiển lộ, không hề vướng mắc. Mỗi thế giới đều có một thanh âm khác nhau, chỗ nhẹ nhàng, nơi bi lụy, chốn say đấm, nơi thâm trầm. Nàng sực nhớ lời người lữ khách “Trong các loại thanh âm, thì im lặng là thanh âm vi diệu nhất”. Vừa nhớ tới câu đó, một thế giới thù thắng hiện ra, đầy âm thanh mỹ diệu trầm bổng mà nàng chưa bao giờ được nghe.

Nàng đang bỡ ngỡ thì kẻ lữ khách năm xưa hiện ra, ánh mắt đầm ấm không hề thay đổi. Nàng bồi hồi cầm tay người lữ khách, mắt long lanh. Y cầm sẵn trong tay một cây đàn, vừa tấu lên vài tiếng nhạc, nàng cảm thấy sung sướng không thể nào tả xiết.
Từ đó trong thế giới hòa âm đầy thiên nhạc có tiếng tịch tình tang của một cây hồ cầm.
*

Một ngày kia, nàng kỹ nữ muốn trở về thăm quê cũ. Lấy nhân dạng của một bà già, nàng quay lại phố xưa. Đô thị nọ ngày càng phát triển nhưng khu phố cổ với những ngõ ngách dưới rặng liểu xanh vẫn không thay đổi. Kỹ viện xưa vẫn còn, kẻ ra người vào không ngớt. Nàng đi lần đến cửa sổ phòng ngày xưa của mình, cảnh vật không hề đổi thay, kẻ ăn xin ngày nay nhiều hơn trước. Tại chỗ bà cụ ngồi ngày xưa, ai đã xây một cái miếu thờ, đề chữ “Hành Khất Miếu”. Nàng ngạc nhiên hỏi chuyện thì có cụ già giải thích:

– Mấy mươi năm trước, có một bà cụ ăn xin ngồi đây từ năm này qua năm khác. Bỗng một buổi tối sáng trăng, cụ đứng dậy bỏ đi. Có người hỏi đi đâu, cụ nói: “Chuyện cần làm đã làm xong, ta không trở lại đời này nữa”. Nói xong biến mất. Có lẽ đó là một bà tiên giáng phàm thử lòng người trần. Từ đó dân chúng ở đay xây miếu thờ, hương khói không khi nào dứt.
Nàng kỹ nữ rùng mình, tới trước miếu thờ vái lạy. Trên bệ miếu, nàng thấy lại túi vải bạc màu của bà cụ ngày xưa. Mở túi vải ra chỉ có một cuốn sách nhỏ nhàu nát ghi mấy hàng chữ, đọc kỹ chính là bài ca ngày đó. Gấp cuốn sách lại, bìa đề ba chữ “Kinh Từ Bi”
Người kỹ nữ nao nao trong dạ. Thì ra bài này là một bài kinh, tên gọi là “Kinh Từ Bi” . Bất giác nàng ngồi xuống vệ đường, thương nhớ và biết ơn cụ già vô hạn, ca lại bài ca.

Trẻ con thấy một người ra vẻ ăn xin ca bài ca lạ tai, vỗ tay reo cười.
Trong kỹ viện, có ai đó vừa ngưng đàn.

.

Nguyễn Tường Bách

( Trong Tập Truyện Ngắn Đêm Qua sân Trước Một Cành Mai)

Thiền Định và Trị Liệu

Phật Thích Ca, 2500 năm xưa, đã nguyện ngồi thiền dưới cội Bồ Ðề cho đến khi chứng đạt Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác hay thành Phật. Thiền định gồm có nhiều phương pháp nhằm phát triển chánh niệm, tập trung, thanh tịnh, tỉnh giác và tột đĩnh đạc giác ngộ giải thoát. Những kỹ thuật hành thiền cơ bản được ghi chép trong nhiều kinh sách, cũng như được truyền thừa và đa dạng hóa qua hàng ngàn năm.

Trên phương diện sức khỏe, thiền định được xem như một nghệ thuật thư giãn, trong cố gắng giảm thiểu sự căng thẳng bức xúc, đau đớn, tạo cảm giác an lạc, giúp quân bình thân tâm và trị liệu các chứng bệnh.

Chỉ riêng trong Phật Giáo cũng đã có hơn 8 vạn 4 ngàn pháp môn tu tập và số lượng phương pháp hành thiền cùng những chứng bệnh nan y cứ tiếp tục leo thang theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật.

Trong 5 thập niên qua khoa học và y học càng ngày càng chú ý đến thiền, với nhiều nghiên cứu, để được xem như là phương pháp trị liệu bổ sung-thay thế đối với nhiều bệnh trạng khác nhau như trầm cảm, căng thẳng, lo sợ, mất trí nhớ, đau nhức, mệt mỏi, mất ngủ, cảm cúm, ung thư, AIDS (Sida), tê khớp, tim mạch, viêm gan, tiểu đường, suyễn, nghiện ngập, tăng tiến tuổi thọ, vân vân.

Ngay chính những tư tưởng tiêu cực, căng thẳng, xúc động và ưu phiền trong cuộc sống làm cho bệnh trạng càng thêm trầm trọng và nguy hiểm. Thiền định chú trọng và có tác dụng làm cho thân tâm được lắng dịu thanh tịnh, từ đó những trăn trở khổ đau do bệnh tật gây nên cũng được thiên giảm hay tiêu trừ.

Ðức Phật cũng là bậc y sư khi thuyết về câu chuyện người trúng mũi tên độc, không lo nhổ mũi tên, hút máu độc và dùng thuốc rịt vết thương cho lành, mà cứ bâng khuâng muốn tìm hiểu ai đã bắn mình và vì sao bị bắn, v.v. thì e đã quá trễ, không còn cứu được sinh mạng. Thật ra trong câu chuyện ẩn dụ này, Ðức Phật muốn khuyên nhủ một tỳ kheo nên chuyên chú tu hành hơn là mất thì giờ để tâm vào những tìm hiểu khoa học viển vông như thế giới này là hữu biên hay vô biên, nguồn gốc phát sinh loài người, v.v.

Trong thời buổi văn minh tiến bộ này, không phải tất cả mọi sự kiện đều được khoa học giải thích rõ ràng, hoặc những gì được khoa học chứng minh đều là đúng. Tuy vậy “nói có sách mách có chứng” hay căn cứ vào những gì đã được nghiên cứu và công nhận thì vẫn được nhiều người nghe hơn.

chế Thiền Ðnh

Những tác dụng và ảnh hưởng của thiền định có thể được thể hiện dưới 3 cơ chế sau đây.

chế tín ngưỡng

Tư tưởng Phật Giáo không chủ trương thần thánh hóa, tôn thờ một thần linh hay đấng thượng đế nào. Do đó nhiều khi đạo Phật được xem không phải là một tôn giáo để tín đồ cầu xin phép lành, ân huệ, hay cứu rỗi như trong các đạo khác. Giáo lý nhà Phật rất thực tiễn và thấu triệt: mọi sự vật đều bị chi phối bởi vô thường biến đổi, nhân quả nghiệp duyên và trầm luân sinh tử. Thiền định được xem như trái tim của nhà Phật và là trung tâm của đời sống đạo hạnh giúp đạt đến mức độ cao xa của tỉnh giác. Từ trạng thái vô minh hay tiêu cực mê mờ của tâm tiến lên trạng thái tích cực sáng suốt hay minh tâm kiến tánh. Mọi chúng sanh đều có Phật tánh (chơn tâm, bản lai diện mục) hay cái tâm thuần khiết trong sáng, nhưng bị những phiền não tham sân si che lấp như án mây đen phủ kín bầu trời. Thiền định có công năng giúp tâm được thanh lọc dứt trừ mọi cấu nhiễm, đạt an lạc thanh tịnh và giác ngộ giải thoát như trời quang  mây tạnh, trăng sáng rỡ ràng. Cũng chính là lúc ông Phật hiện ngay trong tâm mình không phải tìm kiếm đâu xa. Ðó là ý niệm “tức Tâm tức Phật” của Ðạo Nhất Mã Tổ, hay hiện tượng đại ngộ “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Kinh Kim Cang) của Lục Tổ Huệ Năng, trụ tâm đến không chỗ trụ mà sanh được tâm kia, cái tâm tĩnh tịch – tròn đầy – trong sáng.

Vạn pháp do tâm tạo, những bệnh tật khổ đau là do tâm duyên theo trần cảnh, môi sinh ô nhiễm độc hại và cuộc sống bon chen hỗn tạp đầy căng thẳng bức xúc, thì cũng chính tâm sẽ chữa trị chúng qua thiền định.

Lục tổ Huệ Năng

Trong Ðạo Thiên Chúa, căn bản thần học trong thiền định được xem là nằm tận đáy lòng con chiên, là tâm của Giêsu – người đang cầu nguyện trong con chiên, với con chiên và cho con chiên. Ðây là sự quán chiếu diễn tả tột đỉnh đời sống tâm linh và trí thức một cách tích cực trong trạng thái tỉnh giác hoàn toàn.

Ấn Ðộ là xứ có truyền thống lâu đời về thiền định, ngay cả trước thời Phật Thích Ca. Theo Ấn Giáo, danh từ thiền định được hiểu như là một trạng thái tĩnh lặng, tỉnh táo và tập trung một cách ráo riết, qua đó tri thức và tỉnh giác được đánh thức dậy từ bên trong, khi chú tâm vào một sự vật hay một dòng tư tưởng cho đến lúc đạt đến và hòa nhập vào sự bình yên thánh thiện, đồng nhất với vũ trụ và Thượng Ðế.

Trong phép thiền quán niệm hơi thở (Anapana Sati), Ðức Phật đã chỉ dạy trong Ðại Tạng Kinh Pali (Mahasatipatthana Sutta): Tỳ kheo tìm đến khu rừng, dưới gốc cây hay nơi trống vắng, ngồi tréo chân, giữ lưng thẳng, chú ý hơi thở ra vào nơi chóp mũi và khởi lên chánh niệm trước mình.

Khi chánh niệm được duy trì, hơi thở càng trở nên nhẹ nhàng lặng lẽ, thân thể được êm dịu thanh thản như có cơn gió nhẹ thoáng qua. Với sự tĩnh lặng của tâm, hơi thở càng trở nên vi diệu cho đến lúc có cảm giác như ngừng thở, kéo dài trong nhiều phút, nhưng thật sự hơi thở vẫn tồn tại. Dần dà tâm được giải phóng khỏi 5 triền cái (ham muốn, giận hờn, hôn trần, trào hối và nghi hoặc). Hành giả càng đạt thêm sự bình thản và an lạc. Các thiền tướng bắt đầu xuất hiện báo hiệu thành quả của chánh định. Hành giả bắt đầu vào cận định (upacara samadhi) và khi chánh định phát triển thêm nữa sẽ đạt đến toàn định (appana samadhi). Ðến đây khai thông cho sự chứng đạt nhất thiền, và tiếp tục miên mật sẽ vào các quả thiền cao hơn: nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Hành giả tiếp tục phát triển chánh niệm qua tuệ quán (Vipassana). Ở mức độ cao hơn, tâm trạng như được thoát tục và bắt đầu vào giai đoạn nhập lưu, rồi tiến lên các quả vị thanh văn khác trong chánh định. Khi mọi xiềng xích trói buộc không còn dính mắc, dứt sạch ngã chấp, chứng quả vi thanh văn thứ tư – A La Hán, ra khỏi luân hồi sanh tử. Hầu hết những đệ tử lớn của Phật đều chứng đạt quả vị này, ngoại trừ Ðề Bà Ðạt Ða mưu toan giết Phật để được làm Phật.

chế tâm

Tâm lý chung là khi những căng thẳng hay phiền não dấy lên báo hiệu sự dày vò tâm trí, người ta có khuynh hướng làm cho chúng lắng dịu thay vì phải chịu đựng. Khi một chuỗi tư tưởng loạn động gây ra biến cố bức rức tâm trí, hành giả an trú trong thiền định qua sự tập trung hay quán chiếu vào một đề mục làm cho chúng tan biến đi. Từ đó đem tâm trở về trạng thái bình yên, tạo dựng thái độ không còn sợ hãi khiếp nhược, là hiệu quả và đặc tính căn bản của thiền định.

Một cơ chế khác về tâm lý là sự thiếu lưu thông giữa các cơ năng tâm thần, gây nên sự bức bách ứ đọng bên trong. Rất thường xuyên, các hiện tượng như lời nói, tưởng tượng, xúc cảm là những ngăn kín chật hẹp mà thiền định là nhịp cầu giúp chúng được thông thoáng hòa hợp với nhau. Chẳng hạn thường xuyên đặt sự chú ý của tâm vào những tác động lên thân-khẩu- ý là một phương cách thông thoáng hữu hiệu nhất.

Trái lại, nếu lạm dụng thiền định như một hành vi đè nén – ức chế tâm thì có khi phải gánh chịu những hậu quả khốc hại, như trong trường hợp quá cuồng tín theo một phép thiền sai lệch. Chẳng hạn khi hành giả niệm tên các vị thần linh hay các thần chú vô nghĩa cả hàng ngàn lần, cho đến khi trở thành nhàm chán, tâm trí mờ mịt, lạc vào thế giới mộng du ảo tưởng, không còn lý luận hay phán đoán được gì. Từ đó phát sinh những cảm thọ hỉ lạc giả tưởng, không thể phân biệt quá khứ- hiện tại-vị lai hoặc ngay cả sự chết. Ðây là trường hợp bị “tẩu hỏa nhập ma” mà chính đương sự không hề hay biết, chỉ có người ngoại cuộc mới nhận thấy những hành vi bất thường – điên dại của mình qua sinh hoạt hàng ngày. Do vậy, trong lúc ngồi thiền, phải luôn cảnh giác, tỉnh thức, và giữ chánh niệm. Nếu cảm thấy quá si mê hôn trầm thì nên đứng lên hay rời khỏi bồ đoàn.

Có một hiện tượng tâm bệnh xảy ra cho một tu sĩ trẻ tuổi tại ngoại ô Lhasa – Tây Tạng. Tu sĩ này sinh tâm không thích ngôi chùa mình đang tu tập, nằm ngay dưới chân một ngọn đồi, mà lại phóng tâm ưa thích một ngôi trường kế cận. Từ đó tu sĩ khởi sinh một ý tưởng là mong cho ngọn đồi trượt xuống và đè bẹp lên ngôi chùa trong khi ngôi trường thì vẫn còn nguyên vẹn. Thế rồi cái tâm bất thiện này cứ bủa vây trong đầu óc người tu sĩ, đến nỗi biến thành chứng nhức đầu bức rức và thần kinh khủng hoảng. Cuối cùng tu sĩ thú thật và xin vị trụ trì ngôi chùa cứu giúp. Thầy trụ trì khuyên từ đây luôn luôn quán niệm cho ngọn đồi thật sự đè nát ngôi chùa, đè bẹp mọi thứ trong chùa kể cả thân mạng của chính mình. Người tu sĩ trẻ làm y lời thầy và chỉ trong một thời gian ngắn thì hết chứng đau đầu và không còn ảo tưởng này nữa.

Chung qui, điểm căn bản trong tiến trình hành thiền là sư chú tâm, và quan trọng hơn hết, chú tâm là một sự thực hành trong kiên nhẫn chứ không phải lý thuyết gì xa xôi. Có một thiền sinh cảm thấy rất khổ sở vì không đạt được thành quả trong công phu hành thiền nên đến yết kiến thiền sư của mình và nhờ chỉ cho cách vượt qua chướng ngại. Vị thiền sư đang trong thời kỳ tịnh khẩu nên chỉ viết ra trên giấy chữ “chú tâm”. Thiền sinh không hiểu nên nhờ thầy giảng thêm. Thiền sư lại viết thêm “chú tâm, chú tâm” và trao cho đệ tử. Người đệ tử vẫn không đạt được ý thầy mình muốn nói gì nên đòi giải thích thêm nữa. Cuối cùng thiền sinh nhận được toàn bài học trên giấy: “chú tâm, chú tâm, chú tâm… có nghĩa là chú tâm”.

chế sinh

Thật hết sức khó khăn khi phải sử dụng các kỹ thuật và dụng cụ khoa học đề đo lường và kiểm nghiệm những biến chuyển của cơ thể trong lúc hành thiền, nhưng người ta vẫn có thể thực hiện và chứng minh được những tác dụng hữu ích của thiền.

Cơ thể con người có những phản ứng tự động không qua ý thức để thích ứng với môi trường sống như các phản ứng run rẩy khi rét lạnh, tim đập nhanh khi chạy nhảy, toát mồ hôi khi trời nóng nực, v.v. Tuy nhiên với những cố gắng có ý thức như qua thiền định người ta cũng có thể điều khiển được những phản ứng tự nhiên này.Hành giả lần đầu tiên khi thâm nhập sâu vào thiền định, hơi thở trở nên chậm rãi, nhẹ nhàng, và có khi ngưng trệ hoàn toàn, chính lúc này có thể trải nghiệm đối diện qua cơn sợ hãi bị ngừng thở và sự chết. Nhưng mối nghi được xóa tan ngay qua sự chú tâm vào hơi thở và giữ vững chánh niệm.

Sự hô hấp giảm thiểu hoặc ngừng trệ gây nên tình trạng “hypoxia” – lượng oxy trong máu giảm hạ, có tác dụng làm phóng thích các hormone (endorphins) gây mê và tạo cảm giác êm ái dễ chịu.

Những chứng nghiệm cho thấy các đạo sĩ yogi Ấn Ðộ có thể điều chỉnh lượng oxy trong máu theo ý muốn của mình và tự chôn sống trong một thời dài mà không hề hấn gì. Các thiền sư Nhật Bản cũng có thể làm giảm nồng độ oxy 20% trong lúc hành thiền. Với thiền tiên nghiệm TM, lượng oxy có thể giảm đến 40% và tỷ lệ hô hấp chỉ còn 50%, nhiều hơn gấp bội so với lúc ngủ mê. Ðiều này chứng tỏ tác dụng hiệu quả của thiền định trong tiến trình biến hóa của thân-tâm.

Những khóa thiền kéo dài 30-40 phút cho thấy lượng lactate giảm hạ và lượng phenylalanine tăng lên 20% trong các cơ mô. Hành thiền cũng làm cho lượng máu đến thận và gan giảm đi trong khi lượng máu đến não gia tăng, huyết áp gia giảm tạo ảnh hưởng tốt cho các bệnh tim mạch. Tính đối kháng của da cũng gia tăng làm giảm hoạt động giao cảm và nhờ đó đem lại trạng thái thư giãn.

Những kết quả thực nghiệm cũng cho thấy việc hành thiền làm giảm những kích thích tố gây căng thẳng như cortisol và ATCH, hormone kích thích tuyến giáp TSH và hormone tăng trưởng; trong khi gia tăng hormone thư giãn serotonin và hợp chất arginine vasopressin giúp cho trí nhớ và sự học tập.

Kỹ thuật điện não đồ EEG (ElectroEncephaloGraphy) khám phá một điều mới lạ qua hành thiền là làm giảm thiểu các sóng não kích động như beta và delta trong khi gia tăng các sóng có tác dụng êm dịu như alpha, gamma và theta.

Khoa học gia thần kinh Richard Davidson công bố kết quả nghiên cứu vào đầu năm 2005, khi sử dụng EEG để đo sóng não các vị sư Tây Tạng trong lúc hành thiền từ bi quán. Kết quả cho thấy các nhà sư luôn luôn có sự hoạt động rất cao của sóng gamma so với người bình thường. Trong thiền định, sự hoạt động của não bộ tập trung ở vùng não phía trước (prefrontal cortex), nơi đây các sóng liên hệ có tác dụng tạo nên sự an lạc và tỉnh giác rất sâu và lâu bền.

Vài kỹ thuật tinh vi hơn như fMRI (functional magnetic resonance imaging), cho biết kết quả ngay trong một thời gian ngắn, được sử dụng đo dòng máu trong não và sự hoạt động của não, cho thấy thiền định không có tác dụng như khi ngủ nghỉ mà là một trạng thái thư giãn trong tỉnh thức.

Những phép thiền trị liệu

Hiện tại có rất nhiều phương pháp hành thiền khác nhau của các tôn giáo và trong dân gian, nhưng được nghiên cứu và áp dụng trị liệu nhiều nhất là thiền Tập Trung CM (Concentrative Meditation) và thiền Chánh Niệm MM (Mindfulness Meditation).

Thiền Tập Trung

Thiền tập trung thường được sử dụng như là phương pháp căn bản cho hành giả mới bắt đầu và cũng dành cho bệnh nhân. Người tập thiền chỉ cần chú tâm vào một sự vật như hơi thở, âm thanh, lời niệm, vân vân. Một kỹ thuật đơn giản là có thể ngồi hay nằm (bệnh nhân) thoải mái ở một nơi yên tĩnh, không khí trong lành, mắt nhắm hay mở và chú ý theo dõi hay đếm hơi thở ra vào, tiếng tí tách của đồng hồ, hoặc niệm một vài chữ hay lời kinh mình ưa thích. Khi chú mục như vậy, vọng tưởng lắng dịu, nhịp điệu hơi thở dần dà trở nên chậm rãi nhẹ nhàng, giúp thân tâm được thanh tịnh và an ổn.

Những phép tụng niệm như tụng kinh – niệm chú, thì hầu như các tôn giáo đều áp dụng tương tự như nhau. Pháp môn niệm Phật cho đến “nhất tâm bất loạn” cũng chẳng khác gì một phương pháp hành thiền đạt đến sự định tâm. Nhiều Phật tử theo phép Thiền-Tịnh song tu hay vừa tham thiền vừa tụng kinh niệm Phật. Bên Thiền Tông cũng thường tụng Bát Nhã Tâm Kinh trong các khóa thiền. Một thiền sư Việt Nam cho biết có lần mình ngồi thiền niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” thì tự nhiên cứ thấy phải niệm liên tục như vậy trong suốt cả buổi sáng, không dừng lại được. Từ đó thiền sư này bắt đầu chú trọng về phép niệm Phật. Các thiền đường Lâm Tế ở Nhật cũng thường cho thiền sinh một thoại đầu hay công án để quán tưởng. Như trong công án “vô”, thiền sinh trong lúc ngồi thiền niệm thành tiếng kéo dài “mu…”Một công án khác là “tiếng vỗ của một bàn tay”. Có một thiền sinh nhận công án này rồi cứ phải suy tưởng là tiếng gì, sau đó đem trình thầy những đáp án như tiếng chuông ngân, trẻ khóc, chó sủa, chim hót, ngựa hí, còi hụ, v.v. nhưng đều bị từ khước và bắt phải cố gắng nhiều hơn nữa. Thiền sinh tiếp tục quán chiếu đến lúc tâm tư mệt mỏi chán chường, không còn sức phấn đấu muốn bỏ cuộc, thì đột nhiên khởi lên một ý niệm và vội vã tìm đến trình thầy& đó là tiếng vọng của sự im lặng, tương hợp với ý thầy.

Trong thiền tông Trung Quốc cũng có những thiền sư thích niệm một cái gì trong lúc ngồi thiền như “Tĩnh tĩnh lặng lặng, Liễu liễu thường tri” (Tĩnh tĩnh lặng lặng, Rõ ràng thường biết) để nhắc nhở tâm luôn được tỉnh giác. Phật tử trong môn phái Nhật Liên chỉ chú trọng vào Kinh Pháp Hoa và niệm một câu duy nhất “Namu Myo Ho Len Ge Kei” (Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Trong phép niệm Phật thì “Namu Amita Buddha”(Nam Mô A Di Ðà Phật) hay niệm danh hiệu các vị Bồ Tát như Quan Âm, Ðịa Tạng, v.v. Trong Mật Tông Tây Tạng và Mông Cổ, người tu niệm sâu trong cổ họng âm thanh nghe rất trầm hùng câu chú “Om Mani Pad Me Hong”(Án Ma Ni Bát Di Hồng).

Trong Thiên Chúa Giáo, các con chiên cũng hành thiền khi tụng kinh cầu nguyện vào mỗi tối trước khi ngủ.

Có một số Phật tử Việt Nam tu theo phép thiền xuất hồn (thiền Ông Tám), hiện tại được gọi là “Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp”. Theo nguyên văn ghi trong website chỉ dẫn về phép thiền này “tập trung trí ý lên đỉnh đầu, với ý thầm nguyện xuất hồn lên đảnh lễ Phật. Chỉ chú tâm lên xoáy óc một chút thôi, rồi sau đó nhìn thẳng trung tâm giữa 2 chân mày lâu chừng nào tốt chừng nấy, ý chí thả lỏng, tâm phẳng lặng và ý dỗ cho ngủ. Ngồi càng lâu càng tốt. Khi thiền định, ngứa mình, tê chân hay có ý động loạn thì chỉ niệm Nam Mô A Di Ðà Phật ngay trung tim bộ đầu”.

Trong Tịnh Ðộ Tông cũng có rất nhiều phương pháp giúp tâm không bị vọng động như niệm Phật theo hơi thở, niệm liên tục không gián đoạn, tai lắng nghe âm thanh tiếng niệm, lần theo chuỗi hột, tụng kinh theo tiếng mõ, quán tưởng hình ảnh chư Phật-Bồ Tát, v.v. nhưng mục đích tối hậu là để đến phút giây lâm chung được Tây Phương Tam Thánh (A Di Ðà, Quan Âm, Thế Chí) đến rước về Cửu Phẩm Liên Hoa miền cực lạc.

Ðặc biệt trong 50 năm qua, các nước phương Tây đã áp dụng thiền tiên nghiệm TM (Transcendental Meditation) cho nghiên cứu y học và ứng dụng trị liệu tại nhiều trung tâm thiền, bệnh viện, công tư sở và học đường.

Thiền tiên nghiệm TM do đạo sĩ Ấn Ðộ Maharishi Mahesh Yogi (1917-2008), theo truyền thống Vệ Ðà, mang đến Âu Mỹ từ năm 1958. Chủ trương của Maharashi là tạo ra một trung tâm thiền TM cho mỗi một triệu người. Ông đã đào tạo gần 10,000 giảng viên ở khắp nơi. Nhờ kỹ thuật đơn giản trong ứng dụng nên loại thiền này rất được phổ biến. Cho đến nay đã có chừng 600 nghiên cứu khoa học và y học về thiền TM liên quan đến trị liệu đối với nhiều loại bệnh trạng khác nhau. Ngay trên đất Mỹ có một đại học mang tên Mahashiri.

Phương pháp chung là mỗi ngày hành thiền 2 lần, mỗi lần 15-20 phút, trước bữa ăn (bụng trống dễ hành thiền hơn) với mắt nhắm lại. Phải do một người thầy hay giảng viên trực tiếp chỉ dạy và đặc biệt truyền cho câu mật chú mantra, để hành giả có thể niệm thầm hay niệm thành tiếng trong lúc hành thiền. Chương trình gồm có 7 thứ mục với 2 bài học giới thiệu, một cuộc phỏng vấn, và 4 buổi học (2 giờ) cho 4 ngày kế tiếp. Phương pháp thiền TM được cho là khá giản dị, thiên nhiên và không gượng ép. Qua tiến trình hành thiền, hành giả sẽ đạt đến một ý thức tiên nghiệm được gọi là trạng thái chính yếu thứ 4 của ý thức, một trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, khác biệt với 3 trạng thái: thức tỉnh, nằm mơ và ngủ say.

Thiền tiên nghiệm đã được đăng ký và bảo vệ với thương hiệu (trademark) TM, nên đã trở thành một loại sản phẩm thương mại. Vào thời điểm năm 2007, có nơi học viên phải đăng ký và đóng học phí đến 2,500 đô la cho một khóa học, kèm theo điều kiện không được tiết lộ câu mật chú mà người thầy đã truyền cho, với lý do là mật chú sẽ mất linh nghiệm nếu bật mí cho người khác biết. Tuy trung thành với chủ trương của hệ thống huấn luyện thiền TM, nhưng một số giảng viên khi viết tài liệu hay nghị luận cũng hé mở một số chi tiết về phép thiền này. Ví dụ chọn một nơi yên tịnh, ngồi nhắm mắt, giữ hơi thở tự nhiên, và tự chọn lựa cho mình một vài chữ mantra, có tính cách nhẹ nhàng và trung tính, ví dụ như “tỉnh thức”, “thư giãn”, v.v. hay bất kỳ lời kinh câu kệ ưa thích nào của mình. Có thể niệm thầm hay tụng lớn tiếng mantra này bằng cách lập đi lập lại trong suốt thời gian hành thiền 15-20 phút. Khi tâm xao động cần nhớ trở về với mantra và tiếp tục niệm như trước. Chỉ giản dị vậy thôi, nhưng cũng có tác dụng thư thái dễ chịu như một giấc nghỉ trưa 1-2 giờ.

Người Tây phương hành thiền TM tự do rất thích các danh từ, một hình thức mantra, như “peace” (hòa bình) và “love”(yêu thương). Nhưng cũng có khi đang niệm “love, love, love…” giữa chừng bất chợt thành ra “I love candy” (tôi thích ăn kẹo) thì phải làm sao? Ðến lúc này chỉ cần nhớ lại mantra “love”và bắt đầu niệm trở lại cho tâm khỏi nhảy lăng xăng như con khỉ, “tâm viên ý mã”là như vậy.

Một loại thiền tân thời được gọi là thiền giải tỏa Avrassana của nhóm Theohumanity do Daniel Stacy Barron – người Ðức- sáng lập, đang còn trong thời kỳ thử thách. Nhóm này chủ trương sự giải thoát cảm thể (Emotional Body Enlightnment): những gì khởi lên trong lúc hành thiền được làm cho tan biến đi trước khi rơi chạm vào người, tương tự như những vẫn thạch hay sao rơi bị tan loãng trong bầu trời trước khi va chạm vào Trái Ðất.

Thiền Chánh Niệm

Danh từ chánh niệm (sati) cũng được biết là phát xuất từ chi thứ 7 trong Bát Chánh Ðạo (bao gồm đầy đủ Giới Ðịnh Huệ) thuộc phần Ðạo Ðế của Tứ Diệu Ðế (Khổ Tập Diệt Ðạo) mà Phật Thích Ca sau khi chứng đạt dưới cội bồ đề đã tìm đến vườn Lộc Uyển khai thị và hóa độ cho năm anh em Kiều Trần Như. Thiền chánh niệm đặt căn bản trên ý niệm về sự hiện diện đầy đủ của tâm trong tỉnh giác khi nương theo hơi thở ra vào. Tâm luôn nhận thức dòng cảm thọ, tư tưởng, âm thanh, mùi vị, v.v. mà không gắn bó và liên lụy với chúng. Hành giả ngồi thiền trong yên lặng và tỉnh táo, quan sát một cách vô tư những gì đang xảy ra xuyên qua tâm; không phản ứng và dính mắc với những kỷ niệm,  hồi tưởng về quá khứ hay những suy tư, toan tính đến tương lai. Hậu quả là tâm đạt được trạng thái tĩnh lặng, trong sáng và an ổn. Tuy lúc mới khởi đầu hành giả cũng cần trải qua một thời gian thực hành phép thiền tập trung để luyện tâm cho thuần thuật, rồi dần đà không còn chú mục vào một đề mục duy nhất nào. Trên thực tế việc ứng dụng trị liệu của thiền chánh niệm được giản dị hóa đi nhiều, không bó buộc phải tuân thủ triệt để các phép thiền chỉ (Samatha) và thiền quán (Vipassana) của giới tu sĩ.

Kỹ thuật thông thường là tự tìm một nơi yên tịnh, thoáng sạch, vào sáng sớm hay chiều tối, ngồi xếp bằng thẳng lưng trên sàn nhà có kê gối đệm (bồ đoàn), hoặc cũng có thể ngồi trên ghế và đặt 2 chân thoải mái trên sàn nhà. Hai bàn tay chồng ngửa lên nhau trên đùi với 2 ngón cái chạm nhau, mắt có thể nhắm lại hay hé mở tùy nghi. Nếu ngồi được theo thế kiết già hay bán già thì càng tốt, nhưng rất dễ bị đau chân cho người mới tập. Bắt đầu hít thở một cách tự nhiên và đều hòa. Nếu tâm bị chi phối do vọng tưởng khởi lên thì nên tập trung vào hơi thở bằng cách đếm hay theo dõi hơi thở, hoặc niệm một vài chữ như “chánh niệm”, “tỉnh giác”, v.v. Trong những ngày đầu chỉ cần tập 5-10 phút, sau đó tăng lên từ từ 15-20-30 phút hay nhiều hơn tùy theo khả năng. Khi tâm trở nên ổn định hơn, chỉ cần quan sát ghi nhận một cách khách quan những gì đang xảy ra. Hãy để cho những vọng tưởng, hình ảnh, âm thanh, v.v. khơi dậy, lưu lại và biến đi một cách tự nhiên, không kích động, không đè nén hay xua đuổi chúng, không thêm không bớt và không quan tâm gì đến chúng. Sau khi xả thiền nên làm những vận động cơ thể nhẹ nhàng như các thế tập hatha-yoga, khí công, taichi hoặc đi kinh hành, để giúp thân trở lại trạng thái bình thường và máu huyết lưu thông.

Kiên nhẫn thực tập sau vài ba tháng thì có thể hội nhập được với thiền tùy căn cơ của mỗi người. Hành giả có thể chia làm 2 thời hành thiền khác nhau: (1) chính thức nên dành một thời biểu nhất định cho việc ngồi thiền hàng ngày, (2) bán chính thức là thực tập theo tuệ quán tứ niệm xứ (Vipassana) vào bất cứ lúc nào thuận tiện. Ví dụ như khi ăn chỉ chú ý vào việc ăn, biết mình đang gắp thức ăn, nhai, nuốt, mỗi động tác đều biết rõ ràng như vậy. Khi đi để ý theo những bước chân, khi nằm chú tâm vào hơi thở ra vào theo sự phồng xệp lên xuống của bụng, vân vân. Nên bỏ dần những thói quen làm nhiều việc cùng một lúc như vừa ăn cơm, vừa xem tivi, vừa nghe điện thoại. Thêm vào đó lúc thuận tiện cũng có thể tập xen kẽ thêm phép quán từ bi hay trải lòng thương của mình đến người khác, bắt đầu từ bản thân mình rồi vươn dần ra đến những người thân, bạn bè, bà con họ hàng, kẻ thù, muôn loại chúng sanh.

Ðối với những nghiên cứu khoa học và y học, người ta thường thực hành thiền chánh niệm theo phương pháp 8 tuần lễ thư giãn của Tiến Sĩ Jon Kabat-Zinn trong chương trình MBSR (Mindfulness Based Stress Reduction), được phác họa từ năm 1979 tại đại học Massachusetts – nước Mỹ. Học viên tham gia khóa thiền 2 giờ mỗi tuần, nhưng về nhà tự thực tập 45 phút mỗi ngày theo hướng dẫn trong đĩa ghi âm, và sau cùng tham dự một ngày dài thảo luận về kết quả. Có trên 250 cơ sở như bệnh viện, trường học, trung tâm cộng đồng, v.v. ở khắp nơi, hoặc làm công tác nghiên cứu, hoặc ứng dụng trị liệu, hoặc cho cả hai theo phương pháp này.

Trị liệu

Những triệu chứng và bệnh trạng sau đây đã được nghiên cứu và trị liệu qua ứng dụng thiền định như một phương pháp bổ sung – thay thế.

AIDS (Sida)

Bệnh AIDS là do vi khuẩn HIV (Human Immunodeficiency Virus) tấn công và giết hại những tế bào hồng huyết cầu lymphocytes (CD4T) – giữ nhiệm vụ bảo vệ hệ miễn nhiễm (immune system). Loại vi khuẩn này dần dà làm cho cơ thể mất khả năng kháng lại sự nhiễm trùng và vài loại ung thư.

Nhiều biến chứng do HIV gây ra gồm cả tử vong là do hậu quả của nhiễm trùng chứ không phải trực tiếp từ HIV. Khi số lượng tế bào CD4T giảm sút dưới mức 200 hay với những triệu chứng phát khởi rõ ràng là bệnh nhân đã thực thụ nhiễm bệnh. Vi khuẩn có thể được truyền nhiễm qua máu hay dịch thể giao cấu, rồi phát triển, lây lan, phá hoại các tế bào, mà nhiều khi bệnh nhân không hề hay biết trong vòng vài tháng cho đến nhiều năm. Có chừng 40 triệu bệnh nhân nhiễm bệnh AIDS trên toàn cầu.

Kết quả nghiên cứu mới đây (Tháng Bảy 2008) tại đại học California – Los Angeles cho biết một kẻ thù khác của AIDS là sự căng thẳng bức xúc (stress) càng làm tăng tốc sự giảm sút các tế bào hữu ích CD4T. Ứng dụng thiền chánh niệm có tác dụng gia tăng số lượng tế bào này, do đó làm chậm lại hay chận đứng tiến trình bệnh AIDS.

Những bệnh nhân AIDS được chia thành 2 nhóm: nhóm tập thiền theo chương trình 8 tuần lễ MBSR của Kabat-Zinn và một nhóm khác không tập thiền để so sánh. Kết quả đạt được là bệnh nhân nhóm tập thiền trung bình tăng thêm 20 CD4T trong khi bệnh nhân nhóm kia mất đến 185 CD4T. Những chương trình huấn luyện thiền chánh niệm cho tập thể được xem là ít tốn kém và có triển vọng trở thành một phương pháp trị liệu bổ sung – thay thế cho những bệnh nhân AIDS.

Ung thư

Nguyên nhân của ung thư là do một nhóm tế bào bộc phát bất bình thường vượt quá giới hạn, xâm nhập phá hủy các mô kế cận và lan truyền đến những nơi khác của cơ thể tạo thành các bướu ung thư. Bệnh ung thư ảnh hưởng mọi lứa tuổi ngay cả bào thai, nhưng thường gia tăng với tuổi tác. Chứng ung thư gây tử vong 13% trên tổng số các loại bệnh trạng khác.

Những nghiên cứu y học đã xác minh thiền định giúp giảm thiểu lo lắng, bức xúc, đau nhức, huyết áp, mất ngủ và từ đó có thể được áp dụng giúp bệnh nhân ung thư vượt qua những cơn đau, căng thẳng, hoảng sợ, v.v. cũng như tăng cường sức phòng thủ và đề kháng của hệ miễn nhiễm hầu bảo vệ cơ thể người bệnh.

Có những phương pháp trị liệu hiện đại như sử dụng các kỹ thuật đốt bằng tia phóng xạ hay qua phẫu thuật cắt bỏ phần mô ung thư, nhưng đây là loại bệnh trạng chí mạng cần được phát hiện sớm sủa và chữa trị kịp thời.

Bác sĩ tâm thần người Úc, Ainslie Meares, với những nghiên cứu riêng của mình được tường trình từ năm 1976, đã đề nghị sử dụng thiền định hoặc riêng rẽ hoặc cùng chung với các phép trị liệu khác cho các chứng ung thư. Qua đó thiền định không những làm tăng cường sức đề kháng của hệ miễn nhiễm mà quan trọng hơn cả là giảm hạ những căng thẳng từ những cơn đau cũng như những ưu phiền, lo toan, sợ hãi, số phận hẩm hiu của bệnh nhân. Phép hành thiền gồm 3 yếu tố: thân an tịnh, niệm mantra và vận động nhẹ, ít nhất tập một giờ mỗi ngày. Ðặc biệt tránh cho bệnh nhân sự giao tiếp qua chữ viết, âm thanh hay lời nói có tính cách lý luận hay học hỏi, hầu tránh làm nhiễu loạn tâm trí người bệnh. Ông ta tiến hành trị liệu cho 17 bệnh nhân ung thư trong giai đoạn bệnh đã phát triển khá cao hay ở giai đoạn cuối. Các bệnh nhân hoặc không hề có sự trị liệu chính thống hoặc đã nhận sự trị liệu từ thuốc hay phóng xạ vài tháng trước đó. Kết quả cho thấy họ đã có thể sống thêm trung bình một năm, trong khi các phép trị liệu khác phải chịu bó tay và cho biết là chỉ chờ ngày chết.

Vào Tháng Mười Một năm 1979, trên tạp chí Medicine Journal Australia, Bác Sĩ Mearses báo cáo về một trường hợp ung thư ruột kết (colon) của một người đàn ông 64 tuổi, một nhà tâm ly học. Ông ta không chịu giải phẫu mà thích hành thiền trung bình 3 giờ mỗi ngày. Chỉ sau 2 tuần lễ đã thấy có sự cải thiện. Sau 6 tuần thì chấm dứt sự trợ lực bôm thụt vào hậu môn – giúp lưu thông ruột kết. Sau 2 tháng không còn chứng thức giấc giữa đêm. Sau 6 tháng phân trở lại kích thước bình thường và sau 1 năm thì dứt hẳn chứng ung thư.

Phương pháp ứng dụng thiền chánh niệm trong chương trình thư giãn MBSR của Jon Kabat-Zinn đã được sử dụng khá nhiều trong nghiên cứu ung thư, trong số đó một thí nghiệm trên 90 bệnh nhân cho thấy giảm được 31% các triệu chứng căng thẳng bức xúc và 67% tính khí bất thường khi so sánh với các bệnh nhân không hành thiền.

Nhiều nghiên cứu y học về thiền định cho đến nay thường chỉ giới hạn thời gian hành thiền rất ngắn, nên không có cường độ tác dụng lớn như thời gian 3 giờ hay nhiều hơn. Một điều dễ hiểu là những bệnh nhân ung thư, tuy có nhiều thì giờ, nhưng lại không còn đủ ý chí vững mạnh, kiên nhẫn và sức chịu đựng với thời gian hành thiền quá dài nếu không nhận được sự khuyến khích và chỉ bày thích đáng.

Tim mạch

Bệnh tim bao gồm nhiều hình thức khác nhau, là bệnh gây tử vong nhiều nhất ở các nước phát triển, như ở Mỹ cứ 34 giây là có một người chết về bệnh này. Nguyên nhân thông thường là những mạch máu bị thu hẹp hay tắc nghẽn do chất mỡ tích tụ bên trong thành mạch, gây khó khăn cho máu lưu thông và cung cấp oxy đến tim. Các cơ thịt của tim bị thiệt hại do một nguyên nhân nào đó làm giảm sút khả năng bơm máu của tim đến các nơi khác trong hệ tuần hoàn. Khi tín hiệu nội điện (internal electrical signal) của tim bị xáo trộn làm tim không thể bơm máu một cách bình thường, nhịp tim trở nên rối loạn lúc nhanh lúc chậm gây vấn đề cho tim.

Sự bất thường của van tim là một nguyên nhân khác, 4 van tim thay nhau điều khiển lưu lượng máu vào hay rời khỏi tim. Van tim bị hẹp làm tim khó đẩy máu đi và nếu van tim bị hở làm máu bị rò rỉ trở lại, không bơm hết lượng máu.

Các triệu chứng thông thường của bệnh tim là thở gấp, hồi hộp đánh trống ngực, yếu đuối, chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, ra mồ hôi, cảm giác muốn ngất xỉu, vùng tim ngực bị đè ép, nặng nề, đau nhói và có khi lan ra kế cận đến lưng, quai hàm và tay.

Có 2 cuộc thử nghiệm ở Mỹ ứng dụng thiền tiên nghiệm TM vào những thập niên 1980 và 1990 cho thấy những người bị bệnh tim có thể giảm tỉ lệ tử vong xuống 30%. Bác Sĩ Robert Schneider thuộc đại học Maharishi đã lên tiếng rằng đây là sự kiện phát hiện có ý nghĩa đáng kể, chứng tỏ thiền định có thể được sử dụng như một phương pháp trị liệu  hữu hiệu cho bệnh tim.

Một thử nghiệm khác (Tháng Ba 2007) tại đại học Pennsylvania qua tập thiền TM trong 3 tháng và 6 tháng đối với bệnh nhân sung huyết tim (congestive heart failure) cũng cho thấy rõ những cải thiện về phẩm chất đời sống, chứng trầm cảm, và sự giảm bớt số lần trở lại bệnh viện. Thiền định giúp giảm hạ tác động của hệ giao cảm (gây căng thẳng bức xúc) trong khi tăng cường khả năng của hệ phản giao cảm với tác dụng ngược lại.

Tương tự, tại trung tâm y khoa Cidars-Sinai, Los Angeles, Paul-Labrador hướng dẫn một thử nghiệm khác với 103 bệnh nhân vành mạch tim (coronary heart disease). Trong số này, 52 bệnh nhân tập thiền TP trong 16 tuần lễ và 51 bệnh nhân khác không tập thiền để so sánh. Trước và sau cuộc thử nghiệm, bệnh nhân được thử máu, xét lý lịch y khoa, thử chức năng mạch máu, và sự biến đổi nhịp tim. Kết quả là những bệnh nhân tập thiền giảm hạ huyết áp rất đáng kể, cải thiện lượng đường và insulin trong máu, cũng như ổn định chức năng của hệ thần kinh tự động. Ngoài ra còn có những nguyên nhân phụ thuộc ảnh hưởng bệnh tim như thiếu vận động, thức ăn không lành mạnh, sự béo phì, sự căng thẳng bức xúc trong xã hội đa tạp, tạo ra những kích thích tố có hại như cortisol và những chất tác động truyền dẫn thần kinh, rất tai hại cho hệ tim mạch. Việc hành thiền có tác dụng điều hợp hữu hiệu những căng thẳng, giảm hạ sự tiết ra các kích thích tố này. Thêm vào đó, phương pháp từ bi quán (compassion mediattion), hay trải tình thương đến những chúng sanh khác, được xem là có công năng tác động lên hệ phản giao cảm (parasympathetic) giúp tim chậm lại và gia tăng hệ số biến đổi của nhịp tim, nhờ đó tim được khỏe mạnh hơn và giảm nguy hiểm bị bệnh.

Bác Sĩ Vermon Barnes cũng hướng dẫn một thử nghiệm trên 111 trẻ vị thành niên và tìm thấy những em tập theo những khóa thiền TM -15 phút có khả năng làm tăng sự mở rộng huyết quản thêm 21% trong khi những em không tập thiền lại bị giảm đi 4%. Do đó đi đến kết luận rằng hành thiền có thể thay thế cho các liều thuốc làm giảm hạ lượng mỡ trong cơ thể.

Liên hệ đến bệnh tim có các chứng cao huyết áp và đột quỵ (tai biến mạch máu não). Trung bình cứ trong 8 người là có một người bị cao huyết áp, loại bệnh âm thầm thường không có triệu chứng rõ ràng nhưng lại rất nguy hiểm, có thể dẫn đến suy tim hay đột quị bất ngờ. Huyết áp do sức ép của máu lưu thông lên thành mạch khi tim co thắt đẩy máu đi. Số đo huyết áp bình thường là 120/80. Huyết áp trên giới hạn 135-140/85-90 được xem như bắt đầu có triệu chứng cao huyết áp. Bệnh này thường do các chất kết tụ bên trong mạch máu như cholesterol làm nghẽn sự lưu thông và do đó làm tăng huyết áp. Cũng cần kể thêm các yếu tố di truyền hay môi trường và hoàn cảnh sống dễ gây căng thẳng làm cơ thể tiết ra những kích thích tố bất lợi làm tăng huyết áp. Một trong những nghiên cứu cho thấy tập thiền TM có thể làm giảm huyết áp đến 10.7/6.4 (ví dụ  140/90 – 10.7/6.4 = 129.3/83.4).

Chứng đột quỵ là do một hay nhiều mạch máu trong não bị tắc nghẽn vì các chất như cholesterol tích tụ, gây bán thân bất toại hoặc, tàn tật suốt đời hay tử vong.

Những nghiên cứu và ứng dụng thiền định trong y học, nhất là cho chứng cao huyết áp, trực tiếp ảnh hưởng đến bệnh tim và đột quị, mang lại kết quả rất hữu ích và khích lệ.

khớp (Thấp khớp)

Có hàng trăm thứ bệnh tê khớp, nhưng tổng quát có 3 loại chính yếu là do khớp xương có mô sụn bị vỡ, viêm khớp do mô sụn bị xóa mòn gây sưng nhức và chấn thương khớp xương do tai nạn gây nên. Những triệu chứng đau nhức có thể thường xuyên hay cách quãng. Cơn đau thường xảy ra trong lúc di động nhưng cũng có thể vào lúc nghỉ ngơi. Người bệnh cảm thấy đau nhức chỉ một nơi hay lan tỏa khắp cơ thể, các khớp xương có vẻ như cứng lại và mất sự uyển chuyển. Vùng da trên khớp xương đau có thể sưng đỏ lên. Bệnh tình thường gây mệt mỏi chán nản và đi đứng vận động khó khăn.

Y học hiện đại không có phương cách điều trị dứt căn bệnh mà chỉ có thể làm giảm hạ các triệu chứng đau nhức như dùng các loại thuốc chống đau, chống viêm và thuốc an thần, tập luyện các môn vận động nhẹ giúp cơ thể linh hoạt, giảm đau và sau cùng là dùng phẫu thuật.

Một thí nghiệm nghiên cứu ứng dụng thiền chánh niệm trên chứng tê khớp kinh niên (rheumatoic anthritis) tại đại học Maryland Tháng Mười 2007 cho thấy rằng mức độ căng thẳng và trầm cảm của bệnh nhân giảm hạ 35% sau 6 tháng tập thiền.

Ứng dụng thiền chánh niệm bằng cách ngồi thoải mái ở một nơi yên tĩnh, mắt nhắm, chú ý vào sự phập phồng của bụng theo hơi thở ra vào (bụng phồng khi hít vào và bụng xẹp khi thở ra) với cảm giác như đang trôi theo dòng hơi thở, nếu tâm giao động, chỉ đơn thuần trở về chú ý vào hơi thở. Ví dụ như bất chợt nghe một âm thanh, tiếng nhạc, chuông điện thoại, v.v. chỉ cần biết như vậy, nghe như vậy mà không suy nghĩ phán đoán gì thêm. Cần chú tâm vào sự im lặng giữa các âm thanh xảy ra. Cách hành thiền chánh niệm như vậy có thể giúp làm mất tác dụng của sự căng thẳng và cơn đau nhức.

Một thí nghiệm khác được thực hiện ở trung tâm y khoa đại học Massachusetts trên 90 người mang chứng đau nhức kinh niên. Sau 10 tuần lễ tập thiền, các cơn đau, việc sử dụng thuốc và các triệu chứng lo buồn giảm hạ trong khi sự tự tin, hoạt bát và lạc quan gia tăng. Những phản ứng thuận lợi này còn được duy trì cho đến 15 tháng sau, trong khi nhóm những người không tập thiền không cho thấy dấu hiệu cải tiến nào.

Tiểu đường

Hầu hết thức ăn được hấp thu vào máu dưới dạng thức glucose, chất đường hữu dụng trong máu, như là nguồn năng lượng cho sự phát triển tế bào. Nhưng để glucose có thể thấm nhập vào các tế bào cần có sự tác động của kích thích tố insulin. Tiểu đường loại I xảy ra khi những tế bào beta trong tụy tạng bị phá hủy và không thể sản xuất được insulin. Loại này chỉ chiếm 5-10 %.

Tiểu đường loại II chiếm đến 90-95%. Tụy tạng sản xuất đủ lượng insulin, nhưng vì một lý do nào đó cơ thể không thể dùng được insulin một cách hiệu quả. Sau nhiều năm, tình trạng cũng giống như loại I, lượng đường tích tụ trong máu gia tăng và gây triệu chứng. Loại II thường có liên hệ với tuổi cao, béo phì, di truyền, sử dụng thuốc, v.v.

Bệnh nhân hay khát nước, tiểu tiện thường xuyên, mệt mỏi, mắt mờ; có thể làm suy tim, suy thận và mù mắt, bất lực và tàn tật ở chân.

Trong bệnh tiểu đường, sự căng thẳng bức xúc làm gia tăng lượng đường trong máu và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Thêm vào đó, người ta có khuynh hướng thích ngồi ỳ một chỗ, không chịu vận động và ăn những thực phẩm chứa nhiều chất carbohydrate – nguồn cung cấp lượng đường cao cho cơ thể. Khi lo âu buồn bực, người ta thường bê tha, buông xuôi không còn lưu ý đến bản thân mình và do đó càng làm cơn bệnh thêm trầm trọng.

Hành thiền đều đặn và tự săn sóc chứng tiểu đường đòi hỏi phải có sự cam kết và kỷ luật với chính mình, không những giúp điều khiển được cơn bệnh mà còn được hưởng thêm những lợi ích thiết thực khác cho sức khỏe như hạ huyết áp, giảm lượng đường trong máu, tỉnh táo hơn, giao tế xã hội tốt hơn, chú tâm tốt hơn vào công việc và ít lo âu phiền muộn hơn, từ đó phát sinh thái độ lạc quan, tự tin và tự kiểm soát được chính mình.

Suyễn D ứng

Chứng suyễn (asthma) có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi do đường hô hấp bị viêm, gây những trở ngại như khí quản thu hẹp và đờm nhớt tiết ra làm nghẽn sự hô hấp. Suyễn thường tạo ra các triệu chứng như ho hen, hơi thở khò khè, ngộp thở, cảm giác bức rức chật chội trong ngực. Cơn suyễn thường thay đổi bất chợt và hay xảy ra về đêm.

Tập san Respiration (1975) công bố một thí nghiệm nghiên cứu trong 6 tháng, ứng dụng thiền TM trên 21 bệnh nhân suyễn (cuống phổi) đã đi đến kết luận rằng thiền TM có khả năng giúp giảm hạ chứng suyễn. Cũng giống như trường hợp các bệnh trạng khác, bệnh suyễn thường trở nên trầm trọng do căng thẳng bức xúc, chính yếu là sự hoảng hốt của chính bệnh nhân. Người giữ được tâm trí bình thản thì dễ dàng điều khiển được cảm xúc của mình và hiệu quả dương tính này gia tăng giúp máu và dưỡng khí lưu thông dễ dàng.

Một nghiên cứu được thực hiện trên một số bệnh nhân với những triệu chứng suyễn từ trung bình đến trầm trọng mà không có tác dụng hữu hiệu với các loại thuốc. Nhóm đầu tiên được trị liệu với thuốc đặc biệt của bệnh suyễn. Nhóm thứ 2 vừa dùng thuốc này vừa hành thiền. Kết quả thí nghiệm cho thấy nhóm thứ 2 có tập thiền đáp ứng thích hợp với thuốc và không cần một liều lượng cao, cũng như có tâm được ổn định hơn. Nhưng sau 2 tháng không tập thiền, nhóm này được khảo sát lại và người ta tìm thấy rằng kết quả của họ cũng giống như nhóm không tập thiền. Ðiều này nêu rõ việc tập thiền liên tục rất quan trọng cho bệnh suyễn.

Phương thức điều hòa hơi thở được xem như là một phần hữu ích của tiến trình hành thiền, có tác dụng trợ lực cho phổi và đường hô hấp, nhờ đó có thể ngăn chặn được cơn suyễn bộc phát. Yếu tố thư giãn trong tiến trình hành thiền giúp bệnh nhân cảm thấy dễ chịu thư thái hơn khi cơn suyễn nổi lên. Sự chú tâm vào hơi thở giúp giảm nhẹ mức độ hốt hoảng vì phải chống trả với sự khó thở khi đợt suyễn hoành hành, nhờ đó thoát ra được cái vòng lẩn quẩn của suyễn. Với việc hành thiền 15-30 phút đều đặn mỗi ngày, những đợt tấn công của suyễn sẽ bớt trầm trọng hơn, số lần xảy ra ít hơn, cũng như dễ dàng dung hợp các phương thuốc trị suyễn. Các bệnh dị ứng là do phản ứng của hệ miễn nhiễm qua tác động thái quá của bạch huyết cầu trong khi chống trả lại các tác nhân xâm nhập như phấn hoa, bụi, khói thuốc, thức ăn, mùi vị, v.v. làm tiết ra histamine gây viêm tính và những dị ứng như ngứa mắt, chảy mũi, hắt hơi, mệt nhọc, cảm giác khó chịu, v.v. Tùy theo bản chất mỗi cá nhân, có người không hề hấn gì khi tiếp xúc với những tác nhân gây dị ứng này; nhưng cũng có những trường hợp trầm trọng do thức ăn, thuốc uống hay nọc độc của côn trùng chích có thể gây mạng vong.

Sự giảm thiểu cortisol – kích thích tố gây căng thẳng, qua hành thiền, sẽ giúp tuyến thượng thận (adrenal gland) được mau bình phục và nhờ đó chống lại các chứng viêm do suyễn gây nên.

Viêm gan

Ba loại vi khuẩn phổ thông gây viêm gan là Hepatitis A, B và C. Loại A chỉ gây nhiễm trong một thời gian và được miễn nhiễm (không tái phát), trong khi 2 loại kia có thể gây ảnh hưởng lâu dài và tác hại khốc liệt. Những triệu chứng thông thường là ăn mất ngon, buồn nôn, ói mửa, sốt, mỏi mệt, suy yếu và đau bụng. Các loại vi khuẩn thường được lây lan từ người khác hay từ các điều kiện môi sinh ô nhiễm, v.v.

Sự bùng phát các triệu chứng viêm gan xảy ra sau một cơn căng thẳng và nhiều nghiên cứu đã xác minh sự căng thẳng bức xúc có liên quan mật thiết với viêm gan.

Một số kết luận và những biện minh cho việc ứng dụng thiền định đối với trị liệu viêm gan như sau.

– Bệnh nhân viêm gan C thuộc dạng người có cá tính bồng bột nóng giận, khác biệt với người có cá tính thư thái trầm tĩnh do hiệu quả tập thiền.

– Trong lúc căng thẳng, những tế bào sát thủ thiên nhiên sinh sôi nảy nở trong gan. Chúng có thể hủy diệt tế bào gan và làm cho chứng bệnh trở nên trầm trọng.

– Bằng cách theo dõi bộ phận não điều khiển gan, người ta quan sát được rằng sự căng thẳng gây thiệt hại cho máu và do đó dẫn đến ảnh hưởng tai hại cho gan.

– Thực hành thiền định kích thích thần kinh phản giao cảm, giúp làm dịu những cơn bực dọc nóng giận.

– Với công năng tăng cường hệ miễn nhiễm, thiền định làm giảm hoạt động của vi khuẩn tấn công các tế bào gan.

Hiệu ứng thời mãn kinh (Hot Flashes)

Hot flashes thường xảy ra trong thời kỳ mãn kinh của phụ nữ. Nguyên nhân chưa được xác minh rõ ràng nhưng có lẽ do sự giảm sút kích thích tố estrogen khi lớn tuổi. Tuy không thuộc dạng nguy hiểm đến tính mạng nhưng cũng gây những triệu chứng trăn trở khó chịu như mất ngủ, mệt mỏi chán chường, toát mồ hôi, nhức đầu, buồn nôn, khó tập trung làm việc, đỏ rân trên mặt-cổ-ngực, và cảm giác nóng ran loan khắp hay máu chạy rân trong người. Bệnh trạng có thể kéo dài trong 5-10 năm và tạo thêm rắc rối nếu có những bệnh khác.

Chỉ trong gần đây, người ta đã sử dụng phương pháp thay thế hormone HRT (hormone replacement therapy) cho người bệnh hot flashes. Tuy nhiên phương pháp này cũng có thể gây ung thư vú và bệnh tim.

Theo một kết quả nghiên cứu được thực hiện tại Ðại Học Massachsetts năm 2006, thiền định xoa dịu những căng thẳng và giúp hạ nhiệt những cơn hot flashes, giúp cuộc sống được thư thái dễ chịu hơn. Trong nghiên cứu này các phụ nữ theo dõi và ghi lại nhật ký trong suốt quá trình tập thiền chánh niệm. Chương trình gồm có 8 tuần lễ hành thiền, 2.5 giờ mỗi tuần, và nhận 2 đĩa ghi âm thực tập tại nhà mỗi ngày 45 phút, với các đề mục:

– Quán thân: di chuyển sự chú ý trên thân từ chân lên đầu để nhận thức những cảm giác của thân trong tư thế nằm ngửa thoải mái.

– Ngồi thiền: Lưng thẳng, chú tâm vào dòng hơi thở ra vào, những cảm giác của thân, ý nghĩ và xúc cảm.

– Vận động nhẹ nhàng: giúp phát triển tỉnh giác trong lúc chuyển động cơ thể.

Kết quả thí nghiệm cho thấy số lần bị hot flashes hoành hành giảm xuống 39% và cường độ trầm trọng giảm đi 40%. Triển vọng của nghiên cứu này khuyến khích ứng dụng thiền chánh niệm để chế ngự các triệu chứng thời mãn kinh, cũng như đặt kỳ vọng vào những nghiên cứu kế tiếp.

Phương pháp thở sâu theo dõi hơi thở ra vào với nhịp điệu phồng xẹp nơi bụng rất hiệu nghiệm giúp trị liệu các chứng nhức đầu (thay vì tập trung tư tưởng trong đầu thì đem tâm về đan điền hay vùng dưới rốn) và chứng mất ngủ (sử dụng thiền nằm trước khi ngủ).

Tâm bệnh

Các bệnh về tâm là những hiện tượng hay triệu chứng tâm lý thường gây nên những hệ lụy buồn khổ và tàn tật. Trạng thái này làm nhiễu loạn ý nghĩ, cảm giác, khả năng giao tiếp và những hoạt động hàng ngày. Những hình thức thông thường gồm có trầm cảm, mất trí, phát cuồng, bị ám ảnh, hốt hoảng, căng thẳng do chấn thương và điên khùng. Ðiều quan trọng là các trạng thái này có thể được hồi phục. Nhiều người rất sợ và hiểu lầm về các chứng tâm thần nên hay có thành kiến và kỳ thị, vì không hiểu rõ vấn đề. Nhưng thật sự các chứng bệnh này rất phổ thông, ví dụ ở Anh quốc cứ trong 4 người thì có một người bất thường như vậy. Nếu được chữa chạy thích đáng, bệnh nhân vẫn có thể tiếp tục cuộc sống bình thường, tuy rằng y học hiện đại chỉ có thể trị liệu cho một số bệnh nhân, và không hiệu quả cho những người khác. Cũng do những khó khăn này mà một số trung tâm thiền không muốn thu nhận các bệnh nhân tâm thần.

Thiền tứ niệm xứ Vipassana được sử dụng trong các trại tù ở Ấn Ðộ đã chứng tỏ rất hữu ích đối với các tù nhân nghiện ngập, bệnh tâm thần và lãnh cảm; với mục đích giúp họ tâm trí được sáng suốt, định hướng hoàn cảnh của mình và giao tế tốt với người khác. Sự thành công cũng tương tự tại các trại tù cải tạo ở Canada và Mỹ.

Gần đây vào cuối Mùa Hè 2008, tại Trung Tâm Tâm Thần và Phòng Chống Nghiện Ngập Toronto- Canada, giáo sư tâm lý học Zindel Segal đã hướng dẫn thực hiện thí nghiệm 8 tuần lễ hành thiền chánh niệm cho 177 bệnh nhân vừa hồi phục qua các loại thuốc an thần đối với những chứng trầm cảm và lo sợ. Mục đích thí nghiệm là ứng dụng thiền định để kiểm soát và trị liệu những ý nghĩ và cảm xúc phiền toái, so sánh với phương pháp chữa trị bằng thuốc, và nhấn mạnh ở điểm có ngăn ngừa được sự tái phát các triệu chứng hay không. Thí nghiệm này nằm trong dự án nghiên cứu trị liệu 2.5 triệu đô la do chính phủ tài trợ. Thiền sinh được hướng dẫn ngồi tĩnh lặng, nhắm mắt, theo dõi hơi thở qua sự phồng xẹp của bụng và những cảm giác của thân tâm. Khi thấy sự chú tâm bị sao lãng liền quay về với sự tập trung hơi thở của mình. Chỉ làm được như vậy hành giả đã có thể chú tâm vào một ý tưởng rắc rối nào đó – ví dụ về sự đổ vỡ tỉnh cảm. Cần kiên nhẫn và chấp nhận những cảm xúc như vậy mà không cố tình làm chúng thay đổi hay biến dạng, chỉ đơn thuần quan sát một cách khách quan mà thôi. Các bệnh nhân được phân chia thành 3 nhóm: (1) tiếp tục dùng thuốc an thần, (2) dùng thuốc giả tưởng (placebo) và (3) hành thiền trong 8 tuần lễ. Kết quả đang được kiểm chứng.

Cho đến nay do sự phức tạp của bệnh trạng, chưa có nhiều nghiên cứu ứng dụng thiền định vào trị liệu các bệnh trạng tâm thần, tuy nhiên vẫn có những quan tâm và cố gắng thực hiện đang diễn tiến.

Những loại bệnh trạng thể ứng dụng thiền định

Tổng quát, qua những nghiên cứu trị liệu, thiền định có thể được ứng dụng cho những thể loại bệnh trạng như sau.

– Hệ thần kinh: nhức đầu, phiền muộn, mất ngủ, xơ cứng, đột quỵ, động kinh.

– Hệ tiêu hóa: bệnh viêm ruột, đau bụng, ung nhọt, buồn nôn.

– Nghiện ngập: hút thuốc, ma túy, uống rượu.

– Hô hấp: bệnh hen suyễn.

– Cơ quan sinh dục: mãn kinh, tiền kinh nguyệt, bất lực.

– Da: mụn, nhiễm trùng.

– Hệ miễn nhiễm: cảm cúm, dị ứng, bệnh AIDS.

– Hệ liên-thân (inter-bodily): ung thư.

Hay là:

– Tâm: phát triển trí thông minh, gia tăng sáng tạo, nhận thức rộng rãi, cải thiện tri giác, và trật tự thứ lớp, giảm lo âu phiền muộn, an tâm.

– Thân: hạ huyết áp-nhịp tim, cải thiện sức khỏe, giảm nhu cầu về trị liệu, thư giãn, hồi xuân, cải thiện hô hấp, an thân.

– Thái Ðộ: tăng hiệu suất làm việc, cư xử tốt, giảm thiểu lạm dụng thuốc, cảm giác thư thái dễ chịu.

– Xã hội: cải thiện phẩm chất đời sống, giảm tội phạm, giảm bạo hành và xung đột.

Triển vọng

Việc tập thiền đang đến dần với nhiều người bởi vì bất cứ cá nhân nào cũng có thể thực hành một cách an toàn và không tốn kém bao nhiêu. Mỗi người có thể hành thiền một mình hay cùng với người khác ngay tại nhà. Trong thời buổi cạnh tranh bon chen với những hoạt động dễ gây căng thẳng và bệnh tật, người ta tìm đến thiền để giải tỏa những nổi bực dọc lo sợ hay cơn đau hành hạ, nâng cao trí tuệ, làm trẻ trung hóa cơ thể và tăng tiến cuộc sống.

Tại Thái Lan người ta dùng phương pháp trị bệnh thiên nghiệm (holistic), nhấn mạnh những yếu tố thiên nhiên ảnh hưởng đến cơ thể con người, sự quan trọng của những tiến trình tâm thức và hành thiền, sử dụng các thức ăn thiên nhiên như là những biện pháp an toàn nhằm giảm nhẹ những phiền lụy trong cuộc sống. Ðặc biệt qua thiền định, tâm sẽ xuất sinh những tư tưởng tích cực lạc quan giúp cơ thể khỏe mạnh và sức đề kháng bệnh tật cao hơn. Thay vì nếu để nảy sinh những tâm tư tiêu cực buồn khổ thì chẳng khác gì những rỉ sắt xói mòn cơ thể và gây tử vong nhanh hơn.

Theo kết quả nghiên cứu mới nhất vào cuối năm 2008 của Linda Nguyễn và đồng sự tại Ðại Học Toronto-Canada, hầu hết mọi bệnh trạng đều có liên hệ đến phiền muộn, lo âu, sợ sệt và đau đớn. Bệnh nhân chỉ cần tập thiền chánh niệm trung bình 17 phút mỗi ngày cũng đủ cảm nhận được thân tâm an lạc và cuộc sống thăng tiến…

Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, hành giả không những chỉ thường xuyên tập thiền với phương pháp thích hợp (ví dụ hiệu quả của phép thiền giúp cảm thấy thư thái yên lành) mà cần biết cách sống thiền. Ngoài sự thích nghi với hoàn cảnh công việc, nên gần gũi thiên nhiên, tập nếp sống lành mạnh (ngũ giới), theo các phép ẩm thực và vận động dưỡng sinh, gìn giữ thân tâm gắn bó với những tư tưởng và hành động lạc quan, tránh những căng thẳng bực dọc hay suy tư yếm thế sầu thảm, không lo sợ và biếng nhác.

Người viết với trải nghiệm bản thân, đã từng cảm nhận những hiệu quả hữu ích của thiền đối vài triệu chứng như cảm cúm, tim mạch, tê khớp, cũng như luôn được thân tâm an ổn và cơ thể lành mạnh. Xin nêu ra đây một câu chuyện thật để kết thúc bài viết dài dòng này. Trong một thử nghiệm máu, kết quả cho thấy lượng kích thích tố TSH (thyroid stimulating hormone) tăng cao và lượng T3, T4 giảm hạ so với mức bình thường nên người viết đã được gửi đến chuyên khoa để trị chứng hypothyroidism hay bướu cổ nhu tính. Y học giải thích bệnh trạng này là do tuyến giáp (thyroid gland) ở cổ suy thoái nên không còn đủ khả năng sản xuất các kích thích tố quan trọng như T3 và T4. Do đó tuyến yên (pituitary gland) nằm dưới đáy não phải tiết ra kích thích tố TSH nhiều hơn nhằm kích thích tuyến giáp. Tác động này gây sức ép và tạo ra bướu cổ nhu tính ở tuyến giáp. Riêng vị bác sĩ chuyên khoa thì cứ 3 tháng bắt thử máu một lần và cứ tăng dần liều thuốc trong toa lên từ màu trắng, rồi đến xanh, vàng và đỏ. Người viết thì nhất quyết không bao giờ uống một viên thuốc nào, cũng như bao nhiêu năm nay không hề đụng đến thuốc Tây, nhưng không cho bác sĩ biết điều này. Tuy vậy luôn tuân thủ đúng những lần thử nghiệm máu để biết kết quả. Trong lúc đó, tự trị liệu theo phương cách bình dị là ăn gạo lức muối mè với rong biển và vài món dinh dưỡng khác, tập thiền, khí công, tản bộ hay chạy bộ đều đặn mỗi ngày. Ðiều lý thú là sau những lần kết quả thử máu kế tiếp, lượng TSH, T3 và T4 đã trở lại mức bình thường. Vị bác sĩ chuyên khoa hoan hỉ tuyên bố nhờ tác dụng của thuốc, chứng bệnh đã được ổn định, nhưng phải liên tục mỗi ngày uống đều đặn một viên Levothyroxine (hormone nhân tạo T4) theo toa cho đến trọn đời.

Ðương nhiên cần phải tôn trọng những người có lương tâm và ý thức trách nhiệm, nhưng thực tế phần lớn nhà bào chế thuốc và giới y dược trước hết nghĩ về lợi nhuận thu nhập của mình. Bác sĩ khám bệnh viết toa thuốc và dược sĩ bán thuốc theo toa cho thật tốt. Những tệ nạn như mánh khóe gian lận, lạm dụng tình trạng trợ cấp an sinh xã hội và bảo hiểm y tế càng làm cho giới này thêm sung túc phát đạt. Người viết đã từng bị các bác sĩ ép phải thường xuyên đến khám bệnh lấy toa thuốc, dù không cần thiết, xong mua thuốc ngay ở tiệm dược trước văn phòng quí ngài.

Các loại thuốc Tây thường chỉ có hiệu nghiệm nhất thời với bệnh trạng. Ngoài những phản ứng phụ (side effects) khi dùng thuốc, mấy ai có thể lường trước được những hệ lụy về lâu về dài của thuốc gây tác hại cho cơ thể như thế nào. Lại nữa một loại thuốc có công năng cho bộ phận này có thể gây nguy hại cho bộ phận khác, nhất là ảnh hưởng tiềm tàng của những loại thuốc tổng hợp biến chế (synthesized), không thuộc dạng dược thảo thiên nhiên. Thuốc Tây là những hóa chất, nếu bị lạm dụng sẽ tồn đọng lâu dài gây ô nhiễm trong cơ thể. Những ảnh hưởng của thuốc có thể làm suy yếu, phá hủy sự quân bình và phòng vệ tự nhiên của hệ miễn nhiễm, lót đường cho các loại vi khuẩn đột nhập và gây bệnh. Uống thuốc nhiều khi chỉ có tác dụng tâm lý, như các thí nghiệm trên những bệnh nhân uống thuốc giả tưởng (placebo) cho thấy vẫn có thể lành bệnh.

Trái lại, sử dụng thiền định và những phương pháp dinh dưỡng tự nhiên, vừa giản dị, an toàn, không mấy tốn kém, giờ giấc uyển chuyển, tiện lợi, vừa đem lại những bổ ích sức khỏe thiết thực và lâu bền cho thân tâm.

Minh Phúc, Ph.D.

Tham Khảo

1. Buddhist Religion, Buddhist Meditation

http://www.buddhist-temples.com/buddhist-religion.html

2. Psychological mechanism of Meditation – Meditation & Mental Health http://www.mediomedia.org/shopcontent.asp?type=faqs&template=tmp_content.htm

3. Therapies: meditation therapy, 9/2008

http://library.thinkquest.org/24206/meditation-therapy.html

4. Physiological aspects of meditation http://www.wholefitness.com/meditation.html

5. Anapanasati: meditation on breathing http://departments.colgate.edu/greatreligions/pages/buddhanet/meditation/bodhis/anapana115.tx

6. Regression of cancer after intensive meditation – Meares Ainslie, 8/1976 Australia www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/790122

7. Rheumatoic Arthritis Patients Benefit from Meditation Therapy – 10/2007

http://www.medicalnewstoday.com/articles/84125.php

8. Meditation as cancer therapy – Dr. Swami Karmananda Sydney- A. Meares http://www.yogamag.net/archives/1979/isep79/medcan.shtml

9. Meditation May Cut Heart Disease Death – 2/2005

http://www.webmd.com/balance/news/20050502/meditation-may-cut-heart-disease-death

10. TM lowers blood pressure 3/2008

www.newsmax.com/health/Meditation_Lowers_Blood/2008/03/17/80943.html

11. Does compassion medition prevent heart disease? 1/ 2008.

http://meditationforthemasses.com/does-compassion-meditation-prevent-heart-disease/

12. Meditation & Heart Disease: Scientific Evidence & Effects.. Dr. Vermon Barnes

http://www.meditation-techniques-for-happiness.com/meditation-and-heart-disease.html

13. Aid Allergy Treatment Using Meditation

http://ezinearticles.com/?Aid-Allergy-Treatment-Using-Meditation&id=1317836

14. Meditation is good for your health.. 09/2003.. Kabat-Zinn found MM.. 1979

http://allergyasthma.wordpress.com/category/meditation/

15. Meditation to cure Insomnia

http://www.project-meditation.org/bom/meditation_to_cure_insomnia.html

16. Thiền Ðịnh – Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp (Thiền Xuất Hồn)

http://www.vovi.org/method/meditation.htm#4

17. Midfulness Meditation slows progression of HIV.. 4/2008

http://www.eurekalert.org/pub_releases/2008-07/uoc-mms072408.php

18. Managing Stress through Mindfulness Meditation, Linda Nguyen et al, Faculty of Nursing, University of Toronto, 12/2008

http://www.library.utoronto.ca/event/healthfair/speaker1-presentation.ppt

19. Cancer news & information – cancerwise.. 3/ 2005.. Jon KabtZinn

http://www.cancerwise.org/march_2005/display.cfm?id=42F070C2-129A-44E3-

20. New research meditation changes brain physical structure&Dalai Lama.. 7/2007

http://www.clearharmony.net/articles/200707/40499.html

21. Meditation for Hypertension http://www.altmd.com/Articles/Meditation-for-Hypertension

22. Mindful Meditation helps Rheumatoic Arthritis

http://www.inneridea.com/library/mindful-meditation-helps-rheumatoid-arthritis

23. Meditation & the art of diabetes management

http://www.diabetesselfmanagement.com/articles/Alternative_Medicine_Complementary_Therapies/

24. Transcendental Meditation & Asthma Wilson AF- Respiration – 1975

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/1118672?dopt=Abstract

25. Mediation May Cool hot Flashes&9/2006

http://www.webmd.com/menopause/news/20060913/meditation-may-cool-hot-flashes

26. Meditation may reduce – help hepatitis c flare-ups

http://www.medkb.com/Uwe/Forum.aspx/hepatitis-c/6283/Meditation-may-reduce-hep-c- flare-ups

27. Mindfulness-Based Art Therapy For Cancer Patients.. 12/2008

http://www.clinicaltrialssearch.org/mindfulnessbased_art_therapy_for_cancer_patients.html

28. Arthritis: osteoarthritis, Fibromyalagia & Rheumatoic Arthritis.. 12/2006

http://www.zimmer-canada.com/z/ctl/op/global/action/1/id/379/template/PC

29. Meditation Changes the Brain, Richard Davidson.. 1/2005

http://meditation-health.suite101.com/article.cfm/meditation_changes_the_brain

Osho, ông là ai?

Osho (1931-1990) là một vị đạo sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi.

Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Khoảng trong thập kỷ 70 người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Rajneesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho. Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là “đạo sư” của một dòng Thiền.

Osho để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm cuốn sách và vô số các bài thuyết giảng. Ông là một người gây nên rất nhiều tranh cãi trong số những ai quan tâm đến triết học phương Đông, trong giới những người tầm cầu tôn giáo và đạo sư. Có thể nói, ông là một trong những người gây phân hoá cùng cực nhất về mặt đạo lý, nhưng cũng là người có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong các bài giảng về tôn giáo và triết học. Nhưng có lẽ điều này nằm trong ý đồ đích thực của một con người “nổi loạn” như ông.

Nhân cách của Osho có một sức thu hút mãnh liệt, nó biểu hiện trong những bài luận giải xuất chúng của ông về mọi vấn đề tôn giáo và triết học, kể cả về các bộ kinh lâu đời nhất mà nhiều vị luận sư đã dày công trình bày. Những ai đã gặp ông đều thừa nhận Osho có một tài hùng biện đầy ma lực, một sự hấp dẫn cá nhân mà người nghe hầu như không thể cưỡng lại. Song song với những công trình luận giải vĩ đại đó thì tập thể quần chúng và đệ tử do ông hướng dẫn lại gây nên rất nhiều tai tiếng, thậm chí có kẻ trở thành tội phạm.

Sự thật về con người Osho nằm ở đâu? Thiết nghĩ khó có ai trả lời được và điều này có thể cũng lại nằm trong chủ đích của chính ông. Chính ông cũng nói về triết học của mình là một thứ triết học phi triết học (philosophy of no philosophy).

Trước hết, trong những năm 60, Osho là giáo sư triết học tại đại học Jabalpur, Ấn Độ. Về bản thể luận, ông là người có một quan niệm Nhất thể (Monism) về vũ trụ. Đối với ông, Thượng đế nằm trong mọi vật, nằm trong mọi con người. Không hề có sự phân biệt nào giữa “Thượng đế” và “phi Thượng đế”. Toàn thể mọi con người, dù là người tồi tệ nhất, đều thiêng liêng cả. Mọi dạng xuất hiện của một thứ năng lượng mang tên là “Thượng đế” đối với ông đều đáng ngưỡng mộ và điều này sẽ thể hiện trong quan niệm hành trì mà ông muốn truyền bá.

Đối với đời người, Osho cho rằng giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh (spiritual enlightenment). Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là “nằm yên trong trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ”. Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội. Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế. Ông quan niệm rằng, muốn trở lại trạng thái hồn nhiên và an lạc, con người phải tự mình giải thoát khỏi sợ hãi và ức chế.

Với nhận thức này, Osho hoàn toàn nằm trọn vẹn trong truyền thống của triết học Ấn Độ, nhất là trong Đại thừa Phật giáo. Nếu nhớ đến tư tưởng của Mã Minh trong Đại thừa khởi tín luận, hay Thiền ngữ “Tâm bình thường là đạo” của Nam Tuyền, hay các phép hành trì của Phật giáo Tây Tạng, hay tư tưởng của các vị đạo sư của thời hiện đại như Aurobindo hoặc Krishnamurti, ta dễ dàng thấy sự trùng hợp tuyệt đối về nhận thức luận giữa ông và các truyền thống đó. Chỉ có điều khác biệt là, Osho nói về các nhận thức này một cách hùng biện và mới mẻ. Nhất là với tính cách của một giáo sư triết học, trong các luận giải, ông phối hợp một cách tài tình những truyền thống của Phật giáo, Kỳ-na giáo (Jainism), Ấn Độ giáo, Lão giáo, Cơ-đốc giáo, Sufism (một truyền thống của Hồi giáo), và triết học cổ của Hy Lạp. Thế nhưng, cũng như mọi nhà đạo học khác, ông không quên chỉ rõ, không một nền triết học nào có thể diễn bày được chân lý, có thể thay thế được sự chứng thực cá nhân.

Do đó sự trải nghiệm, sự chứng thực của trạng thái giác ngộ là cốt tuỷ của mọi sự. Ông tự nhận mình đã đạt trạng thái này năm 21 tuổi. Phương pháp khả dĩ đưa đến giác ngộ là phép thiền định. Nhưng thiền định là gì và hành trì thiền định như thế nào? Theo Osho thiền định là một trạng thái “nằm ngoài tâm”. Thiền định không phải là sự tập trung. Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý về thiền định có thể ví như to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân sự lặng yên. Đó là một tình trạng có thể xảy ra bất chợt, một tình trạng mà ta có thể ở trong đó, chứ không phải là một sản phẩm do ta tạo ra. Quan niệm này về thiền của Osho không hề khác với các phát biểu xưa nay của các vị Thiền sư của miền Đông Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Nhưng cách hành trì thiền định do Osho đề ra thì khác hẳn.

Osho cho rằng con người hiện đại, nhất là người phương Tây rất khó áp dụng phép toạ thiền, tìm sự an tĩnh và ngưng bặt tư tưởng bằng cách ngồi yên. Vì thế ông đề xuất những phép thiền tích cực (Active Meditation) và cho rằng những phép hành trì của thiền tích cực sẽ đưa con người vào trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Nội dung của các phép thiền tích cực này là cho phép con người rũ bỏ những gì ức chế mình bằng cách để cho chúng được thể hiện một cách tự nhiên. Trong các phép thiền tích cực do Osho đề ra, ta có thể kể phép thiền năng động (Dynamic Meditation), thiền Kundalini, Nadabrahma, Natajai, trong đó phép thiền năng động được chú ý nhiều nhất. Trong phép thiền năng động, thường thường thiền sinh bắt đầu với những hoạt động mạnh mẽ về thể chất, sau đó là sự lặng yên và cử hành tế lễ. Phép thiền này tin rằng, qua đó con người sẽ vượt thắng sự sợ hãi, giảm bỏ sự ức chế, phát sinh được một dạng của Không tính (state of emptiness) và đạt giác ngộ. Đối với Osho, muốn đối trị sự ức chế nào ta phải kích động nó lên, nếm trải, chứng nghiệm nó và cuối cùng trực nhận nó chỉ là “không” thì mới thực sự siêu việt được nó. Theo ông một con người giác ngộ sẽ là “phi quá khứ, phi tương lai, không ràng buộc, không tâm thức, vô ngã, vô bản chất”.

Đó là những nét cơ bản về quan niệm của Osho về phép hành thiền. Thật ra thì phương pháp chủ động kích thích dục vọng của con người lên để chứng nghiệm, quán chiếu và siêu việt chúng không phải là một điều gì mới lạ. Trong truyền thống Ấn Độ, người ta vẫn còn nhắc đến 84 vị Đại Thành tựu giả (Mahasiddha), các vị được xem là sống trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 12 sau công nguyên [1] . Đó là các vị hành giả lòng còn chất chứa đầy các loại dục vọng khác nhau, nhưng nhờ biết cách quán chiếu chúng, biết chúng chẳng qua đều là những dạng của Không tính mà đạt được thành tựu. Đọc tiểu sử các vị đó, ta sẽ thấy đó toàn là những người mang đầy thói hư tật xấu, thậm chí có kẻ là người chuyên đánh bạc hay ăn trộm, nhất là có rất nhiều vị đam mê tình dục. Thế nhưng, nhờ một cách hành trì thiền định, trong đó họ quán tưởng “đối tượng đam mê” và “người đam mê” đều chỉ là những dạng của “Không”, họ đạt giác ngộ ngay trong đời này. Các vị đó là những người tiên phong của một truyền thống được mệnh danh là Kim cương thừa. Trong thời đại gần đây hơn, các vị tu sĩ trong truyền thống Kim cương thừa của Tây Tạng cũng là những người chủ trương “chuyển hoá” năng lực của dục vọng thành động lực của sự giác ngộ. Thậm chí trong nền phân tâm học hiện đại của phương Tây người ta cũng biết đến phép chữa bệnh Gestalt Therapy, trong đó bệnh nhân được khuyến khích hãy sống thực với nền tảng tâm lý của mình, hãy tận lực khóc cười hay la hét với những ức chế của mình với mục đích giải thoát ra khỏi sự đè nén của chúng.

Dĩ nhiên phương pháp của Osho có một tầm cỡ hoàn toàn khác so với phép chữa bệnh tâm lý nói trên, vì ở đây nó có tính chất tôn giáo cao độ. Còn so với các truyền thống xưa thì điều kỳ lạ là ông dám đem ra áp dụng cho quảng đại quần chúng. Ở đây ta dễ dàng đoán biết điều gì sẽ xảy ra. Đó là khi con người bình thường được khuyến khích chủ động cho những ức chế của mình được vận hành thì một năng lực thuộc về bản năng sẽ vùng dậy, đó là tình dục.

Osho vốn là một con người “nổi loạn”, luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, khoảng cuối những năm 60, ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề Từ tình dục đến ý thức siêu việt (From Sex to Superconsciouness), trong đó ông cho rằng “đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng” và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”. Quả thực, trong phong trào của ông, môn đệ của ông thực hành lời dạy này một cách đầy hoan lạc. Liệu hành động của họ là “đích thực và đầy ý thức” như ông giảng giải, là một vấn đề khác. Thật ra phần nói về tình dục chỉ là phần nhỏ trong cuộc đời thuyết giảng của ông nhưng kể từ đó người ta gọi ông là “đạo sư tình dục” (sex-guru) và gọi chủ trương của ông là “tự do tình dục”.

Trên quan niệm đạo học phương Đông, tình dục là một dạng vận hành của năng lượng. Năng lượng hàm chứa trong con người biểu hiện dưới nhiều dạng của ái dục mà dạng ái dục quan trọng nhất là hữu ái (bhavatrsna), tức là sự khao khát được tồn tại. Trong sự khao khát đó thì tình dục là dạng ái dục cụ thể nhất, mang nặng tính vật chất nhất. Tình dục do đó là bản năng cơ bản nhất của mọi loài, nó không dính líu gì đến các giá trị do xã hội loài người đặt ra như thiện-ác, xấu-tốt, phải-trái. Sở dĩ tình dục hay bị lên án là vì mọi hoạt động xuất phát từ nó thường sinh ra những hậu quả phiền toái cho đời sống xã hội của con người. Cũng chính vì thế mà con người thường bị ức chế về tình dục, tuy luôn luôn nhớ nghĩ về nó nhưng cũng luôn luôn phải đè nén nó. Do đó tình dục là một trong những ức chế lớn nhất của con người, thật ra là ức chế chủ yếu của đời làm người. Nền tâm lý học phương Tây cũng đã có những phát hiện tương tự.

Vì vậy khi Osho chủ trương con đường giải thoát là phải đối diện, nếm trải mọi năng lực bị ức chế để có thể siêu việt và chuyển hoá chúng, thật ra ông không thể không nói đến tình dục, nếu ông thật sự nhất quán với chính mình. Và thực ra mỗi kẻ tầm đạo, một khi đã đi vào con đường tích cực và chuyển hoá, cũng phải tìm cho mình một phương thức riêng để chuyển hoá năng lực của tình dục. Đó là một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn “chuyển hoá” thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể toả hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim cương thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu.

Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim cương thừa trong thế kỷ 20 tại phương Tây, nhưng có lẽ ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim cương thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng. Nếu Osho nghe những lời này, hẳn ông sẽ nói “tất cả là thượng căn” vì ông quan niệm ai cũng là Thượng đế cả, không có gì là không thiêng liêng.

Chúng ta sẽ không ngạc nhiên về câu trả lời của một người được mệnh danh là “nổi loạn” như ông, nhưng những gì ông hứng chịu trong cuối đời do chính đệ tử của ông gây ra cho thấy nhiều học trò của ông xem ra không hề “thiêng liêng” gì cả. Phần lớn môn đệ của ông tìm đến vì tò mò, không ít người phản bội ông, làm giàu trên lòng tin ngây thơ của người khác. Trong quá khứ người ta cũng chỉ biết vỏn vẹn có 84 vị Thành tựu giả trong số hàng triệu người tu học tại Ấn Độ thì tại sao ngày nay lại có thể khác. Hơn thế nữa, con người của thời đại này lại càng vô cùng khó khăn hơn nữa khi muốn chuyển hoá một năng lực gắn liền với thân vật chất để thăng hoa, tiến gần với cái thiêng liêng. Thời đại này là kỷ nguyên của chủ nghĩa duy vật, những người tưởng như muốn tìm đến cái thiêng liêng thực chất cũng là môn đệ của chủ nghĩa duy vật tâm linh (spiritual materialism) như Chogyam Trungpa đã nói. Thời nào cũng thế, con người chỉ thấy những gì họ muốn thấy, chỉ tìm những gì họ khao khát. Vì thế khi ông đã lỡ nổi danh là một “sex-guru”, ta có thể đoán biết thành phần và mục đích của những người hướng về ông. Quả thực sau khi ông mất, không có ai đủ sức trình bày một bài thuyết giảng cho xứng đáng là người đã từng theo học với ông.

Ông mất đi trong sự tan rã của phong trào theo học giáo phái Osho, nhưng có lẽ một con người như ông không có gì để tiếc nuối vì như ông nói, ông “chỉ là một đám mây”, đến chơi với trần thế trong một thời gian ngắn ngủi. Thế nhưng, hơn 15 năm sau ngày ông mất, người ta vẫn tìm đọc Osho vì trong sách báo của ông để lại, quả thực có một điều gì có giá trị nội tại, quả thật đây là những lời nói của một con người phi thường. Nhưng mặt khác, người ta cũng thấy phương pháp thiền định của ông không phải dành cho tất cả mọi người. Nếu xét Kim cương thừa và những vị tu sĩ cao cấp đã tu luyện theo phép này, người ta phát hiện lại một câu nói giản đơn của một người hẳn đã biết mức độ chọn lọc đối với người hành giả có thể theo học phép tu này. “Chỉ những ai đã xả bỏ tâm phân biệt, những ai mà đối với họ một đĩa thực phẩm sang trọng và một đĩa phân là như nhau, thì kẻ đó mới được theo học Kim cương thừa”. Đó là lời của Đạt-lai Lạt-ma thứ V (1617-1682). Các đệ tử của Osho không hề là những người như thế. Một số đến với ông vì tính cách nổi loạn như ông nhưng một cái khác thì họ không có, một số khác vì tò mò, vì thất bại, vì ưu phiền cá nhân. Dĩ nhiên, nếu thảng có ai trong số đó đã đạt giác ngộ như ông thì điều đó chúng ta không bao giờ biết.

Chỉ Osho mới biết mình thành công hay thất bại, nhưng ông lại không màng đến nó. Ông chỉ thấy phải nói phải làm những cái đáng nói đáng làm. Nếu đọc cuốn sách này, ta sẽ biết tính khí của ông và đoán có thể tất cả đều nằm trong chủ đích của ông. Có thể ông đã thấy rõ đời mình phải làm ầm ĩ lên như một người điên thì mọi người mới chịu chú ý nghe những gì mình nói, nếu không tất cả sẽ chìm trong quên lãng trong một thế giới quá nhiều thông tin.

Đỗ Tư Nghĩa

[1]Xem Keith Dowman, Master of Mahamudra, Songs and histories of Eightyfour buddhist Siddhas, NY 1985.

Nguồn: Lời giới thiệu cho Cuộc đời của luận sư Rajneesh Chandra, Đỗ Tư Nghĩa sưu tầm & biên dịch, NXB Trẻ, 2007

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: