• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 904 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 904 other followers

Các bên khẳng định không có “ẩu đả” tại hội Gióng

Phần lớn lễ hội mang tính vụ lợi

Vung dao giữa lễ hội cướp phết cầu may

TTO –  Sáng 26-2, UBND huyện Sóc Sơn đã có báo cáo gửi Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch thành phố Hà Nội về sự việc hỗn loạn tại hội Gióng sáng 24-2.

. Tiếp tục đọc

Lễ Băh Ênang Của Đồng Bào Ê Đê Ở Dak Lak – Phương Mai

Lễ Băh Ênang của đồng bào Ê Đê ở Dak Lak giống như Lễ Mừng Thọ của người Kinh. Khi ông bà sống được 70 mùa rẫy (70 tuổi), con cháu trong gia đình vui mừng tổ chức Lễ Băh Ênang cho ông bà theo phong tục truyền thống của dân tộc mình. Đây là một trong những lễ cúng trong nghi lễ Vòng đời người của đồng bào Ê Đê. Từ sáng sớm mấy ngày trước, con cái trong nhà cùng thanh niên trong buôn đi chặt tre về dựng dàn để buộc ché rượu, chiêng, trống; còn dân làng thì cùng đến dựng sạp, dựng mái che chỗ ghế ngồi cho người được mừng thọ. Đến ngày tổ chức lễ, từ sáng sớm thanh niên đã cùng giúp người già mổ heo, làm gà, nấu cơm chuẩn bị cho lễ cúng.

Displaying SANY2014.JPG Tiếp tục đọc

Ảnh độc: Lễ khai quật mộ, thay quần áo cho xác chết

– Trong nghi lễ ở một ngôi làng Indonesia, những người dân địa phương sẽ mặc quần áo mới cho… xác chết, sau đó đưa thi thể đi quanh làng.

Nghi lễ này mang tên là Ma’nene, diễn ra 3 năm một lần ở Tana Toraja, phía nam đảo Sulawesi của Indonesia. Những thành viên trong gia đình của người quá cố sẽ khai quật mộ và thay quần áo cho di hài (dù đó là một thi thể còn nguyên vẹn, hay chỉ còn là hài cốt) . Sau đó, họ đưa di hài người quá cố đi quanh làng. Đây là một cách để thể hiện lòng tưởng nhớ đến những người đã khuất.

Người dân địa phương tin rằng các thành viên trong gia đình luôn ở bên mình, ngay cả khi họ đã qua đời hàng trăm năm trước.

Nghi lễ Ma’nene ở Indonesia
 Một hài cốt được mặc áo mới

Tiếp tục đọc

Đám Cưới Người Thái ( Sơn La Ký Sự – Nguyễn Khôi)

ĐÁM CƯỚI NGƯỜI THÁI

Photobucket

Ở người Thái: con gái khi lên 13 tuổi, trai 15 tuổi thường tổ chức nhuộm răng đen. Lấy cây “mạy cù”, mọc ở núi đá, đốt lên khói hơ vào miếng mai sắt thành giọt nước, trai gái nắm tay nhau, kể anh chị em. Trai lấy ngón tay miết giọt nước trên mai (cái mai đào đất) tra vào răng gái, gái tra vào răng trai. Sau đó hai người nắm tay nhau xuống thang đến bậc cuối, cùng nhảy xuống. Từ đấy trở thành trai gái thiếu niên. Từ đấy trở đi mới được ra chơi “Hạn Khuống” hát giao duyên tìm hiểu nhau (nghĩa là sang tuổi cập kê):

Tiếp tục đọc

Sơn La Ký Sự – Ngủ Bản ( Nguyễn Khôi)

Bài 3 :                                                        Cơm Bản

Cơm Tàu, cơm Tây chẳng tày cơm bản

Bát “khẩu hang” tháng 9 mẹ để phần

Ăn bít tết, lẩu dê… chẳng chê cá nướng

Món canh chua: Tay chị gái hái măng.

Ơi cơm bản ta ăn trên sàn gió

Tiếp tục đọc

Sơn La Ký Sự – Cơm Bản – Nguyễn Khôi

Cơm Bản

https://i2.wp.com/nguyenduyxuan.net/images/stories/2012/Quehuong/Com-Thai.jpg

“Cơm Tàu, cơm Tây … nhớ về đây cơm bản

Nếp xôi thơm, bên bếp lửa em chờ”

Tiếp tục đọc

Bản Quê Yêu Dấu – Nguyễn Khôi

SƠN LA KÝ SỰ

(Ghi chép về Bản cũ, Mường xưa)

LỜI THƯA

 

Khoảng thời gian từ 1955 – 1975 thì 18 Châu Mường (huyện miền núi) phía Tây bắc Việt Nam là khu tự trị Thái Mèo, sau đổi là khu tự trị Tây Bắc. Tổ chức Nhà nước VNDCCH trên Trung ương là chính phủ ở Thủ đô Hà Nội, dưới là khu  hay tỉnh rồi tới huyện, xã, thôn (bản). Thời đó chính quyền cơ sở (chiềng – xã) còn rất yếu: Chủ tịch xã, trưởng bản phần lớn nói tiếng phổ thông (kinh) còn chưa thông, mới võ vẽ đọc thông viết thạo…Để giúp cơ sở hoạt động có hiệu lực thì cấp tỉnh, huyện thường cử cán bộ xuống giúp xã “chỉ đạo” (kiểu cố vấn, trợ lý) gọi là “cán bộ phụ trách xã”, nôm na là “cán bộ cắm bản”, thực hiện “3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân bản).

NK tôi sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp lên Sơn La công tác (1963-1984) ở Ty Nông nghiệp, rồi Ban nông nghiệp tỉnh ủy nên đã có nhiều đợt làm “cán bộ cắm bản”, để lại nhiều kỷ niệm không thể phai mờ…Nay đã ngót 40 năm, xin ghi lại đôi dòng hồi ức “cắm bản” ghi chép về Bản cũ, Mường xưa.

Hà Nội, 28-2-2004

Nguyễn Khôi

 BẢN QUÊ YÊU DẤU

 Trích Sơn La Ký Sự


Photobucket

“Mười yêu không bằng người tình cũ

Mười nhớ không bằng nhớ bản xưa”

Tiếp tục đọc

Hội Lim – Hội Lim 2012

Hội Lim là lễ hội Văn hoá Nghệ thuật đặc sắc của những làng quê Quan Họ Bắc Ninh (vùng Kinh Bắc cũ). Đến với Hội Lim khách trảy hội sẽ được xem, nghe và hát Quan Họ với các “liền anh liền chị”, và đó là nét đặc trưng cơ bản nhất của lễ Hội.

Có tới 49 làng hát Quan họ, phân bố trong 4 huyện, phía nam tỉnh Bắc Ninh. Nhưng nói tới Quan Họ, người ta nghĩ ngay đến hội Lim. Lim là tên nôm của xã Lũng Giang xưa. Hội mở trên đồi, nơi có chùa Lim (chùa Hồng Ân). Hội Lim đông vui và nổi tiếng nhất trong các hội Quan Họ miền Bắc.

Hội mở vào ngày 13 tháng Giêng mỗi năm, đúng phiên đầu năm của chợ Lim. Quan Họ là loại dân ca đặc sắc nổi tiếng không chỉ ở lời ca trữ tình, nồng nàn yêu cuộc sống và tình yêu đôi lứa, hay với 200 làn điệu âm nhạc đặc sắc mà còn do những đặc điểm khác hiếm thấy ở Dân ca các vùng khác.

Tiếp tục đọc

Rủ nhau đi cầu – Nguyễn Dư

 Nói chung, dân ta thích… đi cầu. Đi nhiều kiểu, dùng nhiều cầu khác nhau. Cái thì bắc qua sông, qua lạch để lối xóm qua lại thăm hỏi nhau. Cái thì dựng trên mặt nước để ngồi ngắm mây bay rác nổi, buông xả chất chứa trong lòng. Có cái dẫn dắt vào cổng hậu công đường để thầm thì bàn tính đại sự.

Xưa kia, ta chỉ làm được cầu bé và ngắn. Xây bằng đá, bằng gạch hay đóng bằng gỗ, bằng tre. Gặp khúc sông rộng khó bắc cầu thì dùng thuyền để qua.

Tiếp tục đọc

Tết Nói Chuyện Rượu

Tết Nói Chuyện Rượu

Photobucket
Xuân về, nhấp ly rượu đào, mấy ai nghĩ đến sự chuyển vận của Đất Trời, giao hòa của thời tiết để rồi bâng khuâng nhớ đến chất men nồng huyền diệu của người xưa đã khai sinh ra nó.
Nhất là phong tục Vietnam, Rượu đi đầu trong chữ Lễ, trong 3 ngày Tết.

Lịch sử của Rượu có lẽ cũng lâu đời và huyền hoặc không kém so với sự xuất hiện của loài người.

Tiếp tục đọc

Ý nghĩa tục ” Lì Xì” Đầu Xuân


Lì xì đầu năm đem lại cái hên, điều lành, điều tốt dịp đầu xuân.
Tục lì xì có khá nhiều nguồn gốc khác nhau. Ngày xưa, ở Đông Hải có một cây đào to, có rất nhiều yêu quái sống trong bộng cây, như hồ ly tinh, chuột tinh… Chúng luôn muốn ra ngồi bộng cây để gây hại bá tánh, song lúc nào cũng bị các thần tiên ở hạ giới canh giữ.

Minh Triết Việt Trong Sự Tích Ông Táo

Hôm nay 23 tháng chạp, theo tục lệ ông bà của chúng ta ngày Tết là ngày đưa ông Táo về trời. Mời các bạn đọc bài Minh Triết Việt Trong Sự Tích Ông Táo, của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, chị Trần Lê Túy Phượng chuyển bài.

Rất nhiều người quan niệm rằng tục cúng ông Táo là của người Hán du nhập vào văn hóa Việt. Thậm chí nó được các học giả nói một cách rất nghiêm túc. Nhưng sự thật lại hoàn toàn ngược lại! Chính nền văn hiến Việt trải gần 5000 huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử là nguồn gốc của phong tục cúng ông Công Ông Táo. Khi nền văn minh này sụp đổ ở Nam Dương Tử và bị Hán hóa trải hàng ngàn năm; khiến ngày nay người ta ngộ nhận tục cúng ông Công Ông Táo của người Hán. Bài viết này sẽ chứng minh với các bạn điều đó.

Những phong tục năm mới quái lạ trên thế giới

Để đón chào năm mới, người dân ở nhiều quốc gia đã có những việc làm lạ lùng để cầu may mắn, hạnh phúc và của cải cho mình.

Năm mới là lúc tất cả mọi người bất kể nguồn gốc, quốc tịch, nền tảng văn hóa đều tổ chức ăn mừng. Tất cả đều tin rằng năm mới đến sẽ đem tình yêu, hạnh phúc, của cải và may mắn tới cho cuộc sống của họ. Mọi người cầu mong rũ bỏ mọi ký ức không đẹp trong quá khứ. Năm mới được cho là thời điểm tốt nhất trong năm để hứa hẹn và đưa ra những giải pháp. Dưới đây là những phong tục lạ về năm mới.

Những Lễ Tết Cổ Truyền Tại Việt Nam – Trần Đại Sỹ

1. Tết Nguyên Ðán

Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Ðán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Ðây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau… và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới.

Theo phong tục cổ truyền VN, Tết Nguyên Ðán trước hết là tết của gia đình. Chiều 30 tết, nhà nhà làm lễ cúng “rước” gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà. Thứ nhất là cuộc “gặp gỡ” của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư – vị tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công – thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân – thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.
Photobucket Tiếp tục đọc

Nhìn Lại Những Tập Tục Của Dân Tộc – Tú Yên

Trong thời hiện đại hóa, sự tiến bộ của khoa học làm cho con người chúng ta quá tự hào về các thành tựu đã đạt được, đến nỗi một số  không ít quá ngưỡng mộ xem sự thành tựu của khoa học là tuyệt đỉnh, xem thường những giá trị văn hóa, đạo đức đã có tự ngàn xưa. Có người còn cho là lạc hậu, phản khoa học.

Thực tế mà nhìn nhận thì trong những tập tục còn lưu lại trong dân gian có cái cũng không phù hợp. Đó là những lễ hội mà sự giết chóc rất là man rợ đã được đăng tải trên mạng, trên báo. Hình ảnh những con trâu bị trói và đâm từng nhát cho đến chết, hay những con heo bị cột bốn chân kéo căng ra bốn phía để cho một người cầm đao cứa  cổ trước khi chém đứt thân ra rồi mọi người, lớn bé, xông vào uống máu tươi thì quả thật là rùng rợn. Trẻ em cuồng nhiệt tán thưởng và hành động ấy tất nhiên đã gieo vào tâm tưởng chúng sự hiếu sát rất tai hại cho xã hội. Thế nhưng những tập tục ấy lại được phục hồi và phát triển.

Tiếp tục đọc

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba… ngáo ộp ! ( Nguyễn Dư )

Ngày xửa ngày xưa. Ôi ! Cái thời… loanh quanh ở nhà với mẹ. Biết ngày nào khôn ? Khôn hay dại thì phải chờ hỏi cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trẻ con làm sao biết được. Trước mắt chỉ nghe mẹ quát :

– Trẻ con đi chỗ khác chơi !

Đi đâu mẹ ơi ? Cái phòng vừa làm buồng ngủ, vừa làm chỗ ăn, chỗ tiếp khách, chỗ học bài, làm gì còn chỗ để chơi. Cái sân, cái bếp thì hai ba gia đình chung đụng. Người vào, người ra từ sáng đến chiều… Chỉ có ngoài đường mới vắng vẻ. Cây to bóng mát. Năm 1948, 1949, phố Bà Triệu rộng thênh thang ! Dăm ba cái xe đạp, xe xích lô đủng đỉnh qua lại. Thỉnh thoảng mới có một cái ô-tô nhà binh, hay cái ” bình bịch ” hiến binh Pháp, một mình một chợ, phóng ầm ầm. Hè phố Hà Nội của mấy năm mới hồi cư còn rộng rãi, quang đãng, sạch sẽ. Trẻ con chơi đùa… như chỗ không người.

Tiếp tục đọc

Phong tục về cưới xin – Nguyễn Dư

Photobucket

Luân lý Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là một bổn phận thiêng liêng của con cháu. Thờ phụng phải được tiếp nối liên tục qua các đời. Vì vậy mỗi người đàn ông phải sớm lập gia đình để mau có con trai nối dõi, lo việc đèn nhang.Sớm là bắt đầu từ mấy tuổi?

Tiếp tục đọc

Vài Tục Lạ Của Huế

Tại sao lại gọi là Ngựa Thượng Tứ ?

Ở Huế, khi nói về một người đàn bà hung dữ, có lời ăn tiếng nói thô lỗ, cử chỉ vùng vằng, người ta thường ví kẻ đó như Con ngựa Thượng Tứ . Thượng là thuộc về của Vua . Tứ là xe bốn bánh do ngựa kéo . Gần cửa Đông Nam, một trong tám cửa của kinh thành Huế, xưa có khu vườn nuôi ngựa để kéo xe cho vua . Những con ngựa này thường là dữ dằn phải do đội phi kỵ vệ và khinh kỵ vệ nuôi dạy, huấn luyện cho ngựa trở nên thuần . Người đàn bà dữ dằn lúc nào cũng lồng lên như ngựa chứng thì có gọi là “ngựa Thượng Tứ” cũng đúng thôi . Cửa Đông Nam vì ở gần khu Thượng Tứ nên cũng được dân Huế gọi luôn là cửa Thượng Tứ, không ai còn để ý đến hai chữ Đông Nam ghi trên vọng lâu nữa .

Chợ Đông Ba hay chợ Đông Hoa ?

Photobucket

Chợ Đông Ba, ngôi chợ lớn nhất trong các chợ ở Huế, vốn có tên thật là chợ Đông Hoa – cửa Đông Ba xưa cũng gọi là cửa Đông Hoa . Đây là một cái tên do ta bắt chước Trung Quốc . Thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu cũng có một cái cửa gọi là cửa Đông Hoa . Chỉ vì tránh phạm húy mà người Huế phải gọi trệch ra là Đông Ba vì tên Hoa là tên của bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng, được phong Tá Thiên Nhân hoàng hậu, gốc người Biên Hòa (Nam Bộ) .

Nếu ta nghe người Huế xưa gọi “Ánh sáng”“Yến sáng’” thì cũng đừng ngạc nhiên vì họ sợ phạm húy bởi “Ánh” là tên vua Gia Long nên phải đổi ra thành Yến .

Lão thi ông Ưng Bình Thúc Giạ khi làm thơ cũng đổi chữ “cánh phồn hoa” ra “cánh phiền ba”bởi hơn ai hết, ông phải kỵ húy vì ông là người trong Hoàng tộc

Bắt trẻ con làm cá, lấy trấu làm tép!

Nhân vùng biển Thuận An sắp trở thành thị xã, xin kể vài tục lạ của người dân vùng biển này có từ thời xa xưa .

Dân chài lưới ở Thuận An rất sùng bái nữ thần Thái Dương vì vị thần này đã nhiều phen giúp họ làm ăn phát đạt . Họ lập miếu thờ và mỗi năm, cứ đến ngày 23 tháng chạp âm lịch lại tổ chức lễ hội, trang điểm cho tượng thần, bày ra các trò vui chơi và cúng tế để cầu yên . Họ thường nhắc câu: ”20 làm tốt, 21 xâu tai, 22 đeo hoa, 23 tế Nhân” . Xâu tai, đeo hoa là làm đẹp cho tượng thần và Nhân là tên của nữ thần Thái Dương .

Ngư dân ở đây đã lấy lưới vây trên bến cạn, bắt một số trẻ em trần truồng cho vào trong lưới giả làm cá vừa lưới được, xong nhiều người đem rổ rá đến mua . Cũng diễn ra cảnh chọn cá và kỳ kèo, trả giá, xong thì đem bọn trẻ sang bờ bên kia thả cho chúng chạy .

Họ cũng dùng trấu giả làm tép biển và lấy vợt xúc lên, giả như đang thu hoạch . Tiếp sau đó, có những trò vui như đua trải, nhậu nhẹt và hát bội cho dân làng xem .

Người Huế mà không được nói tiếng Huế !

Đó là lệnh cấm đối với các thiếu nữ được tuyển vào làm cung phi trong Nội, dưới triều Nguyễn . Họ không được nói rặt giọng Huế mà phải nói y như giọng dân Phường Đúc . Phường Đúc là khu quần cư tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều dình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra . Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu vị Thần Công và Cửu Đỉnh ở Huế . Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì . Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương . Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia . Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam, ai không tuân thì bị tội . Tại sao lại có hiện tượng này ? Kể cũng khó hiểu . Và lệnh này có từ đời nào ? Có người đưa ra giả thuyết: có lẽ chuyện này xuất phát từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Bộ, con gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định . Bà được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, lấy vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận “hậu cần” của Hoàng đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện . Có lẽ bà muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Bộ để trao đổi cho dể hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa – Gia Định nghe giọng Huế “đặc sệt” có thể không hiểu mô tê chi cả .

Photobucket

Cũng có thể lệ này xuất hiện sớm hơn, từ thời Minh Mạng vì ông này nổi tiếng là ông vua có nhiều vợ và phần lớn là người miền Nam .

Về giọng nói Phường Đúc thì cho đến nay, thời gian qua quá lâu, trải nhiều thế hệ, giọng nửa Nam nửa Trung đã trở thành Huế rặt .

Ngoài ra còn có một hiện tượng buồn cười khác là các người làm việc trong nội dù là cung phi, lão tỳ, thị tỳ, nô nhân hay nê nhân, lúc mới vào đều phải tự nguyện “câm” đi trong thời gian sáu tháng . Suốt thời gian này, họ không nói gì cả hoặc nói rất ít . Không nói vì sợ phạm húy, lỡ mồm lỡ miệng thì mang họa vào thân . Chờ khi nào thuộc lòng những chữ “nên tránh” gồm trọng húy và khinh húy, hoặc những chữ cấm nói như: chết chóc, đui què, máu me, phong hủi . . . vì những từ này mang điềm gỡ hoặc thô tục, lúc đó họ mới đưc phép . . . hết câm .

.

Tô Kiều Ngân

Túy Phượng chuyển bài

Đồng Tháp – Nghĩa Tình Nam Bộ

Đồng Tháp là một tỉnh nằm ở miềnTây Nam bộ  có nền nông nghiệp phát triển, là vựa  lúa lớn thứ ba của Việt Nam, là tỉnh có chỉ số tăng trưởng GDP  cao và chỉ số về cạnh tranh kinh tế đứng thứ 1 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và thứ 4 cả nước trong năm 2009. Mời đọc tiếp để biết thêm về một Đồng Tháp sâu nặng nghĩa tình Nam bộ.

Tiệc liên hoan cho khỉ tại Thái Lan

Những con khỉ macaque. Tiếp tục đọc

Việt Nam Gấm Hoa ( Huỳnh Huệ)

Mời các anh chị em thưởng thức những màn biểu diễn vinh danh vẻ đẹp truyền thống Việt Nam, trong đó vẻ đẹp người phụ nữ được tôn lên trong trang phục là những chiếc áo dài quê hương gấm hoa xinh đẹp hiền hòa. Chúng ta cùng xem để tự hào với truyền thống áo dài Việt Nam. Tiếp tục đọc

Nam Kỳ Lục Tỉnh- Đất Nước và Con Người (3)( Túy Phượng)

Bàn về bản chất của người Nam Kỳ

Bàn về bản chất của người Nam Kỳ, tôi xin mượn hai tài liệu xưa.  Trong Gia Định Thành thống chí của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng năm 1820 có đoạn:

Vùng Gia Định nước Việt Nam đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. nhà nào tục nấy…..Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…. Tiếp tục đọc

Việt Nam, các dân tộc thiểu số

Việt Nam hình cong chữ S.
Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.
Việt Nam con Rồng cháu Tiên.
Việt Nam năm mươi tư dân tộc anh em thắm tình Kinh Thượng.
Và để thấm nhuần những chân lí hiển nhiên này lắm khi lại đâu có dễ hiển nhiên.

Nhằm cung cấp một tri thức tổng quan về đồng bào các dân tộc anh em, chị Túy Phượng đã công phu gửi đến bạn đọc một PPS gồm 46 slide như một quà tặng giàu nhắn nhủ.
Ta gặp được hình ảnh những người anh em Ba Na, Thổ, Gia Rai, Mường Mán , Mèo, Thái…với những khuôn hình thật sinh động.
Dũng sĩ Lang Bian phóng lao, có người phụ nữ Ba Na khá …lạ mắt. Có phụ nữ người Mèo, người Mán, người Mường …đẹp một vẻ đẹp ban sơ hoang dã.
Công phu của bộ sưu tập là đã đem đến gần như đầy đủ các khuôn hình các phụ nữ người dân tộc từ Bắc đến Nam.
Và kết cuộc là bộ cồng chiêng Tây Nguyên như một âm vang thầm nhắn nhủ!
Có thể mỗi bạn đọc khi cùng chị Túy Phượng đi tham quan thăm thú và ngẫm ngợi về các sắc tộc sẽ ngộ ra những điều riêng kì thú từ sở kiến kinh lịch riêng của mình chăng?

Một điều thú vị nữa hôm nay đang tưng bừng lễ hội Cà phê 2011 tại Daklak, lễ hội cấp quốc gia. Các bạn cùng thưởng thức ly Cà Phê Ban Mê do chị Tuý Phượng chọn và ca sĩ Siu Black mời nhé

Việt Nam, dân tộc thiểu số là một kho tài liệu quí đang chờ các bạn.

.
Nguyễn Tấn Ái giới thiệu
.

Đua Voi, Đua Thuyền chào mừng Lễ hội cà phê 2011

Thị trấn Liên Sơn, huyện Lak, khu du lịch hồ Lak, cách thành phố Ban Mê độ 50 km.

Từ sáng sớm ngày 10/ 3/ 2011, du khách và người dân Daklak đã kéo về đây háo hức đón xem cuộc đua voi và đua thuyền truyền thống của địa phương chào mừng Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột 2011.

8h sáng ngày 10/3, 20 chú voi dũng mãnh, trang trí đẹp mắt, được điều khiển bởi những chàng trai  khoẻ mạnh trong trang phục truyền thống của đồng bào dân tôc. Họ là những nài voi dạn dày kinh nghiệm  trong việc thuần dưỡng voi bước vào đường đua 140m.

Một hồi tù và rúc lên, theo lệnh điều khiển, từng tốp voi đứng vào vị trí xuất phát. Khi có  lệnh xuất phát, những chú voi bật lên như chiếc lò xo, phóng về phía trước, tiếng chiêng, trống, tiếng hò reo cổ vũ ầm vang cả núi rừng.

Cảnh những chú voi dàn hàng ngang thẳng tắp rất uy nghi, cảnh voi  lao nhanh về phía trước, cảnh các chú voi khổng lồ theo hiệu lệnh răm rắp khuỵu cả 4 chân mẹp xuống chào, những chiếc vòi giơ lên, hạ xuống và  và cuộn lại  rất kỷ luật, thật đẹp mắt và đáng yêu.
Cuộc đua kết thúc, những chú voi được giải giơ cao chiếc vòi vẫy chào mọi người rồi ngoan ngoãn bước đi ung dung. Đôi tai phe phẩy, mắt lim dim đón nhận những ống đường, khúc mía của những người dự hội là phần thưởng giá trị nhất với các chú voi

Cũng trong thời gian trên, dưới hồ Lắk, khoảng 20 chiếc thuyền độc mộc đến từ 4 buôn làng quanh hồ Lắk cũng tham gia thi đấu.

Sự kiện văn hoá mang màu sắc đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên với những cảnh tượng độc đáo tại 2 cuộc đua này đã được chị Đàm Lan, nhà thơ nữ của chúng ta, tay bấm máy nghiệp dư ghi lại nhiều hình ảnh. Cũng xin nói thêm nhà thơ nữ thích ruỗi dong đã làm một chuyến đi ngắm đua voi, đua thuyền và  săn ảnh ngót 100 km trên chiếc xe cũ mà mình hay chọc vui là chiếc xe tàng mà tin cậy ấy.

Cám ơn tay bấm máy tài tử đã cho chúng ta những bức ảnh ý nghĩa này. Ảnh Đàm Lan  tặng rất nhiều. Ban Mai Hồng chỉ trình làng  mấy tấm chọn lọc kể lại đôi điều. Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuộtlần thứ 3 từ ngày 10 đến ngày 15/3/ 2011, cuộc vui còn dài. Các bạn gần xa nhớ về Ban Mê dự  hội nhé. Chúng ta cùng đi dạo hội chợ,  vừa nhâm nhi những ly cafe chiêu đãi của trên chục thương hiệu cafe nổi tiếng ở xứ sở cafe này.

.

Huỳnh Huệ

Tất cả ảnh trong bài : Đàm Lan

Dàn hàng ngang

Chào khán giả

Tập kết

Tạm biệt voi nhé

Hồ Lăk   và  Cuộc Đua Thuyền

Đua thuyền

Giai Thoại Về Một Bài Hát Ru Xứ Quảng

Trong kho tàng văn nghệ dân gian Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng có không ít câu hò, lời hát được nhiều người, nhiều vùng đất biết đến. Nhưng liệu mấy ai biết xuất xứ từ đâu, và không dễ biết tác giả là ai, bởi đặc trưng của Văn nghệ dân gian là truyền khẩu. Do vậy, không ai nghĩ đến việc phải đi tìm tác giả của một câu ca dao, một bài vè hoặc một câu hát ru, bởi việc ấy là quá khó. Ấy vậy mà tình cờ tôi được một nữ lão nghệ nhân của một đội hát hò khoan ứng đáp trong lúc say chuyện đã kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện về những câu hát ứng tác của những nghệ nhân xưa mà chính bà ta là chứng nhân, là người trong cuộc. Có lẽ tôi là người hiếm hoi được cái may mắn ấy. Cái may mắn được biết hoàn cảnh ra đời bài hát ru gan ruột của Đất Quảng đã tồn tại qua nhiều thế hệ người, đã quá phổ biến trong dân gian, bài hát mà các nghệ nhân cho rằng mẫu mực trong thể loại hát sinh tử, một trong những nội dung trong loại hình hát Hò khoan, một loại hình sinh hoạt Văn nghệ dân gian miền sông nước nhiều thập niên trước, là món ăn tinh thần không thể thiếu ở nông thôn xứ Quảng ngày xưa mà cho đến nay còn và có quá nhiều người thuộc.

Thời ấy, những nghệ nhân hát hò khoan ứng đáp giỏi, nổi danh khắp vùng thường được mời đi Hát ở nhiều nơi, có khi ra đến tỉnh bạn. Trong giới “ngôi sao” ngày đó hẳn không thể thiếu tên tuổi ông giáo Lương, dân khắp vùng chẳng ai không nghe tên biết tiếng. (Có lẽ lúc ấy ông cũng là một ông giáo làng nên người ta mới gọi thế.) Ông tên thật là Phạm Đình Lương, quê ở thôn Cẩm Sa, huyện Điện Bàn ( một địa danh thuộc xã Điện Nam, huyện Điện Bàn bây giờ ).

Theo bà lão nghệ nhân thì ông rất giỏi ứng biến, sáng tạo trong hát đối đáp, nhiều tình huống đối phương ra vế đối quá khó, tưởng chừng đội nhà sẽ thua cuộc nhưng nhờ tài năng của ông đã chuyển bại thành thắng, buộc đối thủ phải tâm phục, khẩu phục.

Một bận, nhân dịp rảnh rỗi, ông ghé thăm nhà một người cháu trong tộc tên là Phạm Đình Tỳ (Hai Tỳ). Thời điểm này vợ ông Hai Tỳ vừa mới mất trong một cơn bạo bệnh, để lại một gia cảnh bời bời, con cái nheo nhóc với 3 đứa trẻ thơ mà đứa bé nhất hãy còn nằm nôi. Vừa đến đầu ngõ ông đã nghe tiếng trẻ khóc thét lên trong cơn khát sữa, mặc cho người cha ru nôi hò hụi khản cả cổ, vã cả mồ hôi mà tiếng khóc càng lúc càng như xé ruột khiến người nghe như lửa đốt trong lòng.

Vào nhà, chứng kiến cảnh gà trống nuôi con, nhà cửa nhếch nhác, bừa bộn do thiếu vắng bàn tay người phụ nữ. Cảm thương người cháu tội nghiệp phải vất vả trăm bề, xót xa cho cháu bé còn đỏ hỏn phải sớm lìa mẹ, chịu phận cút côi. Cảnh tình ấy như một động lực thúc đẩy, một chất xúc tác cực mạnh khơi dậy mạch nguồn sáng tạo trong con người nghệ sỹ công chúng Phạm Đình Lương. Cầm lòng chẳng đặng, ông bèn bước lại giành lấy tao nôi, vừa ru cháu, vừa ứng tác hát luôn:

” Nơi chín suối em vào miền hạc lộ

Cảnh dương trần anh gánh cõi trần ai

Đêm năm canh nước mắt láng lai

Tay anh bồng con dại, miệng anh nhai hột (1) ngọc trời

Phần cha không sữa con ơi

Nhai cơm suốn(2) nước, con ăn chơi cho cha nhờ

Con còn non sữa(3) ấu thơ

Tay cha ru, miệng cha hát ầu  ơ năm canh trường

Bồng con mà để trên giường

Con ơi, con hỡi không biết thương cha rày !

Cha ru con đà mỏi hai tay

Hay là con nhớ mẹ đêm ngày con khóc luôn

Vừa ru, cha vừa hát, vừa hun(4)

Thấy con thêm đau ruột, lệ cha tuôn hai hàng

Ngó  vô trong cảnh gia đàng

Nhơn sầu, cảnh dị(5) , hoa tàn, nhuỵ khô

Một mình quày(6) quả ra vô

Bải nước trầu còn đó, mẹ  con đi mô không thấy về

Hay là em ly biệt phu thê

Em hẹn hò non nước, bỏ  bê chốn dương trần(7)

Em đi đâu bỏ nợ bỏ nần

Bỏ  con thơ kêu khóc, khổ  chín mười phần em ơi !

Ngắn hơi kêu chẳng thấu trời

Trên dương gian, dưới âm phủ  đôi nơi khó tìm…”

Bài hát miêu tả tâm trạng, gia cảnh người cháu rất thực, rất xúc động, nhưng tôi có cảm giác như độ dài của nó không phải chỉ chừng ấy. Khi tôi nêu nghi vấn này thì người nghệ nhân cao tuổi ấy quả quyết rằng bài hát chỉ có thế. Để bảo vệ cho lập luận của mình, bà lý giải : “Tôi là cháu bà con bên ngoại với ông hai Tỳ, là người nhà và có mặt ngay lúc ông giáo Lương đến nhà, tôi chứng kiến từ đầu chí cuối và vẫn nhớ như in, lúc đó tôi đã 14 tuổi rồi còn gì ! sở dĩ bài hát kết thúc đột ngột là vì sao chú biết không ?”

Khi thấy tôi háo hức muốn biết thực hư thế nào, bà thư thả như để thử tài suy đoán của tôi rồi tiếp :“Khi hát tới đó thì đứa bé đã nín khóc và ngủ say nên ông chỉ nhè nhẹ đưa nôi chứ không tiếp tục hát nữa. Do đó bài hát chỉ có chừng đó thôi “.

Quái lạ, Không hiểu vì lẽ gì, do giọng ru truyền cảm  hay một tác động mang yếu tố tâm linh thiêng liêng nào đó mà đứa bé cảm nhận được chăng ? Tôi băn khoăn mãi, bài hát chỉ vỏn vẹn có 24 câu mà đủ thời gian cho đứa bé ngủ say hay sao ?! Sau này khi đi sâu vào tìm hiểu về nhạc tính trong dân ca tôi mới biết là trong hát ru, một chữ, một câu hát thường được kéo dài ra bằng những từ đệm, những nguyên âm như  A…à… …ơi…ớ …ơ… và cái đuôi rall nhẹ ở âm tiết cuối mỗi câu. Hơn nữa, những luyến láy, những khoảng lặng, những tái câu, tái đoạn v.v…được sử dụng thường xuyên, cho nên 24 câu ngắn ngủi trở thành bản trường ca đủ thời lượng trải dài trong không gian êm ả của tiếng hát ru. Và khi tôi hỏi lý do làm sao để một bài hát “ngẫu hứng đột xuất ” không văn bản như thế lại được người ta nhớ và được phổ biến, lưu truyền, thì được bà cho biết : “Khi thấy ông giáo bước đến cầm tao nôi, ông Hai Tỳ biết sẽ được nghe những câu hát mới do tài kiến tại của ông Lương, cho nên ông bảo người con lớn đem giấy bút ra cùng ông ngồi chép lại tại chỗ từng câu”.

Quả nhiên, việc làm của cha con người cháu bất hạnh ấy không uổng phí. Một tác phẩm xuất thần gây rung động lòng người nhờ vậy đã không bị đi vào quên lãng. Và theo quy luật, cái gì thuộc về nghệ thuật, về văn hóa một khi đã thẩm thấu được thì tất nhiên sẽ tồn tại. Đúng là như thế, bài hát “sinh tử” này từ lâu tôi đã được nghe mẹ tôi hát, nghe nhiều người hát trên cả mọi vùng đất ở tỉnh Quảng Nam, và không biết nó còn bay xa đến tận đâu. Bài hát mà dù đã nghìn vạn lần nghe, mà mỗi lần như thế tôi đều thấy lòng  trĩu xuống, rưng rức khôn nguôi. Bài hát đã đi vào công chúng, sống ở đó và góp phần cảm hóa, thanh lọc tâm hồn bao thế hệ người, làm phong phú thêm đời sống tình cảm con người, làm giàu có thêm cái nền đạo đức của xã hội, góp một hạt ngọc thô mà vô cùng quý giá cho nền văn học dân gian của dân tộc.

Một chi tiết thú vị khác được bà Huệ cho biết là một trong 3 người con của ông Hai Tỳ thuở ấy hiện nay đang sinh sống tại Thành phố Đà Nẵng ( quận 3 cũ ) nay là quận Ngũ Hành Sơn. Thêm một minh cứ để xác nhận rằng câu chuyện trên là có cơ sở. Biết đâu người ấy chính là đứa bé nằm nôi khát sữa năm xưa ? hay chính là người đã cùng cha chép lại bài hát ấy cũng không chừng. Đúng hay không, độ tin cậy là bao nhiêu ? liệu còn phát lộ thêm những hạt ngọc, những xâu chuỗi ngọc nào nữa? những câu hỏi đó chỉ các nhà folklore, những nhà chuyên môn, chuyên trách mới có thể trả lời.

Câu chuyện thú vị không ngờ, một giai thoại trong đời sống văn nghệ dân gian hiếm có không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Người kể chuyện: Bà Nguyễn Thị Huệ hiện nay đã hơn tám mươi tuổi, đang sống cùng con cháu tại khối 8 phường Thanh Hà thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, vẫn còn say mê hát hò khoan và đang là một thành viên của Đội Hò khoan ứng đáp của thành Phố. Một nhân chứng sống.

Quả là có cơ duyên nên trong một lần cao hứng hiếm hoi của người nghệ nhân già, tôi được nghe bà kể chuyện. Và thật đáng tiếc nếu một ngày nào đó, những nghệ nhân cao tuổi như bà Huệ lần lượt ra đi mà không kịp để lại cho con cháu bao điều còn nằm sâu trong ký ức, những báu vật vô giá mà chúng ta luôn miệt mài truy vấn khảo tìm. Và tôi cảm thấy mình mắc nợ, là có lỗi với tất cả, nếu không làm một cái gì đó trong khả năng có thể, chẳng hạn như ghi lại thật trung thực tình tiết câu chuyện, về bài hát ru có số phận kỳ lạ này.

Thiết nghĩ, cho dù là văn chương truyền miệng, nhưng khi đã có những cứ liệu thuyết phục thì việc trả lại tên cho người đã sáng tạo ra bài hát ru mẫu mực giàu tính nhân văn ấy là việc làm chính đáng lắm chứ ? Tại sao không ? !

.

Phạm Phù Sa

( Hội An – Quảng Nam)

Chú  thích :

(1)     hột: hạt cơm (thổ ngữ Q Nam )

(2)     mớm thức ăn đã nhai nhuyễn từ miệng cha sang miệng con

(3)     còn lâu nữa mới đủ tuổi cai sữa

(4)     hun : Hôn (thổ ngữ Q Nam )

(5)     người buồn sầu áo não, cảnh quạnh quẽ đổi thay

(6)     vội vã, hấp tấp, luôn vất vả bận rộn

(7)     có dị bản :

Hay là phu đã lìa thê

Em dạo chơi non nước, bỏ  bê chốn dương trần.

Giảm việc đốt vàng, mã bằng cách đánh thuế cao

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
.

 

Trước hiện tượng đốt vàng mã rất lãng phí, gây ô nhiễm môi trường và thiếu thẩm mỹ đang diễn ra tràn lan ở nhiều chùa, đền đặc biệt là dịp lễ hội đầu xuân, các nhà quản lý đã đưa ra ý kiến cần phải có biện pháp “mạnh.”

Theo quan sát của phóng viên Vietnam+, tại nhiều chùa tiền giấy, vàng mã đốt nghi ngút, bập bùng suốt ngày. Có lúc đông quá như ngày Rằm tháng Giêng, tín chủ đốt không xuể, người phục vụ trong nhà chùa kêu gọi xếp thành đống, nhà chùa sẽ đốt hộ. Ai nhìn đống vàng mã đó cũng thấy sự lãng phí.

Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Dương – Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo, việc đốt vàng mã xuất phát từ việc người dân có niềm tin, tin rằng đốt vàng mã để giúp và báo đáp người đã khuất trong gia đình, cũng như cúng tiến  Trời, Phật, Thánh. “Niềm tin được tạo từ tập quán, từ thói quen,” tuy nhiên theo ông Dương nhiều người đã sai lầm khi quan niệm rằng cứ đốt nhiều vàng mã nghĩa là tâm thành, là có hiếu hay là đốt nhiều thì được phù hộ mức tương đương… Cần nhớ chính người nhà Phật dạy: “Tâm hương mới là nén hương quý nhất!”

PGS.TS Nguyễn Hồng Dương đưa ra ý kiến:  “Tôi nghĩ quản lý nhằm chống đốt nhiều vàng mã thì nên đánh vào thuế. Đây là một cách để kìm hãm bớt việc đốt vàng mã vốn  không thể kiểm soát được.”

Theo đó, ông Dương đề nghị nên đánh thuế từ nơi sản xuất. Có sự phân loại, cấp phép hay nghiêm cấm sản xuất cho từng loại hàng, đồ mã. Việc đánh thuế tiếp theo là ở nơi kinh doanh các vàng, mã được bán phải có nhãn mác, xuất xứ của nơi sản xuất và có địa chỉ của cơ sở, làng nghề sản xuất đã được cấp phép hợp pháp.

Kế đó là đánh thuế, kiểm tra khi những đồ vàng, mã khi được vận chuyển. Cũng giống như mọi thứ hàng lậu thuế, trốn thuế hoặc kinh doanh trái phép, đồ vàng mã có dấu hiệu vi phạm cần được kiểm tra và xử lý thật nghiêm.

Cùng quan điểm về hạn chế tiến đến xóa bỏ việc đốt vàng mã, Hòa thượng Thích Thanh Hải, trụ trì chùa Vạn Xuân, Thuận Thành, Bắc Ninh cho rằng: “Biện pháp tuyên truyền là một biện pháp sẽ mang lại hiệu quả nếu các cơ quan quản lý có sự kiên trì.”

“Việc đốt vàng mã vốn xuất phát từ truyền thống hiếu thảo, luôn hướng về tổ tiên của dân tộc  Việt Nam, ” vì vậy phải làm cho người dân hiểu rằng đốt vàng mã không phải là cách duy nhất để thể hiện tấm lòng với tổ tiên. Bên cạnh đó, cũng phải nhấn mạnh là trong giáo lý của đạo Phật không khuyến khích đốt vàng mã.”

Theo các nhà nghiên cứu về đạo Phật thì không hề có tục lệ đốt vàng mã cúng tế người chết được ghi trong tam tạng kinh điển của nhà Phật. Quan niệm sống chết đối với Phật Giáo chỉ là hai mắt xích trong một chuỗi sinh tử dài vô tận, từ vô thủy, cho tới ngày giải thoát tối hậu, con người đạt tới cảnh giới bất tử.  Do đó, Phật giáo không có khái niệm về một nơi chốn dành riêng cho những người đã chết, mà dân gian thường hay gọi là cõi âm hay là âm phủ.

Chính vì vậy rất nhiều chùa đã nghiêm cấm việc cúng đồ mặn (dù là đặt ở công đồng hay ban Mẫu phía ngoài Tam Bảo) và đốt vàng mã. Điển hình việc này được các chấp tác, các nhà sư, tiểu ở  chùa Thiên Trù-Hương Sơn, (Mỹ Đức-Hà Nội) thực hiện rất nghiêm. Hễ có tín chủ thập phương để vàng mã lên đồ cúng tế là sẽ bị nhắc nhở ngay, Phật tử nơi đây vì thế mấy năm nay cũng chấp hành “lệnh” của Đại đức Thích Minh Hiền – trụ trì chùa Hương rất nghiêm túc.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ


Cũng có một nghịch lý là cùng là nơi thờ Phật, thờ Thánh nhưng có những Chùa, Đền, Đình thì đông đúc kẻ chen chân, mà lại có những nơi vắng ít người đến. 

Giải thích hiện tượng này, nhà nghiên cứu văn hóa Lại Nguyên Ân cho biết: “Hiện tượng quá tải ở một số di tích văn hóa lịch sử đang là một vấn đề rất thực tế. Người ta đi lễ vì chữ “tâm” nhưng tâm lại gắn với lợi ích, với mong cầu cụ thể. Có những mong muốn từ đời sống, từ công việc của con người mà trở nên gắn bó với các di tích, chùa chiền cụ thể.

Đặc biệt, khi lời mong cầu có những linh nghiệm thì người ta đến lễ tạ, rồi một đồn mười, mười đồn trăm rất nhanh. Chính vì thế chốn thờ tự khi đã đông lại càng đông thêm, ”mỗi người tham lễ hội cũng là tham gia sinh hoạt tâm linh. Đó là nhu cầu về tâm linh. Nhu cầu này cần trọn vẹn.

Có nhiều cách hiểu về trọn vẹn. Người thì cho rằng phải đắm mình vào việc kêu cầu thì mới là trọn vẹn. Bị chen lấn, xô đẩy thì không thể đắm mình. Có nhiều người khác lại quan niệm đi hành hương thì phải thành tâm qua hành động không ngại khó, ngại khổ khi phải leo trèo gian nan mới đến nới cầu lễ. Chính vì thế nhiều người khi đi lễ chùa Hương, lễ Yên Tử thì nhất quyết phải leo núi chứ không đi cáp treo.

Còn theo tìm hiểu của phóng viên chúng tôi, tuy bất thành văn nhưng những lời đồn đại, truyền khẩu rất quan trọng. Người ta cho rằng cầu duyên thì đến chùa này, cầu danh thì đến chùa kia, dân buôn bán bất động sản thì cầu ở đình nọ, dân công chức thì hay đến chốn kia. Thế nên anh Long-một công chức ở Hà Nội nói: “Không thể bắt buộc hay vận động ráo riết việc đi lễ như sự phân luồng giao thông mà cấm đường đông nắn dòng sang đường vắng.”

“Tuy nhiên, đi lễ là thể hiện sự thành tâm, thái độ tham gia hội với sự kính cẩn, lễ độ cũng rất quan trọng,” nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân chia sẻ. ” Lễ hội đông quá, xô bồ quá thì nơi hành lễ không thể có hành vi thuần khiết mà trở nên xô bồ. Người tham gia tự họ thiếu lễ độ hoặc bị buộc phải thiếu lễ độ…” Ồn ào, nói to, xả rác nơi cửa chùa chiền, đền… cũng sẽ làm giảm đi cái lòng thành rất nhiều…

Cô giáo Lê Thị Thu Hương (Cầu Giấy, Hà Nội) khẳng định: “Không thể vận động người đi lễ đừng đến chỗ đông hãy về chỗ vắng, đừng đến chỗ xa hãy đi lễ chùa gần. Hoặc đang mùa lễ hội thì khuyên đừng đổ dồn về đó, hết hội đi mới thoáng đãng. Đã là vấn đề tâm linh thì cũng khó vận động hoàn toàn lý tính. Báo chí cần phân tích cặn kẽ, định hướng để người đi lễ lượng sức khỏe, điều kiện và chọn lựa thời điểm để việc tham gia cầu lễ được mỹ mãn.”

Theo ông Lại Nguyên Ân: “Không thể có mệnh lệnh nào có thể chấn chỉnh ngay lập tức những “vấn đề” của lễ hội khi tâm thức của người tham gia. Chính phủ chấn chỉnh các cơ quan quản lý, tổ chức lễ hội để từ đó người tham gia lễ hội sẽ thay đổi hành vi, và sự thay đổi này sẽ diễn ra dần dần. Đã là một hoạt động tâm linh thì cần có ý thức từ bên trong tâm trí người tham gia.”/.

Theo Nguyễn Anh

Thông Tấn Xã Việt Nam


Mùa xuân nói chuyện trà

Theo truyền thuyết hơn 6000 năm, vua Shin Nung (Thần Nông) tình cờ khám phá trà thơm ngon, có thể chửa bệnh. Huyền thoại về trà Bodhidharma (Bồ  Đề Đ ạt Ma) người Ấn Ðộ lúc ngồi thiền hay buồn ngủ, ngài giận cắt mí mắt ném xuống đất và từ chổ đó mọc lên cây trà. Chuyện hoang đường này cho rằng trà giúp sự thức tỉnh một sức mạnh của tâm linh.
Theo tài liệu từ đời nhà Tần 221 (TCN) biết dùng trà như một dược liệu, chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian. Thời nhà Đường Tang Dynastie (618-907). Trà được uống trong các tu viện, lần đầu tiên ở tu viện Yang Ling trên núi Tai Shan, uống trà làm đầu óc tỉnh táo, dễ tập trung hơn, từ đó thuật uống trà phát triển trong  giới Thiền tông khắp Trung Hoa. Tác phẩm đầu tiên viết về trà „Cha Ching/茶經/Trà Kinh“ của Lu Yu /陸羽(728-804) tên thật Tsing Ling Zhe sinh ở Hubei/ Hồ Bắc, Trung Hoa. Ông mồ côi từ thuở nhỏ được Thiền sư  Zek Shin nuôi dạy, Lu Yu có dịp học nghệ thuật pha trà từ vị cha nuôi ngay từ thuở nhỏ, năm 18 tuổi ông rời Tu viện, Lu Yu về  Hán Thuỷ Han Jiang/漢水 vượt Ch’ang Chiang trường giang là tả ngạn sông Dương Tử /子江 ẩn cư  ở Chiết Giang tên cũ là sông Tiền Đường. Lu Yu vào ở trong chùa Diêu Khê (Wuxing/Huzhou 吳興區), ông không chú tâm việc học kinh kệ để trở thành thiền sư, mà chỉ miệt mài vào văn chương và biên khảo. Ông có biệt danh “Chúa của trà /Der Gott des Tees.”. Tác phẩm Cha Ching viết phương pháp chế biến, pha trà, uống trà, liên quan đến lịch sử của trà, đầy đủ nhất trong thời cổ đại về trà ra đời, việc uống trà được xem trọng như một ngành nghệ thuật, Trà kinh trở thành cuốn sách quý lưu truyền ở Trung Hoa, đến Trung Á, Tây Á và nhiều nước ở Châu Âu. Lu Yu được Trung Hoa tôn lên bậc Thánh trà, là một trong 10 vị Thánh trong lịch sử Tàu[1]
Trà tại Á Châu
Tổ phụ ngành Y khoa Hippokartes (460-370 TCN) cũng công nhận trà có dược tính tốt. Thời Nữ hoàng Âu Châu Hildegard von Bingen (1098-1179) công nhận các loại trà giúp chửa bệnh, và được nghiên cứu rộng rãi trong giới Y khoa. Bác sĩ Nicolas Direks (1593-1674) người Hòa Lan viết trong „Die Arznei“ uống trà sống lâu mỗi ngày nên uống trà (sự phát triển, nghiên cứu về trà trải qua nhiều thế kỷ, và đến ngày nay người ta nghiên cứu dùng trà xanh trong việc chế tạo kem giữ da, hay dầu gội đầu vv…)
Trà trồng ở các vùng đồi núi quanh Hangzhou (Hàng Châu) Trung Hoa, các vùng trà nổi tiếng là Lung Ching (Long Tĩnh) và Lung Ding  ngoài ra còn có vùng bảy núi ở Xishuangbanna. Trồng trà từ triều đại Tang/Đường (618-907) nhưng mãi đến triều đại Qing/Thanh (1644) trà được đưa vào việc sản xuất. Hiện nay còn loại trà cây cổ thụ từ năm 1700 đời vua Shengzu-Kangxi (Thánh tổ Khang Hi)  qua các đời sau, vùng nầy trồng loại trà Pu-Erth (Phổ Nhĩ) lá dày. Nước trà màu hơi đỏ, được xem như một dược liệu chống lại bệnh có mỡ trong máu (wunderwaffe gegen fett/wonderful weapon against fat).
Ở Ấn Ðộ vùng núi Darjeeling cách xa Kalutta 600 km trồng các giống trà „Thea Chinensia“ được công ty Ðông Ấn „East India Company hoạt động từ năm 1600-1857“ lai giống các loại trà, năm 1823 tại Assam thành công, thêm loại „Thea assimica“. Ấn Ðộ trồng hơn 400 loại trà khác nhau, trà nổi tiếng thơm ngon quanh vùng Himalaya trên cao độ 2200 m, các vườn trà trong vùng thung lũng „Steintal“ và „Happy Vallytea Estate“. Người ta cũng khám phá trà mọc hoang trên đồi núi ở Ấn Độ, nên có nhiều nghi vấn nguồn gốcTrà ở Ấn Độ trước  Trung Hoa? Assam là vùng cao nguyên trên thượng lưu Brahmaputra, có 2000 vườn trà được lai giống khác nhau. Ấn Độ xuất cảng trà đứng đầu thế giới sau là Tích Lan (Sri lanka). Giống trà Thea assmica, được người Anh ông Schotte James Taylor mang vào Tích Lan năm 1849, sau 11 năm phát triển trồng trên cao nguyên Ceylon và Tamilen
Tại Việt Nam theo sách An Nam Chí Lược ghi “tháng 5, năm thứ Tám niên hiệu Khai Bảo. Ðinh Liễn có tiến cống nhà Tống vàng, lụa, sừng tê, ngà voi và trà thơm“. Các tài liệu trên chứng tỏ người Việt đã biết uống và biến chế trà từ lâu. Ngành khảo cổ đã khai quật tại vùng Nông Giang, Thanh Hóa tìm thấy được nhiều bình,chén, dĩa trà thời gian nầy ngang với đời Tống (Song 960-1279) từng bán sang Nhật, dù hàng sành sứ của Việt Nam không sắc sảo, nhưng  hình vẽ cảnh thiên nhiên sông nước, hoa lá hợp với phong cảnh Thiền của Nhật.
Theo Nguyễn Trãi ở Dư Ðịa Chi, đã kể trà Tước Thiệt (trà lưởi chim sẽ) người ta gọi là trà móc câu thuộc giống trà mi ở vùng Sa Bôi nay là tỉnh Quảng Trị (ngày xưa thuộc Châu Ô, Châu Lý).

Có rất nhiều giống trà trồng hợp với khí hậu điạ phương, các nơi trồng trà nổi tiếng như: Phú Thọ, Hòa Bình, Nghệ An, Thái Nguyên, Lai Châu. Cao nguyên Bảo Lộc Lâm Ðồng có loại trà mi, hải đường. Có hoa nhỏ thơm dịu, nụ nhỏ, trà ngày nay theo nhu cầu kỹ nghệ sản xuất lai nhiều giống, có 3000 loại trà mi khác nhau trên thế giới. Ở vùng Vạn Hội, núi Chúa thuộc huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có hai thứ trà „cam“ và „khổ“ mọc hoang dã trên đồi gò hoặc ven chân núi. Trà cam lá nhỏ, có vị ngọt như đường, trà khổ lá to, xanh, dày và cứng  uống thì rất đắng như khổ qua trà giống như cây rau có dược thảo khổ cự (rau diếp), khổ thái (rau đắng) v.v… Rễ trà cam có tác dụng hồi sức cho phụ nữ sau khi sanh con. Trà khổ làm cho người say tĩnh rượu, uống thường xuyên trà khổ, gan hoạt động tốt phòng ngừa bệnh sốt rét.
Theo nghiên cứu các nhà khoa học, trà phát sinh từ 3 loại chính của Ðài Loan và Nhật Bản đó là Camellia Japonica, Camellia sasanqua, và Camellia reticulata. Trà mi có tên khoa học Camellia chrysantha trong thời gian gần đây người Pháp tìm ra trà mi giống Việt Nam và được nhắc đến trà mi hoa vàng tên Camellia vietnamensis ở Cúc Phương, đẹp hơn trà mi hoa vàng gốc Nhật, hoa ít hơn, loại Camellia baviensis ở núi Ba Vì hương thơm nồng nàn. Trà mi Camellia baviensis đem về trồng thí nghiệm ở đại học Lâm nghiệp Xuân Mai Hà Tây. Hoa lưởng tính cánh trắng nhụy vàng to nở lâu tàn.Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ 6 Hoà Thượng Huimeng (638-713) truyền Phật Giáo từ Trung Hoa sang Ðại Hàn vào Nhật Bản và phát triển mạnh trong thời Nara Zeit (709-784 奈良時代). Trà du nhập vào cùng giai đoạn trên, nhưng đến thời Hoàng Ðế Shômu/ 聖武天皇(724-749) khoản đãi trà cho 100 tu sĩ Phật giáo tại hoàng cung năm 729. Số trà này có lẽ do sứ thần Nhật mua trong chuyến đi sứ Trung Hoa. Thiền sư Saicho 最澄(767-822) mang về một số hạt giống trà và trồng tại Yeisan năm 801, từ thế kỷ thứ 8 trà dùng phổ thông hơn. Kế tiếp qua nhiều triều đại văn hóa phát triển. Cuối thế kỷ 12, thiền sư Eisai Zenji 栄西禅師 (1141-1215) viết về việc uống trà tập sách tựa đề „Kissa-yojo-ki /Zen-Meister Eisai”… Thượng phụ Murato Shuko (1422-1502) biến chế trà xanh (Matcha) dùng trong các Tu Viện và các Hiệp sĩ đạo/Samurai.  Ðến đời sư phụ Sen-No Rikyu 千利休 (1522-1591) được nâng lên một nghệ thuật, trở thành nghi thức uống trà (Tea ceremony/茶道Chanoyu) khởi đầu tại Daitoku-Ji-Tempel.
Okakura Kakuzō/(岡倉 覚三,(1863-1913) ở Yokohama là học giả Đông phương viết về trà „The Book of Tea“ năm 1906. Cho đến nay, tác phẩm này được in lại rất nhiều lần, qua nhiều ngoại ngữ khác nhau.  Thái Lan, Lào, Java ở Indonesia, Malaysia…  nhưng mỗi quốc gia đều có phương pháp trồng trà riêng.
Trà nhập Âu Châu
Năm 1610 người Hòa Lan mang trà từ Trung Hoa về Âu Châu. Vua Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những người uống trà xanh. Nữ hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns IV Bồ Ðồ Nha (Portugal) cùng đoàn tùy tùng đến Anh Quốc làm lễ thành hôn năm 1665, dâng lễ vật quà cưới đến vua Charle II (1660-1685) trong đó có nửa kilô trà. Chứng tỏ trà lúc đó rất quý đối với giới quý tộc Âu Châu.
Các quốc gia Ấn Ðộ, Tích Lan bị Anh quốc chiếm làm thuộc địa, các thương gia Anh độc quyền nhập trà năm 1657 về các cảng Cornwall, Dorset, Kent chở về cho 2000 đại lý ở London bán trà đen tại Âu Châu. Trà nhập Âu Châu bằng đường thủy, trong thời gian nầy những đoàn lữ hành, vượt sa mạc dùng lạc đà chuyên chở trà từ Trung Hoa, Ấn Ðộ đến bán cho Nga sô. Nhưng đến cuối thế kỷ 19 trà xanh tràng ngập thị trường Âu Châu, nhờ phương tiện lưu thông tiến bộ, thời gian chuyên chở làm cho trà xanh không mất phẩm chất..
Trà đến Mỹ Châu
Năm 1650 thương thuyền Hòa Lan nhập trà vào New York, thời ấy gọi là Amsterdam mới (new Amsterdam) và trên đường Chatham có nguồn nước ngọt, vào buổi sáng người đàn ông rung chiếc chuông nhỏ rao bán nước „come and get your tea-water!“. Năm 1773 ở Boston vì tranh cãi về thuế trà, bị phản đối  một phần trà nhập cảng bị ném xuống biển… Các Tổng thống Hoa kỳ: Lincoln, Roosevelt, Hoover, Kennedy đều uống trà.
Nhà nhập cảng trà ông Sullivan tại New York, có sáng kiến bỏ trà vào túi nhỏ bằng lụa cho mỗi tách trà, quảng cáo gởi khách hàng uống thử. Từ sáng kiến đó ngày nay người ta biến chế trà trong túi nhỏ bằng giấy. Người Mỹ có thói quen uống trà xanh nhập cảng từ Trung Hoa. Năm 1904 người Anh Richard Blechynden đến St. Louis trong hội chợ triển lãm về trà. Ông ta quảng cáo trà đen Ấn Ðộ vì thời tiết nóng, uống trà nóng ra mồ hôi khó chịu, ông bỏ nước đá vào ly trà, uống mùi vị thơm ngon và mát, từ đó mở đầu cho giai đoạn mới, uống trà với nước đá  „ice tea“.
Trước đây trong các siêu thị Mỹ thì nguời ta thấy hầu như chỉ có trà Lipton được bày bán dưới dạng  trà bao cho vào tách uống nóng, dạng bột đế quấy cho tan trong nước rồi cho nước đá vào uống lạnh. Nhưng đến nay thì có khá nhiều công ty có sản phẩm cạnh tranh như công ty sản xuất trà và các loại trà dược thảo có tên là Celestial Seasonings, chế biến trà xanh của Trung Hoa.
Càng ngày các loại trà dược thảo hiệu Celestial Seasonings càng nổi tiếng trên khắp thế giới. Trong số hàng trăm sản phẩm của hãng, loại bán chạy nhất là sản phẩm có tên là Sleepy Time. Uống buổi tối có nhãn hiệu con gấu trong giấc ngủ mùa đông . Hộp đựng loại trà có tên là „Morning Thunder“ là „sấm chớp bình minh“ uống buổi sáng in hình con bò mộng đang lao nhanh tới.  Phân loại trà với tên „Mandarin Orange Spice“/Trà hương liệu cam dành cho nhà giàu đựng trong hộp in hình một cô gái Tàu.
Trên khắp thế giới trà được tiêu thụ nhiều vào hàng thứ nhì chỉ sau nước lã. Nhưng tại Hoa Kỳ trà vẫn đứng sau cà phê. Tuy nhiên với con số người uống trà tại nước Mỹ ngày càng gia tăng. Công ty Celestial Seasonings mua nguyên liệu thẳng từ các nông gia tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác trên thế giới, kể cả Trung Quốc, Ai Cập, Mexico, Argentina, Chi Lê, Guatemala, Ðông Âu, Ma Rốc, Indonesia và Việt Nam.
Công ty Celestial Seasonings đứng hàng nhì trong thị trường Mỹ chỉ sau công ty Lipton, và hiện nay tại Hoa Kỳ còn rất nhiều công ty khác đã và đang tính tiến vào thị trường, chẳng hạn như 1 công ty tại Hawaii chuyên về trà Mamaki, đang muốn mở rộng tầm hoạt động ra ngoài phạm vi tiểu bang. Trà Mamaki, 1 loại cây cỏ của địa phương Hawaii, được đem bán tại tiểu bang Washington. Riêng về công ty Celestial Seasonings tuy sinh sau đẻ muộn hơn không biết bao nhiêu hãng trà sen, trà sói, trà hoa lài… của Việt Nam.

Sản xuất trà  qua các giai đọan căn bản, hái để lá héo, hấp nước hay sấy qua, đập hay chà phơi khô sàng lọc. Trà đen hay trà xanh cũng đều biến chế từ các loại trà cây có tên khoa học : Camillia SinensisCamillia Assamica Ngày nay các hãng trà trên thế giới hàng trăm loại khác nhau như Assam Mallty Fbop; Rooibos Vnilla; Roobos; chai; China Ti kuan Yin Monkey picked,.Pu-Erh tea普洱茶, Blendel tea;  Earl grey tea; Lipton……
Bạch trà 白茶 White Tea (vùng Pai Hao, Pai Mu Tan, Fujian) giống trà Flaum lá mịm màng hái nụ trà hấp, phơi khô, biến chế sấy nhiệt độ khác nhau, 1 kilo trà khô cần 30.000 nụ trà tươi. Bạch trà chứa nhiều antioxidant chống ung thư
Trà xanh 綠茶 (green tea) người Trung Hoa bỏ lá trà xanh Lục Trà (luchà) vào chảo gang nóng, rang sơ qua sau đó trộn bằng tay. Ngược lại người Nhật bỏ lá trà vào hấp nhanh khoảng một vài phút, hai phương pháp trên đều có mục đích khử các kháng độc tố, giữ cho trà có màu xanh, mùi thơm ngon, các vùng sản xuất trà xanh như Sencha, Chen Mee…
Trà đen (black tea) Người Trung Hoa biến chế trà đen cũng như Hồng Trà 紅茶 (hongchà) ủ lá trà lên men. Sấy ướp các hương vị như hoa lài.. có mùi thơm. Người Nhật hấp nước, ủ lá trà lên men, ướp… trước khi phơi khô, lá được cán hay chà nhỏ. Đóng hợp, hay gói loại giấy có thể giữ mùi thơm. Trong tiến trình ủ trà lên men tạo phản ứng hóa học khử được độc tố không mất lượng Coffein trong lá, giữ được mùi hương nhưng trà có màu đen nổi tiếng như ở Darjeeling, Ceylon ..
Trà  Ô Long烏龍茶 (Oolong) được sao chế dung hòa giữa trà đen và trà xanh lá ủ lên men màu đen, nhưng nước trà màu hơi ngà ngà trà Oolong vùng Tung Ding rất ngon
Yogi Tea : biến chế với các loại rể, vỏ, lá cây như quế (Zimt), gừng (Ingwe),  lá tiêu (Pfeffer), nụ đinh hương( Nelken), đậu khấu.(Kardamon) chỉ uống vào buổi sáng làm cho người khoẻ
Fencheltee: là lọai trà dành cho Baby ở Đức, ngoài ra còn có thêm các loại trà biến chế thông dụng như Johanniskraut; Grüne Hafertee; Kamillentee; Rotbrusch Tee; Pfefferminze, Holundertee; Lindenblütentee….
Trà tươi, người bình dân Việt Nam thích uống trà tươi, trà nạn, lá trà già các loại lá cây vối, ổi…
Các quốc gia Âu Châu không thể trồng các giống trà từ Á Châu, nhập cảng trà và pha chế, họ nghiên cứu phát triển chế biến từ: hoa quả, lá thảo mộc có dược tính sao chế thành trà uống để trị bệnh. Tại Việt Nam cũng biến chế nhiều loại trà như: khổ qua, trà sâm, Hà thủ ô..vv. Trà có mùi vị thơm ngon, do bí quyết của người biến chế, có thêm các mùi hương như các loại trà ướp: hoa lài, sen, cam, bưởi, quế vv..(không được dùng mùi hương hoá học để ướp trà), theo nguyên tắc „Prime quality Tea for you to enjoy“

Hái trà vào buổi sáng, không khí ban mai tinh khiết  hương của sương còn đọng trên cành lá, thì hương vị của trà thêm ngào ngạt bởi vì khí âm và khí dương hòa nhau thành sương là tinh anh của trời đất. Hái trà theo từng mùa khí hậu thay đổi trà có mùi vị phẩm chất khác nhau. „Flowery Orange Pekoe“ là loại nhất tuyệt hảo nụ trà vừa nở „Orange Pekoe“ loại nhì ra lá non, „Pekoe“ loại ba lá trà thứ 3.

Mùa xuân (first flush) loại trà nhất, Mùa hạ (secondflush) loại trà thứ nhì hái từ tháng 5 đến tháng 6. Mùa thu t tháng 8 đến tháng10 (Bread and Butter-tea-Regentee). Tuy nhiên tùy theo phong thổ, vùng nhiệt đới ở Himalaya hay các vùng đồi núi ở Trung Hoa độ cao có sương mù, không khí ẩm, trời mưa nhưng đất khô ráo không làm ướt gốc trà là yếu tố đặc biệt để trồng các giống trà.
Sự tích được nhắc đến tại Trung Hoa vùng núi cao, người ta nuôi đàn khỉ được huấn luyện mỗi sáng sớm, đàn khỉ trèo lên các cây trà trên núi cao, còn sương mai hái ngọn trà non, đem về cho chủ biến chế thành trà thơn ngon và đắt tiền bán tại các tiệm trà có tên Hầu Trà “trà khỉ/ monkey tea”. Theo truyền thuyết thời xưa người ta chọn các trinh nữ, trong những ngày tinh khiết hái trà mang trước ngực có hơi ấm, nên gọi các trà  ấy là “trà Hoa nữ” hay Xử  Nữ Trà. Theo truyền thuyết trong buổi tiệc người đầu bếp sắp sửa pha trà, thì khám phá ra tất cả trà lá quý hái trong chốn thâm sơn, đã bị con ngựa sút chuồng ăn sạch. Để có trà, người đầu bếp liền giết ngựa mổ bao tử lấy lại trà, pha cho Thái Hậu và các quan khách. Trà có hương vị đặc biệt thơm ngon, Từ Hy Thái Hậu Tz’e Hsi/ 慈禧 (1835-1908), khen ngợi và hỏi cách chế biến trà nên từ đó có tên Trảm Mã Trà, câu truyện kể trên cho thấy các hóa chất trong dịch vị của thú vật có khả năng thăng hoa hương vị của trà
Nghệ thuật uống trà

Trên thế giới trà có thể uống hàng ngày, người Anh có câu tục ngữ “any time is tea time”. Năm 1840 nữ công tước Bedford tổ chức uống trà buổi chiều “Afternoontea”, lúc16 giờ uống trà của Ceylon hay Lap-Souchong ngày nay còn lại phong tục đó. Người Anh và các quốc gia thuộc điạ của Anh quốc thường có thói quen uống trà với sửa hay đường. Ông Cecil Rhodes viết tại cung điện Semore Place. Buổi sáng người phục vụ thường hỏi “Ông muốn uống trà Tàu, Ấn Ðộ hay Ceylon”. Nếu trả lời dùng trà Ấn thì có câu hỏi kế tiếp “với chanh, sửa hay bơ “ ở Anh Quốc cũng thường nói “you enjoy tea and take it easy “.
Người Nhật đã uống trà thưởng ngoạn  như một truyền thống, là nghệ thuật cao quý gọi là “trà đạo”. uống trà với chén, bình trà bằng sứ, gáo múc nước phải bằng tre (Chashaku) phong cảnh uống trà phải thiên nhiên trầm mặc với bốn chữ: Hòa (Wa), Kính (Kei), Thanh (Sei), Tịch (Jaku). Trà xanh ”O-cha” loại Bancha cần nước nóng đun sôi khoảng 80 độ C, trà Secha/Gyohuro dùng nước sôi khỏang 60 độ. Ngoài ra còn biến chế các loại trà xanh thành trà bột (Matcha) và các loại trà uống để chửa bệnh. Tại Kyoto có nhiều vườn trà vang bóng của thời đại Momayama (1568-1600) và các nơi trà đạo hấp dẫn, nhưng uống trà theo truyền thống quỳ gối (seiza) ngồi trên hai bắp chân! Nhật biến chế trà đen “Kô-cha”. tuỳ theo mỗi nhà sản xuất, phẩm chất khác nhau nên giá tiền chênh lệch

Du khách đến Tích Lan, thường mỗi sáng theo phong tục nữ phục vụ xuất thân người từ miền Nam đảo Tích Lan, mặc y phục trắng mang trà đến mời “ your morning tea Sahib“. Người Nga không những uống rượu Wodka, họ cũng biết thưởng lãm nghệ thuật uống trà. Năm 1638 Hoàng gia Mông Cổ tặng Nga 200 gói trà thơm ngon.  Họ dùng nồi nấu trà (Samowar) đốt bằng than (hay điện). Phần thân bình chứa nước, trên nắp để bình trà nhỏ, bỏ trà chế nước sôi, độ sôi của nồi nước bốc hơi làm nóng bình trà. Khi uống pha trà ở bình trên với một phần nước sôi. Loại bình Samowar người Thổ Nhỉ Kỳ cũng dùng để nấu trà đen. Du khách đến Thổ vào các siêu thi, hay cây xăng đều được mời ly trà nhỏ bên cạnh cục đường và cái muổng nhỏ
Các loại bình trà bằng sứ được làm qua nhiều thời kỳ khác nhau. Hơn 2000 năm trước Thiên Chúa, tại Trung Hoa có loại sứ Yih-Sing làm bằng đất sét vàng. Mãi cho đến triều đại nhà Tống/Song (960-1279) nghệ thuật thủ công nghệ làm những bình sứ màu trắng, chén, diã trà tinh xảo hơn.
Bình trà chinese Yinxing đời Minh (1368-1644)
Các quốc gia Nhật và Ðại Hàn, cũng làm các loại chén bình bằng sứ trong thời gian trên với người Trung Hoa.(các loại bình, chén, diã sứ nầy còn lại trong các bảo tàng viện). Tại Ðức năm (1730-1750) các vùng Bayreuth và Ansbach có các lò biến chế chén, tách trà bằng thuỷ tinh, bạc hoặc sứ. (Munich có lò đồ sứ nhưng chỉ làm ly uống Beer lớn có tay cầm)
Trà với thi nhân mặc khách
Ông De Quincey bảo “trà luôn luôn là ẩm phẩm của hạng trí thức” Người Trung Hoa quan niệm “trà là bạn của ẩn sĩ thanh cao”. Người Việt Nam cũng có nghệ thuật uống trà như người Trung Hoa. Giới trưởng giả dùng bộ trà trên khay hình chữ nhật hay hình vuông có chân quì, khắc khảm ốc xa cừ. Chén Quân, chén Tống, bình pha trà cổ các loại độc ẩm, song ẩm và ẩm quần, của các nhà  sản xuất: Thế Ðức, Lưu Bội, Mạnh Thần.
Pha trà phải chọn nước, để trà tăng thêm hương vị, nước suối thì tuyệt vời, nước giếng lấy từ mạch nước thiên nhiên, bếp lửa phải bằng than nhẹ lửa, nước sôi sủi mắt cua, (khoảng 80 độ), tráng bình trà qua một lần nước nóng, đổ ra trước khi bỏ trà vào châm nước, (phải đổ ngay lần nước đầu tiên gọi là rửa trà). Nước máy có nhiều vôi cần phải lọc qua để nấu trà không mất muì vị thơm ngon. Cách pha trà của người Việt và người Trung Hoa, không biến thành qui tắc nghiêm túc như ở Nhật.
Uống rượu cần nhiều người cho náo nhiệt. Uống trà là nghệ thuật trong trầm lặng, trà có tính cách đưa người uống vào thế giới mặc tưởng, bởi thế nên uống trà lúc tinh thần sảng khoái, cảnh vật yên tĩnh, cần người văn nhã biết cái thú uống trà, bỏ mọi bận rộn đời sống bon chen, uống từng chén nhỏ, gọi là “ẩm sỉ”. Nếu người uống chén to, uống một hơi làm sao biết hương vị của trà nên bị gọi là “ngưu ẩm”. Uống trà cũng như pha trà đều cần một nghệ thuật cao. Người Tây phương họ sành điệu về uống rượu, beer, cafe. Ngày nay họ cũng nghiên cứu nghệ thuật uống trà.
Thời vua chúa mỗi buổi sáng các cung nữ thường lấy nước sương còn đọng lại trên lá sen về cung pha trà. Hoặc bơi xuồng trên các hồ sen (ở Huế nhiều hồ sen) bỏ trà vào các búp sen sắp nở lượng trà hảo hạng, trà hấp thụ mùi thơm của sen dưới sương đêm. Sáng hôm sau vạch cánh hoa lấy trà bỏ vào hủ đậy kín không mất mùi hương đó là loại trà sen tuyệt hảo nhất.
Tô Ðông Pha (1037-1101) ví trà với mỹ nhân, nhưng Ðiền Nghệ Hằng lại quan niệm “uống trà để quên cái huyên náo phồn hoa, trà không phải để cho hạng ăn cao lương bận lượt là thưởng thức”.
Lê Quý Ðôn (1726-1784) quan niệm về nghệ thuật uống trà
Một chén lòng sạch bong, hai chén lòng phơi phới, đến chén thứ bảy thì dưới hai cánh tay như có cánh thổi lên làn gió mơ màng.
Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sổ trảm trà
Mỗi nhật cứ như thữ
Lương y bất đáo gia
dịch là
Nửa khuya ba chén rượu
Tinh sương vài chén trà
Ngày nào đều như vậy
Lương y chẳng lại nhà

Các cụ với kinh nghiệm sống dùng trà để trị bị bệnh. Ngày nay Trung tâm nghiên cứu về bệnh ung thư “Deutsche Krebsforshungszentrum in Heilberg” cũng như Ðại Học Kasas “University of Kasas city” phân tích trà xanh có các chất “Epigallocatechin -3- Gallat viết tắc là EGCG chứa nhiều Vitamin E và C, ngăn được sự viêm cứng mạch máu, giảm lượng mở trong máu vv.. Bác sĩ Jin-Rong Zhou, Đại học Harvard, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, ý tưởng này xuất phát từ thực tế là ở Trung Quốc, tỷ lệ người bị ung thư tuyến tiền liệt rất thấp, trà và đậu nành, vốn được coi là có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Nối tiếp theo cuộc nghiên cứu trước đây cho thấy trà xanh giúp ngăn chận bệnh ung thư tử cung, các nhà nghiên cứu thuộc đại học Kỹ thuật Curtin ở Perth đã khảo sát 254 phụ nữ người Hoa đang mắc bệnh nầy. Cuộc nghiên cứu do Giáo sư Andy Lee, Giáo sư Colin Binns và Tiến sĩ Min Zhang thuộc khoa Y tế của đại học này thực hiện, đề nghị là nên uống ít nhất mỗi ngày một tách trà như là dược liệu tốt để ngăn chận các tế bào ung thư. Đại học Wisconsin, Madison (Mỹ), cho biết trà xanh có chứa hóa chất polyphenol có thể ngăn chặn sự di căn của tế bào ung thư tiền liệt tuyến.
Thử nghiệm được tiến hành trên những con chuột biến đổi gene mang bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Tất cả đều được cho ăn có protein, carbohydrate, vitamin và muối khoáng, kèm uống trà (tương đương 6-8 ly/ngày ở người). Một số con được ăn đậu nành hằng ngày (tương đương 250 mg đối với người). Kết quả cho thấy, nếu dùng riêng rẽ, đậu nành và trà làm giảm tốc độ phát triển của khối u và giảm kích thước của nó khi lớn lên. Nếu dùng kết hợp, các thực phẩm này  sự phát triển của khối u và ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh tới các hạch bạch huyết lân cận, đi đến kết luận: Trà và đậu nành đều có tác dụng ngăn ung thư. Đại học Y Khoa Wisconsin cho biết kết quả trà xanh chửa được bệnh Prostata.
Uống trà để tiêu khiển, hưởng nhàn thường nhật, và dùng trong việc ngoại giao, tế lễ, cúng tổ tiên, cúng Phật. Tập tục uống trà đã ăn sâu vào sinh hoạt, các văn nhân mặc khách thời xưa đã ca tụng thú uống trà. Viên Chiêu thiền sư đời Lý Nhân Tông
Tặng quân thiên lý viễn
Tiễn bả nhầt bình trà
dịch
Tiễn chân ai bước đường xa
Miệng cười đưa một bình trà tặng nhau
Tiễn anh vạn dặm đàng xa
Ta xin rót một bình trà tặng anh

Các làng quê miền Trung Việt Nam cũng trồng trà, hái trà non hai lá, và nụ trà để biến chế dành cho ngày tết. Các khu vườn ngoài diện tích sử dụng sinh hoạt, còn lại trồng cau, trái cây cam quít, và những cây trà cao ngang tầm người. Người miền Trung thường gọi cây trà là cây chè, lá dày lớn màu xanh đậm và láng, trổ bông màu trắng 5 cánh, đường kính khoảng 10 cm, nhụy vàng thơm nhẹ. Dọc theo các đường làng, thị trấn miền Trung thường có quán bán nước chè xanh, trong căn lều tranh nhỏ, cái nồi đất nấu trà tươi bốc mùì thơm ngon, trưa hè hay chiều thu, ghé quán uống bát chè xanh múc bằng chiếc gáo ừa, trà xanh sóng sánh như nắng vàng với thoáng hương thơm. Nâng chiếc bát bằng sứ uống từng hớp nhỏ, trà sẽ làm dịu cơn khát và có cảm giác thú vị ngọt ngào. Trà là hình ảnh quen thuộc như cây đa đầu làng, con đò bến sông, trà không thể thiếu trong sinh hoạt, dù đời sống văn minh có những quán giải khát bán cola, nước ngọt với nước đá. Nhưng không thể quên được quán chè xanh bên đường. Trà trở thành nếp sống văn hóa, đã đi vào lòng dân tộc. Các cụ uống trà và ngâm mấy câu thơ :
Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà Liên tử ngâm nôm Thúy Kiều
Bài thơ gọi trà của nhà cách mạng Phan Bội Châu (1867-1940) chủ tịch danh dự của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, buồn cho vận nước. Ðể thức tỉnh hồn thiêng sông núi, trong thời kỳ chống thực dân Pháp dày xéo quê  hương:
Trà ơi! Còn nước là vinh hạnh
Cháy lưỡi khô môi thảm những ai!
Ðại văn hào Nguyễn Du (1765-1820) thưởng thức trà với tâm sự
Khi hương sớm lúc trà trưa
Bàn lan điểm nước đường tơ họa đàn
Thi nhân Bạch Cư Dị uống trà để cảm thương cho số phận người kỹ nữ,
Khách trọng lợi, kinh đường ly cách
buôn trà sớm tếch ngàn khơi
Thuyền không đậu bến mặc ai
quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng
Phan Huy Thực dịch
Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh
Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau
Hoàng Trung Thông
Dừng chân bên quán nước, người lính trẻ Quang Dũng uống bát trà xanh nóng làm vơi cơn khát, diụ bớt nhọc nhằn. Tiếp tục hành trang lên đường, nhưng lại vướng đọng bóng giai nhân
Tiền nước trả em rồi nắng gắt
Ðường xa choáng váng núi và mây
Hồn lính vấn vương vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay
Quang Dũng
Nguyên Sa nói về định mệnh, những oan nghiệt cuộc đời tục lụy. Chiều chiều bên bình trà nhỏ, uống để nhớ lại cố hương, nhưng thời gian đi mãi có đợi ai bao giờ!
Chất xám trong não bộ lên men
Trán nhăn dăm bảy, nếp kinh thiên
Thượng Ðế trên cao, chiều độc ẩm
Mạt lộ, ta ngồi chỗ hạ phiên
Nguyễn Khuyến (1835-1909) cuộc đời nhàn hạ vui với gió trăng
Khi vườn sau khi sân trước
Khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm ba chén
Khi Kiều lẫy một đôi câu
Nguyễn Khuyến
Xuân về nâng tách trà nhớ lại xuân xưa, bên quê nhà với nhiều kỷ niệm, dĩ vãng mãi mãi còn ngân vang trong lòng người viễn xứ, uống trà đàm đạo để sống lại với hồn quê hương sông núi .
Tài liệu tham khảo
Gruener Tee tác giả Jean Puetz & Monika Kirschner
Das hobby thek buch
Geheimmis Japan tác giả (Shuichi Kato)
Sir Lanka  tác giả   (Polylott)
The importance of living (Lin Yutang) Lâm Ngữ Đường
Zen in der kunst des Tee – Weg   tác giả Horst Hammìtzsch

Tác giả: Nguyễn Quý Đại

Túy-Phượng sưu tầm

Các Biểu Tượng Tình Yêu

Thần Cupid ( Thần Ái tình )


Cupid là tên gọi của một vị thánh La Mã, là biểu tượng của lòng say đắm và nồng nhiệt. Cupid là con trai của Thần Vệ nữ, nữ thần sắc đẹp và tình ái. Nhiều nơi, người ta còn dùng hình ảnh thần Eros (con trai của thần Aphrodite) để biểu tượng cho tình yêu. Truyền thuyết kể rằng, Cupid đem lòng yêu và cưới nàng Psyche, một biểu tượng của sắc đẹp và sự đoan chính. Thế nhưng sự ghen tuông của tình yêu khiến nàng đem lòng nghi ngờ người chống mẫu mực của mình. Cupid đã trừng phạt người vợ bằng cách buộc nàng làm nhiều công việc cực khổ. Trong khi làm việc, vì lén nhìn vào chiếc hộp “sắc đẹp” nàng bỗng biến thành nàng tiên ngủ! Với tài nǎng và tình yêu vợ vô bờ bến, Cupid đã “nhốt” được nàng tiên
ngủ và đưa người vợ yêu trở về với chàng. Kể từ đó, Cupid được xem là biểu tượng của một tình yêu mãnh liệt.

Cupid được biết đến dưới hình dạng một đứa trẻ tinh quái và có cánh, người sẽ dùng mũi tên tình ái xuyên thủng trái tim của các “nạn nhân” của mình buộc họ phải yêu nhau đắm đuối. Và trong điêu khắc hay kiến trúc và cả hội hoạ nữa, Cupid đôi khi được khắc hoạ là cậu bé mù với hai cánh trên vai. Đại thì hào Shakespeare có nói một câu nổi tiếng về vị thần này: Ái tình không nhìn bằng mắt mà bằng tâm hồn. Vì vậy, nhân loại khắc họa Thần Tình ái có hai cánh nhưng con mắt mù lòa“.

Hoa hồng đỏ


Hoa hồng đỏ được xem là hoa thánh dành riêng cho thần Vệ nữ, nữ thần tình yêu. Màu đỏ tượng trưng cho một tình yêu mãnh liệt.

Truyền thuyết kể rằng : Nữ thần tình yêu Aphrodite được sinh ra cùng với một đóa hoa hồng màu trắng. Vì nữ thần đã lừa dối chồng mình  ngoại tình với Adonis nên chồng của nữ thần đã giết tình địch của mình. Đau khổ trước cái chết của người tình, nữ thần đã vô tình để gai của hoa đâm vào tay. Máu của Người đã làm hoa hồng trắng trở thành hoa hồng đỏ. Từ đó, hoa hồng đỏ  là biểu tượng của Tình yêu. Và ngày nay, hoa hồng đỏ vẫn được người đời hiểu rằng đó là thông điệp “Anh yêu em” (Em yêu anh).

Trái tim

Từ xa xưa, người ta vẫn tin rằng trái tim là trung tâm của mọi xúc cảm. Vì vậy, trao cho ai trái tim mình đồng nghĩa với sự hiến dâng một tình yêu trọn vẹn. Trải qua thời gian, đến nay, trái tim vẫn là biểu tượng của một tình yêu vĩnh hằng. Hình ảnh một mũi tên đâm xuyên qua trái tim đó giờ đây cũng là một biểu tượng tình yêu “bất hủ”. Khi trao cho ai biểu tượng này, bạn đã khiến họ hiểu rằng phải học cách chập nhận những… tổn thương, đau đớn do tình yêu gây ra. Và hình ảnh mũi tên đâm xuyên thấu qua trái tim thể hiện sự hi sinh, những điểm yếu trong mối qua hệ tình cảm đôi lứa.

Lại cũng có quan niệm cho rằng, biểu tượng này ko phải là để “dọa nạt” những người đang yêu mà là để thể hiện sự hợp nhất giữa người đàn ông và người đàn bà. Và bất luận thế nào thì người ta đang ngày càng ưa chuộng sử dụng biểu tượng này hơn cho ngày lễ tình nhân.

Những nút thắt

3

Những nút thắt tình yêu bao giờ cũng tượng trưng cho sự bền chặt. Tất nhiên, sự gắn bó, khăng khít, bền chặt ấy bao giờ cũng bắt đầu từ những khúc lượn quanh co rồi mới đến phần cuốn, bện vào nhau qua những móc nối nhiều khi chẳng rõ điểm khởi đầu, kết thúc, cũng tựa như những thăng trầm trong đời người.

Tặng nhau những nút thắt, nghĩa là bạn đã trao cho đối tượng cuộc sống của chính bạn với những biến động và những ràng buộc sâu sắc. Có những quan điểm cho rằng khởi nguồn của những nút thắt tình yêu đó là từ đất nước Ả Rập thủa xa xưa với những tập tục, lề thói rào cản của tình yêu đôi lứa.

Đôi chim bồ câu

Chim bồ câu trở thành biểu tượng tình yêu kể từ thời Trung cổ, bởi thời đó, người ta tin rằng loài chim này chỉ giao phối vào ngày thứ mười bốn của tháng hai (trùng vào ngày lễ thánh Valentine). Một minh chứng tình yêu khác ở chim bồ câu là chúng luôn xuất hiện từng đôi một và thường chung sống với người bạn đời của mình suốt cả cuộc đời.

Quả táo

Quả táo là trái cấm mà khi ở trong vườn Địa Đàng, Adam và Eva đã được “khuyến cáo” không nên ăn. Thế nhưng sau khi nếm quả táo kia, tình cảm trai gái giữa họ bắt đầu trỗi dậy. Kết quả là họ bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng.

Quả trứng

Người Ai Cập cổ và người Hồi giáo cho rằng trứng là biểu hiện của sự sinh sản dồi dào, cho sự tái sinh của mọi loài vật. Vì thế nó tượng trưng cho đôi vợ chồng mắn con hơn là cho tình yêu đôi lứa.

Đôi môi

Là dấu hiệu của tình yêu thể xác. Ở người đàn bà, đôi môi được xem là gợi tình khi đỏ mọng, dầy và hơi hé mở. Trong khi ở đàn ông, môi phải hơi mỏng và mím.

Nhẫn cưới

Cô dâu nhận nhẫn cưới từ chú rể, đó là một phong tục cổ xưa, xuất xứ từ thành Rome cổ đại. Chiếc nhẫn như lời hứa với tất cả mọi người về cuộc sống đôi lứa vĩnh cửu. Thời kỳ đầu, nhẫn chỉ được làm bằng loại thép đơn giản, sau này người ta mới dùng vàng. Đến thế kỷ 15, kim cương bắt đầu xuất hiện và phổ biến đến nay. Người công giáo rất trân trọng nghi thức trao nhẫn, nó trở thành một khoảnh khắc thiêng liêng trong ngày hôn lễ.

Mặt trăng

Sự bình an sẽ có mỗi khi ta nghĩ đến hoặc ngắm trăng. Trai gái hay lấy hành tinh này để làm chứng cho tình yêu chân thành.

Con rồng

Theo người Trung Hoa, rồng là hình ảnh của sự phồn vinh, thịnh vượng. Còn trong tình yêu, nó lại là biểu hiện của sự đam mê mạnh mẽ không gì lay chuyển nổi.

Găng tay

Cách đây nhiều năm, khi một người đàn ông ngỏ lời cầu hôn với một phụ nữ, anh ta thường yêu cầu được hôn tay người đó. Bàn tay trở thành một biểu tượng của tình yêu và hôn nhân. Những chiếc tất tay cũng nhanh chóng trở thành biểu tượng của tình yêu.

Nơ tình yêu

Dải nơ gồm một loạt các nút thắt và đường cong bằng vải không có đầu mà cũng không có cuối. Đó là biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu. Người ta tạo ra những dải nơ từ những dải ruy băng hay vẽ chúng lên trên giấy.

Chim uyên ương

Chim uyên ương thường là những chú vẹt sặc sỡ thường thấy ở châu Phi. Chúng được gọi là chim uyên ương bởi thường đứng sánh đôi bên nhau.

Ðăng ten

Ðăng ten là một loại vải rất đẹp được tạo ra bằng cách đan những sợi chỉ mảnh với nhau. Cách đây hàng trăm năm, phụ nữ mang những chiếc khăn choàng bằng đăng ten. Nếu một người phụ nữ đánh rơi chiếc khăn choàng của mình, người đàn ông đứng gần đó sẽ nhặt nó lên và đưa lại nó cho cô. Ðôi khi người phụ nữ gặp được người đàn ông của cô. Cô có thể giả vờ đánh rơi chiếc khăn choàng để làm một cuộc hẹn hò lãng mạn. Thế rồi chẳng mấy chốc người ta nghĩ đến sự lãng mạn khi họ nghĩ đến đăng ten. Họ bắt đầu sử dụng những loại đăng ten bằng giấy để trang trí cho các hộp Sôcôla và bưu thiếp Valentine

Nếu nhận được từ người yêu một quả táo, một đôi bao tay hay bông hoa hồng… bạn đừng cho đó chỉ là những món quà bình thường, không ý nghĩa gì. Thật ra, mỗi món quà đều mang một thông điệp riêng. Sẽ rất lý thú nếu bạn hiểu được điều này.

.

Ban Mai

(Sưu tầm)

Ba que xỏ lá

Bạn có biết thằng ba que xỏ lá là ai không ? Không biết… thằng phải gió, thằng mắc dịch này à ? Nếu vậy thì mời bạn cùng đi… đào mả, bới gia phả nhà nó, xem nó là con cái nhà ai mà đốn mạt thế !

Ngược dòng thời gian, chúng ta tìm được dấu vết xa xưa của ba que trong bài Phú tổ tôm của Trần Văn Nghĩa, một người sống dưới thời Minh Mạng (1820-1840). Tác giả kể tên nhiều trò cờ bạc, trong đó có ba que :

” Lạt nước ốc trò chơi vô vị : tam cúc, đố mười, đấu lình, bẩy kiệu, thấy đâu là vẻ thanh tao ;
” Ngang càng cua lối ở bất bình : xa quay, chẵn lẻ, dồi mỏ, ba que, hết thẩy những tuồng thô suất.
(Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Phú Việt Nam cổ và kim, Văn Hóa, 1960, tr. 215).
Thời Tự Đức, Trần Tấn (tức Cố Bang) nổi lên chống Pháp. Ông bị ốm và chết năm 1874. Có người làm bài Vè Cố Bang đánh Tây :

(…)
Lính Tây, triều mang súng,
Kèn thổi ” toét tò loe “,
Dưới cơn (cây) cờ ba que,
Quan Hồ Oai cưỡi ngựa (…)
(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỉ 19, Văn Học, 1970, tr. 406).
Ít lâu sau xỏ lá mới xuất hiện. Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) đưa ra một trò chơi :

Xỏ lá là cuộc chơi gian lận, cuộc gạt gẫm. Một người lấy giấy, lá dài xấp lại cùng vấn tròn, đố người khác lấy chiếc đũa cắm vào giữa khoanh tròn, như chiếc đũa không mắc trong cuốn giấy thì phải thua tiền (nếu mắc thì ăn tiền). Quân xỏ lá là quân điếm đàng, lận mạt.

Xỏ lá gian lận, gạt gẫm ở chỗ nào ? Trò chơi như vậy mà đã bị xem là điếm đàng, lận mạt rồi à ? Chết ! Chết ! Nếu vậy thì Đầu hồ của vua quan là… điếm đàng hạng sang hay sao ?

Tự điển Génibrel (1898) gọi thằng xỏ lá là thằng mưu mẹo, lừa dối.

Tương truyền năm 1906, Nguyễn Khuyến bị loà mắt, bị Chu Mạnh Trinh chơi xỏ, tặng cho một chậu hoa trà, thứ hoa có sắc nhưng không có hương. Nguyễn Khuyến ” Tạ lại người cho hoa trà ” bằng bài thơ ” Sơn trà ” trong đó có câu :

Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà
(Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi dà)
Hai câu thơ ý nói : Những trận gió to làm cho đài hoa rụng, ai cũng có thể biết được ; còn những hạt mưa nhỏ làm cho lá thủng, ít ai có thể trông thấy được, nên lại nguy hiểm hơn. (Thơ văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, 1971, tr. 138 và 408).

Sở Khanh, Bạc Hạnh bị Tản Đà vạch mặt:

Bộ xỏ lá trông đà lộn ruột,
Sức thơ đào nghĩ lại non gan.
Năm 1914, Phan Kế Bính biên soạn Việt Nam phong tục. Trong chương bàn về tính tình người Việt, ông chia đàn bà và đàn ông nước ta thành các hạng người: hiền phụ, lệnh phụ, xuẩn phụ và quân tử, thường nhân, tiểu nhân. Tiểu nhân là bọn tính tình gian giảo, phản trắc, (…), ăn trộm ăn cướp, xỏ lá ba que, đàng điếm, hoang toàng v.v.

Phan Kế Bính khai sinh thành ngữ Xỏ lá ba que, mở đường cho văn học sau này.

” Trời đất ôi ! Ngờ đâu con người thế, mà xỏ lá ba que !… (Phạm Duy Tốn, Con người Sở Khanh, Nam Phong, 1919).

***

Ngày nay, thành ngữ ” Xỏ lá ba que ” hay ” Ba que xỏ lá ” thường được dùng để chỉ chung bọn vô lại chuyên đi lừa người khác để kiếm lời (Nguyễn Lân), bọn xảo trá, đểu giả (Hoàng Phê), tụi gian lận (tricheurs), bất lương (malhonnêtes) (Gustave Hue), v.v….

Nguyễn Lân đi xa hơn, giải thích chi tiết :

Ba que xỏ lá là một trò chơi ăn tiền trong đó kẻ chủ trò nắm trong tay một cái lá có xỏ một cái que, đồng thời chìa ra hai que khác. Ai rút được que xỏ lá là được cuộc, còn rút que không lá thì phải trả tiền. Nhưng kẻ chủ trò vẫn mưu mẹo khiến người chơi bao giờ cũng thua. Vì thế người ta gọi nó là thằng ba que xỏ lá, hoặc thằng ba que, hoặc thằng xỏ lá. (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Văn Hoá, 1989).

Tuy nhiên, trò chơi của Nguyễn Lân không đơn giản, không phải ai cũng hiểu được cách chơi. Nhà cái nắm trong tay một cái que xỏ vào lá, và hai cái que không. Nhà cái chìa 3 đầu que ra cho người chơi rút. Nếu chỉ có vậy thì mưu mẹo bằng cách nào ? Nhà cái có tài thánh cũng không thể vừa nắm tay vừa tráo được cái que xỏ lá trước mặt người chơi. Thế mà người chơi bao giờ cũng thua thì… ma quái thật !

Không biết Phan Kế Bính, tác giả của Xỏ lá ba que, có biết trò chơi này không ?

Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931) định nghĩa:

Ba que là một cuộc đánh tiền bằng ba cái que của bọn keo hèn bày ra đánh ở đường ở chợ. Nghĩa bóng chỉ những người dối dá điên đảo.

Xỏ lá là trò làm ra để lừa người ta mà kiếm tiền. Thường nói tắt là ” xỏ ” để trỏ người gian giảo lừa gạt, bợm bãi.

Ba queXỏ lá dối dá, lừa gạt bằng cách nào ? Không biết.

Gốc gác hai thằng ba quexỏ lá sao mà mù mờ thế. Hôm nay được ngày trời tạnh mây quang, mời bạn đi tìm cho ra hai thằng này.

Ba que

Génibrel(1898), Gustave Hue (1937) nói trống không đánh ba que hay ba ngoe jeu de baguettes (trò chơi bằng que).

Trò chơi bằng que của ta thì có đánh khăng và đánh chuyền của trẻ con. Cả hai trò chơi đều không phải là” ba que “.

Người lớn có trò chơi dùng ba cái que. Đó là trò Chạy que của hội làng. Người ta dùng ba chiếc que xếp thành hình chữ H. Người tham dự trò chơi cầm hai chiếc que đặt song song của chữ H, cùng chạy đến đích. Ai đến trước mà chiếc que nằm ngang không rơi là thắng cuộc.

Chạy que vui nhộn. Người chơi phải nhanh chân, khéo tay. Người giật giải hoàn toàn không gạt gẫm, lừa dối gì ai. Giở trò ” ba que ” ở sân đình thì trời đánh thánh vật cho chết không kịp ngáp. Chạy que chắc chắn không dính dáng gì với Ba que.

Pierre Huard, Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, 1954, tr. 248) cho biết Ba que giống Courte paille (que ngắn) của Pháp.

Courte paille là trò chơi rút thăm. Lấy một bó que có số que bằng số người chơi. Bẻ một que cho ngắn hơn các que khác. Người chủ trò trộn lẫn các que, nắm một đầu bó que, chìa đầu kia ra cho mọi người rút thăm. Ai rút trúng cái que ngắn là thắng cuộc.

Số que của Courte paille tuỳ thuộc vào số người chơi, không bắt buộc phải là ” ba que “. Dù sao thì Courte paille cũng không gian lận, không mang nghĩa xấu.

Ba quan

Năm 1884, bác sĩ Hocquard than phiền về đám bồi người Việt :

Ces boys au service des Européens sont, pour la plupart, de petits vauriens sur qui il faut avoir en tout temps l’oeil ouvert. Ils ne couchent pas à la maison, mais en ville, et leur plus grande occupation, une fois leur service fini, est de jouer aux cartes ou au bacouën.

(Hầu hết đám bồi của người Âu là bọn chẳng ra gì, cần phải cảnh giác, đề phòng chúng. Bọn chúng không ngủ ở nhà, chỉ ngủ ngoài đường. Mối bận tâm lớn nhất của chúng là chờ hết công việc để rủ nhau chơi bài, hay chơi ba quen).

Philippe Papin ghi chú rằng bacouënba quan (trois ligatures, ba quan tiền). (Une campagne au Tonkin, Arléa, 1999, tr. 55)

Ba quan (Ba quan tiền) chơi như sau :

– Ce jeu populaire consiste à renverser sur une natte, où sont tracées trois cases numérotées sur lesquelles les joueurs ont misé, un bol plein de haricots que l’on compte ensuite quatre par quatre à l’aide d’une baguette ; si, à la fin du décompte, il n’en reste plus un seul, le croupier gagne ; s’il en reste un, deux ou trois, c’est le nombre de haricots restant qui indique la case gagnante (qui rapporte trois fois la mise) (Pierre Huard, Maurice Durand, sđd).

(Ba quan là trò cờ bạc bình dân. Chiếu bạc có ba ô để các con bạc đặt tiền. Nhà cái đổ một bát đầy đậu xuống chiếu, rồi dùng một chiếc đũa đếm từng bốn hạt đậu một. Cuối cùng, nếu không còn hạt nào, thì nhà cái được. Nếu còn lại một, hai hay ba hạt thì ô số một, số hai hay số ba được. Tiền được gấp ba lần tiền đặt).

Giải thích như vậy chưa thoả đáng. Bởi vì :

1) Trò chơi không bắt buộc phải đặt một quan tiền để được ăn thành ba quan.

2) Một quan tiền ngày xưa to lắm (Một quan là sáu trăm đồng, Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi…). Mấy đứa nhỏ làm bồi cho Tây (năm 1884-1886) chắc chắn trong túi không có sẵn một (hay nhiều) quan tiền để đi đánh bạc.

3) Nhà cái đổ bát đậu xuống chiếu, rồi đếm. Như vậy thì kết quả các lần chơi sẽ giống nhau sao? Vô lí. Đúng ra thì nhà cái có một bát đậu để bên cạnh, mỗi lần chơi thì bốc ra một nắm để đếm.

Báo L’Illustration (1884) có một bài phóng sự ngắn về một sòng bạc bakouan (ba quan) tại Bắc kì. Emile Nolly gọi trò cờ bạc của đám lính tập là bacouan (ba quan) (Hiên le maboul, Calmann-Lévy, 1925).

Bộ bưu ảnh của Dieulefils (khoảng đầu thế kỉ 20) có tấm ” Trẻ con chơi bakouan ” (Do-Lam Chi Lan, Chants et jeux traditionnels de l’enfance au Viêt Nam, L’Harmattan, 2002, tr. 305). Tấm ảnh cho thấy ba quan chơi bằng mấy đồng tiền, gần giống như xóc đĩa. Trò chơi không có đậu, không dùng que để đếm. Ba quan của Dieulefils khác ba quan của Huard, Durand và Papin.

Ba quan không phải là ba quan tiền (trois ligatures). Nếu trò chơi có 3 cửa để đặt tiền thì Ba quan nên được hiểu là 3 cửa (quan nghĩa là cửa) chăng ?

Ba quan là trò cờ bạc may rủi. Nhà cái không cần gian lận, cuối cùng vẫn được vì cách chơi có lợi cho nhà cái. Ba quan không phải là ba que. Tuy nhiên :

” Chưa bao giờ ở nước ta, chế độ học tập và khảo thí lại đẻ ra nhiều bọn người vô tài vô hạnh đến thế. Đã dốt nát, chúng lại hay khoe chữ, đề thơ bừa bãi trên tường các đền chùa và Phạm Thái rất khinh ghét chúng “. Lại Ngọc Cang gọi bọn này là bọn  sinh đồ ba quan (Lại Ngọc Cang, Sơ kính tân trang, Văn Hoá, 1960, tr. 37).

Ba quan là vô tài vô hạnh, dốt nát, khoe khoang. Ba quan có nghĩa xấu. Tiếc rằng các từ điển của ta không có từ này.

Bakouan của Dieulefils, hay ba quan của Huard, Durand khá cồng kềnh, lích kích (bát, đĩa, đũa, đậu). Mấy bác lính tập của Nolly không thể mang theo trong mình được. Trò cờ bạc bacouan của các bác có thể là trò ba quân.

Ba quân

Người Pháp đưa bộ bài tây (bài ít xì) vào nước ta. Một số trò cờ bạc mới bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt là trò Ba quân, có nơi gọi là Ba lá.

Ba lá là một cuộc đánh tiền, lấy ba quân bài tây đảo đi đảo lại, ai đặt tiền vào trúng quân ông lão thì được. Nghĩa bóng chỉ những đứa hèn hạ ( Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức). Ba quân hay Ba láBonneteau của Pháp.

Ba quân hoàn toàn nhờ vào tài tráo bài của nhà cái và tài lừa phỉnh của cò mồi. Ai đã sống tại Sài gòn vào những năm 60 của thế kỉ trước chắc còn nhớ lề đường Lê Lợi, thứ bảy, chủ nhật nhan nhản tụi tráo bài. Ngô Tất Tố cho biết vào khoảng 1930 tại phố Hàng Ngang ngoài Hà Nội có cả đàn bà ngồi tráo bài. Ba quân là cờ gian bạc lận của bọn đầu đường xó chợ. Ba quân hội đủ những tính xấu như gian lận, xảo trá, bất lương, đi lừa người khác để kiếm lời. Nghĩa là… ba quânba que.

Người xưa tránh không chửi thằng ba quânba quân là quân đội của triều đình (Tam quân : Trung quân, Tả quân và Hữu quân). Ba quân được nói trại thành ba que. Tương tự như tụ tam nói trại thành tổ tôm, tam kết thành tam cúc

Nói tóm lại, thằng Ba que có gốc gác là trò cờ bạc Ba quân (bonneteau) của Pháp.

Lá cờ tam tài (ba màu xanh, trắng, đỏ) của Pháp bị gọi là cờ ba que. Cờ của bọn gian lận, tráo trở. Dùng trò cờ bạc của Pháp để chửi Pháp. Chơi chữ khá tế nhị.

(Bacouën của Hocquard có phải là Ba quân không?).

Xỏ lá

Nguyễn Khuyến muốn ” Tạ lại người cho hoa trà ” bằng câu chửi phường xỏ lá. Có lẽ vì vậy mà trong bài ” Sơn trà ” ông phải gò ép cho những hạt mưa nhỏ xuyên diệp. Mưa nhỏ làm sao đâm thủng (xuyên) được lá cây (diệp) ? Xét về nghĩa thì xuyên diệp không xấu xa, đểu cáng như phường xỏ lá của tiếng Việt. Hai bài thơ của Nguyễn Khuyến không giúp chúng ta tìm hiểu được thằng xỏ lá.

Vào khoảng năm 1945, Huỳnh Thúc Kháng viết về Cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916), có đoạn :

– Thế mà trừ một số ít – rất ít – đã hấp thụ học thuyết mới, xem cái ngôi ” bù nhìn ” đó không có giá trị gì (…).

Thường xuyên xưa nay mối lợi khiến cho người ta mờ trí khôn (lợi linh trí hôn), bọn thực dân Pháp mà các tay chính trị ” xỏ lá ” tự phụ là cao xảo cũng không khỏi vấp phải chỗ lầm to, ấy là tấn kịch ” Đày vua cha Thành Thái mà lập con là vua Duy Tân lên thay “(…). (Vương Đình Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Văn Học, 1965, tr. 173).

Huỳnh Thúc Kháng dùng kí hiệu ” nháy nháy ” để nhấn mạnh hai từ bù nhìnxỏ lá. Bù nhìn là tiếng Pháp épouvantail được Việt hoá. Do đó, có thể suy đoán rằng xỏ lá có nhiều khả năng là tiếng Pháp được Việt hoá.

Từ điển RobertLarousse của Pháp gọi tụi đáng khinh (méprisable), đáng ghê tởm (répugnant) ; bất chính (déloyal), bọn bất lương, gian dối (malhonnête) là salaud (xa lô). Thằng xỏ lá của ta có đủ mọi tính xấu của thằng salaud của Pháp.

Xỏ lá vừa có nghĩa vừa có âm của salaud. Rốt cuộc, thằng salaud sang thuộc địa kiếm chác, bị Việt hoá thành thằng xỏ lá.

Thời trước, mấy ông lính tẩy, mấy bà me tây, nói tiếng tây… như gió. Thỉnh thoảng lại đem ra khoe ” mẹc (merde), xà lù (salaud), cô xoong (cochon) “. Xà lù là em ruột xỏ lá.

Hoá ra Ba que xỏ lá là hai thằng…” người Việt, gốc Pháp “.

 

Nguyễn Dư

Tết Nói Chuyện Câu Đối

Tết đến, nhà nào chẳng treo đèn, kết hoa, sửa sang bàn thờ, lo những chậu quất cành đào, cỗ bàn cho thật ưng ý. Nhưng tết lại cũng không thể thiếu câu đối xuân được.

Theo sử sách, câu đối lúc đầu là bùa bát quái được người Trung Hoa cổ xưa dùng để treo ở giữa đòn dông nhà và dán hai bên cửa để giữ yên nhà cửa, xua đuổi không cho ma quỷ đến gần. Các bùa chú này phải được đặt đúng nơi, đúng lúc và phải làm lễ cúng bái mới phát huy được tác dụng. Không chỉ dán bùa chú, người Trung Hoa cổ xưa còn vẽ hình các vị thần thánh, các nhân vật huyền thoại theo tín ngưỡng, đem dán ở cửa nhà cũng để trừ tà ma. Tương truyền, Thần Thư và Uất Luật là hai vị thần chuyên bắt những con ma hung dữ, trói chúng lại bằng cỏ lau rồi đem cho hổ ăn. Vì vậy, trong những ngày giáp tết, người ta thường vẽ hình hai vị thần này rồi dùng cọng lau treo hai bên cửa để trừ ma quỷ. Người Trung Hoa cổ xưa cũng tin rằng cây đào là linh thụ chứa tinh anh trong ngũ hành nên được gọi là cây tiên đào và có khả năng trừ ma quỷ. Do đó, vào ngày tết, người ta thường vẽ hình của Thần Thư và Uất Luật trên ván bằng gỗ đào đế trấn giữ tà ma. Sau này, gỗ đào được thay bằng giấy và các vật khác. Nội dung hình vẽ và bùa chú cũng được thay bằng các câu văn rút ra từ kinh điển hay tác phẩm văn học, hoặc những lời chúc tụng cho năm mới tốt lành và hạnh phúc. Như vậy, từ hình thức tín ngưỡng có phần mê tín ban đầu dần dần việc dán câu đối vào ngày tết đã trở thành một mỹ tục của người Á Đông.

Ngày nay, câu đối được chạm khắc hoặc viết trên gỗ rất hiếm. Trong dịp tết, câu đối thường được viết trên giấy hồng điều bằng mực tàu, chữ Hán (hoặc chữ kim nhũ vàng). Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đó dát vàng.

Làm câu đối không quy định chữ, dài ngắn đều được, có điều phải tuân theo một số quy định như đối phải chỉnh, phải đúng lối bằng, trắc và các lối đối như câu tiểu đối (bốn chữ), câu đối thơ (năm chữ hoặc bảy chữ), câu song quan, gồm hai câu đối nhau, mỗi câu là một đoạn văn liền, từ năm chữ đến chín chữ.

Câu cách cú, có hai vế, mỗi vế gồm hai đoạn đối ngắn dài tiếp nhau (Ví dụ: Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới. Đá xanh xây cổng, hòn dưới nống hòn trên). Câu gối hạc (hạc tất) mỗi vế có từ ba đoạn trở lên như chân con hạc (Ví dụ: Nào thuở trước dưới rừng cây nghe nhạc ngựa, thấp thoáng bóng dù dáng kiệu, những than dài chí cả trượng phu. Mà đến nay ngồi bệ ngọc ngắm tranh người, xôn xao đầu mũ gót hài, lại làm khoảnh ngôi sang hoàng đế)…

Câu đối lại cần có người viết chữ, chữ đẹp thì càng đắt giá.  Câu đối Tết là một thú chơi đặc biệt, thường được nhà nhà treo trước cửa, mừng xuân mới, với những mong ước an hòa, hạnh phúc của từng nhà.

Theo học giả đời Thanh Trần Vân Đạm thì: “Câu đối tết có từ thời Thái tổ nhà Minh Chu Nguyên Chương, nhà vua định đô ở Kim Lăng, đêm ba mươi Tết truyền chỉ: Các vị công khanh, học trò, dân thường, nhà nào cũng phải có câu đối tết dán ở cửa nhà. Các học giả đời sau cũng cho rằng câu đối tết trở thành phổ biến là từ đầu đời Minh.

Người dân Trung Quốc thường lại nhớ đến bài thơ nổi tiếng “Nguyên Đán” của Vương An Thạch đời Tống. Thơ có nhắc đến chuyện câu đối tết như sau:

“Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ.

Xuân phong tống noãn nhập Đô Tô.

Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật.

Tổng bả tần đào hoán cựu phù”.

nghĩa là:

“Pháo trú kêu vang hết một năm.

Rượu Đô Tô uống đón mừng xuân.

Hơi xuân nồng hậu, muôn nhà sáng.

Thẻ đào tống cựu, đón bình an”.

Thẻ đào chính là câu đối. Nhưng có nhà nghiên cứu thì cho là câu đối xuân đã có trước đó nhiều. Trương Đường Anh đời Thanh cho câu đối xuân có trước cả đời Tống. Có người lại dựa vào giai thoại của Vương Hy Chi về câu đối của ông nhân ngày tết, thì chủ trương câu đối xuân phải có từ đời Tấn.

Chuyện đó như sau: Có một năm nhà thư pháp trứ danh Vương Hy Chi chiều ba mươi tết, cho treo đôi câu đối chữ rất đẹp. Nhưng ai đến xem thưởng thức thì đều không hiểu sao ông lại chơi đôi câu đối tết thế này. Xem ra, toàn chuyện không hay. Vế một là Phúc vô song chí (Phúc không đến hai lần), vế hai là Họa bất đơn hành (Họa chằng đi một mình). Đọc rồi mọi người đều cau trán bỏ đi. Nhưng đến hôm sau, phần gỗ đào ở phía dưới mới được Vương Hy Chi viết tiếp, toàn văn như sau:

Phúc vô song chí, Kim triêu chí

Họa bất đơn hành, tạc dạ hành

Nghĩa là:

Phúc không đến cặp, sớm nay đến

Họa chẳng đi xuống, tối trước đi

Thì lại là đôi câu đối thật hay, vừa ỡm ờ lại vừa độc đáo…

Trong từ điển Trung Quốc thì chép theo sách cổ Sơn hải Kinh: “Câu đối bắt đầu từ tục làm đào phù (thẻ đào). Ngày trước, dân Trung Hoa, tết đến dân chúng thường lấy gỗ đào khắc lên hai vị thần là Trần Trà và Quách Lũy, treo ngoài cửa để đuổi tà ma gọi là đào phù (thẻ đào hoặc bùa đào).

Sau đó thay bằng giấy vẽ lên, cho đến đời Hậu Thục thì phát triển thành câu đối. Người có câu đối đầu tiên treo ở đời Hậu Thục là Mạnh Xưởng. Đó là câu: “Tân niên khai dư khánh, Giai tiết hạ trường xuân” nghĩa là “Năm mới bày tiệc lớn. Tiết đẹp mừng xuân dài”…

Ở Việt Nam, tục chơi câu đối Tết ở những thế kỷ trước cũng khá phổ biến. Câu đối cửa miệng nói điều ngày Tết, nhà nào cũng có là:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Tết xưa, câu đối gánh về bán tận làng, hoặc bày bán trong các cửa hàng ở chợ tết. Thường thì ngày tết, nhà giàu, mua thêm đôi câu đối hay trang hoàng hoặc thờ trong nhà câu đối thường làm bằng gỗ tốt, sơn then hoặc sơn son, chữ vàng, được ban sẵn, phần lớn là trên gỗ phẳng, cũng có khi hình cong ốp vào cột, nổi bật hơn. Câu đối chơi có khi khắc họa văn điểm tô ở đầu và chân từng vế, còn hình thức thì khắc theo hình qủa bầu, quả bí khá đẹp. Có đôi còn khảm trai, khá đắt tiền…

Những người hay chữ, tết đến thường dùng mực nho tốt, giấy điều, tự nghĩ ra câu đối mình ưng, hợp với cảnh nhà mình mà viết ra…

Câu đối tết xưa được lưu truyền cũng có nhiều câu khá hay như của Nguyễn Công Trứ:

*Chọc trời ngất một cây nêu, hết tối ba mươi, gì cũng hết

Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một, thế là xuân.

*Tối ba mươi, nợ hỏi tít mùa, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà…

Của Nguyễn Khuyến:

*Tết đến, rượu ngon đưa mấy chén

Xuân về, bút mới thử vài trang

*Tranh pháo vui xem đàn trẻ nhỏ

Tóc râu them một sợi tuổi trời cao.

Của Trần Tế Xương:

*Đì đẹt, ngoài xân, tràng pháo chuột

Lập loè trên vách, bức tranh gà

*Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo

Nhân tình trắng thế lại bôi vôi…

Có người lấy thơ Đường ra viết câu đối, được câu rất hay, thờ cũng được mà chơi tết cũng được:

Hiền giả quý vị đức

Thanh sơn sắc tự xuân

(Người hiền quý vì đức

Núi xanh sắc tự xuân).

Thông thường dân chúng thường mua hoặc viết đôi câu đối tết, cầu phúc lộc cả năm như sau:

Nhân tăng phú quý nhân tăng thọ

Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường

Nghĩa là: Người thêm giàu sang, người thêm thọ. Xuân đầy trời đất, phúc đầy nhà…

Ngày nay, nhiều nhà thư pháp, dân chúng vẫn còn thú chơi câu đối tết. Không những câu đối bằng chữ Hán mà còn viết bằng chữ Việt nữa khá bay bướm. Nhiều tờ báo tết, mục câu đối cũng là một nhu cầu của bạn đọc, không thể thiếu được.


Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nhà nho cho tới những người bình dân “tồn cổ” vẫn còn trọng tục treo “Câu Đối Đỏ” nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào nên thường được gọi chung là câu đối đỏ.

Chữ nghĩa ở các câu đối này thường là những chúc tụng nhân năm mới, chẳng hạn như:

Phước thâm tự hải (Hạnh phúc nhiều sâu như biển)

Lộc cao như sơn (Của cải nhiều cao như núi)

Hay:

Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ (Trời đất ngày gia tăng ngày tháng ví như con người mỗi năm tăng thêm tuổi thọ)

Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường (Mùa xuân về đầy trong Trời đất ví như hạnh phúc đầy nhà)

Câu đối cũng còn được gọi là Liễn. Liễn thường là những dải giấy màu đỏ hay hồng đào, hai đầu dải giấy có làm trục bằng gỗ hay bằng tre để khi treo lên thì dải câu đối được ngay ngắn. Cũng có khi liễn không cần có trục và chỉ là những dải giấy để tiện dán vào những nơi cần treo như ở hai bên bàn thờ, các cột nhà cửa, cổng hay ngõ…

Trước đây ở chốn thôn quê, mỗi khi Tết đến, người ta còn cẩn thận dán liễn đỏ ở cửa chuồng lợn, trâu, bò hoặc ở thân cây dừa, nhãn, ổi, na… để ngụ ý cầu mong cho mọi sự được tốt đẹp như lợn, trâu, bò hay ăn chóng lớn, sinh đẻ đầy đàn… các cây thì sai trái.

Những nhà không có đủ khả năng và phương tiện viết câu đối ăn Tết thường phải nhờ những cụ đồ nho chuyên viết và bán những câu đối Tết.

Các văn nhân nhân dịp Tết cũng thường làm câu đối để bày tỏ ý chí của mình hoặc chỉ trích những thói hư tật xấu của người đời, chẳng hạn:

Thiên hạ xám rồi còn đốt pháo
Nhân tình bạc thế, lại bôi vôi

(Trần Tế Xương)

Hay:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn
Ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa
Mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào

(Hồ Xuân Hương)

Câu đối Tết
Những câu đối hay ngày Xuân

Ngày xuân, nhâm nhi chén rượu, đọc đôi câu đối, cũng là một cái thú của người Việt Nam ta.
Xin gởi đến các bạn vài câu Đối ngày Xuân để chúng ta cùng vui xuân, thưởng thức tài trí của ông cha ta trong lĩnh vực văn hoá đậm đà màu sắc dân tộc này.

Những câu đối Tết quen thuộc :

-Ông vua hay chữ Lê Thánh Tông trong ngày cuối năm đã mặc giả thường dân, ra ngoại thành xem dân tình chuẩn bị Tết. Nhà vua ghé thăm một quán bán trầu nước, thấy gia đình neo đơn, chưa hề có không khí đón Tết, đã tự tay viết giúp bà chủ quán đôi câu đối đỏ hoàn toàn bắng tiếng mẹ đẻ treo trước cửa hàng:

Nếp giầu quen thói kình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm

Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng.

Câu đối miêu tả một quán bán trầu nước mà ta thường gặp, có đủ giầu (cau), cơi (trầu), ấm, nước, bát, hàng… nhưng lại mang khẩu khí của bậc đế vương: “Việc nước ra tay chuyên bát, Bắc Nam đâu đấy lại hàng ”.

– Câu đối Tết của “Bà chúa thơ Nôm” thì dân gian biết bao và tuy còn đôi từ Hán-Việt nhưng ai cũng hiểu được:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới

Sáng mồng một lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ ruớc xuân vào.

Nhưng quen thuộc nhất là câu đối Tết của nhà thơ đất Vị Hoàng mà người Việt Nam ta ai cũng nhớ:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Câu đối “dán chuồng lợn” hay là câu đối chỉ dùng có …hai chữ

Đây là câu đối của Nguyễn Khuyến khi ông còn là cậu học trò nhỏ. Học giỏi được thầy, bạn quý nhưng cậu lại bị anh trưởng tràng học kém hơn ganh ghét. Anh ta bày trò bắt cậu làm câu đối “dán chuồng lợn” để giễu cợt (vì có ai làm câu đối để dán chuồng lợn bao giờ!?). Cậu đã làm ngay đôi câu đối để trả đũa anh trưởng tràng, vì vậy hai vế chỉ dùng có… hai chữ “trưởng tràng”:

Trưởng trưởng, tràng tràng, tràng trưởng trưởng.

Tràng tràng, trưởng trưởng, trưởng tràng tràng.

(Nghĩa là: Lớn lớn, dài dài, dài lớn lớn Dài dài, lớn lớn, lớn dài dài).

Câu đối dán chuồng lợn là để cầu cho lợn chóng lớn, thiết tưởng không còn câu nào hay hơn thế, nhưng đã cho anh trưởng tràng một vố thật sâu cay, nhớ đời.

Câu đối cực ngắn, dí dỏm thông minh là những câu đối vui, những câu đối cực ngắn chỉ có thể tìm trong văn học dân gian.

Ngày xuân, hai ông đồ cùng ngồi nhắm rượu, đối văn. Ồng đồ thôn Đông gắp một miếng chả nhai tóp tép rồi tung ra một vế đối:

– Chả ngon

Ông đồ thôn Đoài cũng đang bí vì cái từ “chả” hai nghĩa ấy thì may quá từ gầm giường một con cóc nhảy ra, miệng cũng nhai tóp tép.

Ông liền đối ngay:

– Cóc sướng

“Cóc” đối lại “chả” thật tuyệt vì nó cũng mang hai nghĩa như vậy. Ông thôn Đông chịu là giỏi, vờ cắn phải lưỡi kêu lên:

– Ái! (vừa là tiếng kêu, lại có nghĩa là yêu). Tiếng kêu làm ông thôn Đoài giật mình, đánh rơi miếng thịt hoen bẩn hết chiếc quần sộp.

Ông đối lại ngay:

– Ố! (vừa nghĩa là hoen ố, lại có nghĩa là ghét) Thế là hoà cả làng. Người ra đã hóm, người đối cũng hay. Tài trí dân gian thật tuyệt vời.

Câu đối chơi chữ Việt với chữ nước ngoài:

Câu đối chơi chữ Việt-Pháp:

Hai chân duỗi thẳng đơ (deux= hai)
Sáu cỗ ngồi xúm xít (six= sáu)

Câu đối chơi chữ Việt- Anh:

Chó gâu gâu đi cắn trộm ăn đòn (to go= đi)

Lợn ủn ỉn ốm nằm dài chê cám (ill= ốm)

Câu đối viếng của giới Văn nghệ sĩ:

Tú Xương sinh năm 1870, sau Nguyễn Khuyến 35 năm (1835), nhưng lại ra đi trước, khi nhà thơ mới có 37 tuổi (1907). Cụ Tam nguyên Yên Đổ lúc đó đã 72 tuổi, chống gậy đến viếng người bạn thơ đất Vị Hoàng bằng câu đối:

Kìa ai chín suối Xương không nát
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn

Khi nhà thơ Quang Dũng qua đời (13/10/1988), nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng đã có đôi câu đối viếng:

Yêu sao chàng tuổi trẻ!

Cơm lên khói, súng ngửi trời, đoàn Tây Tiến đường lên thăm thẳm.

Tiếc mấy bạn thơ già!

Nắng đốt màu, mưa rụng lá, mây đầu ô gió đuổi bời bời.

Câu đối… toán học:

Câu chuyện xảy ra giữa bố vợ và chàng rể. Bố vợ là cụ đồ sống vào buổi giao thời nên hiểu cả Tây học, cụ quý chàng rể ham đọc sách và biết ngoại ngữ. Một bữa bắt được con ba ba, định bụng gọi chàng rể đến làm thịt, nấu nướng rồi cùng nhau nhâm nhi. Nhưng thấy con rể vẫn cắm đầu vào quyển sách ngoại ngữ dày cộp, cụ lại thôi. Nấu nướng xong xuôi, cụ sang gọi chàng rể:

– Ham đọc sách thế là tốt. Nhưng đọc sách thì phải biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Ta ra cho anh một vế đối, nếu đối được thì sang đánh chén, không đối được thì bị “ăn đòn”:

– Dạ. Xin thầy ra vế đối.

– Được. Hãy nghe đây:”Hầm ba ba đã chín”. Đối đi. Đối cho chỉnh vào.

Câu đối quả là hóc búa, vì “ba ba” là con ba ba nhưng cũng là ba lần ba là chín. Chín vừa là tính từ (đã được hầm chín), lại vừa là số 9. Phải đối sao cho có phép tính nhân với tích số mang hai nghĩa như vế đối ra. Chàng rể đang bí, bỗng có chiếc xe bò chở cát đi qua. Anh ta mừng quá, vội xin đối:

– Dạ con xin đối là: “Chở cát cát đầy xe”

Cụ đồ nghe xong, vỗ đùi khen “Giỏi”.

Chàng rể đối “cát cát” nghĩa là hạt cát, nhưng tiếng Pháp “cát” (quatre) là số 4, “cát cát” là 4×4=16. Tiếng Pháp đọc 16 là seize, đọc là xe, nên “xe” ở đây vừa là cái xe bò vừa là số 16, tích của phép nhân. Thật tài tình! Vế ra chơi chữ tiếng Việt, vế đối lại chơi chữ cả tiếng Việt- Pháp.

III.

Sáng tác câu đối là một thú chơi tao nhã của bậc trí thức nhiều thời, có nội hàm văn hóa rất cao, thể hiện luân lý của người Á Đông nói chung, tính nhân văn của dân tộc ta nói riêng. Mỗi độ xuân về, ngoài việc trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, nhà nào cũng dán câu đối.

Nội dung của các câu đối thường mang nghĩa chúc tụng, thể hiện ước vọng an lành, cầu an khang, thịnh vượng:

Gia đình hòa dẫn xuân phong mãn

Diên kí quang đăng thọ diện cao

(Nhà đầu ấm gió xuân phơi phới

Tiếc mừng vui sao thọ ngời ngời)

Tết đến, người người thêm một tuổi, trướng thành hơn. Đó cũng là sự hãnh diện, là niềm hạnh phúc của mỗi người. Xuân về, trăm hoa đua nở, không khí mát lành là thời gian đế mọi người nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động mệt nhọc. Để tổng kết lại chặng đường trong năm qua và định hướng cho năm tới tốt lành hơn trong ngày xuân, người ta cũng thích dùng câu đối:

Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ

Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường

(Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ

Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà)

Phúc là điều tốt lành được dân gian quan niệm là trên hết. Theo triết lý phương Đông, có phúc thì sẽ có con cháu đầy đàn, giúp ích cho việc tăng gia sản xuất, nối dõi tông đường. Vì vậy, trong tam tinh (Phúc, Lộc, Thọ) thì Phúc đứng đầu. Trong các mùa của năm, mùa xuân đứng đầu vì mùa này giúp cho cây trái tươi tốt, đem đến bao ước vọng an lành, vì lý do đó, chúc xuân là phải chúc Phúc:

Tứ thời xuân tại thủ

Ngũ phúc thọ vi tiên

(Bốn mùa xuân trên hết

Năm phúc thọ đầu tiên)

Ngày tết cũng là dịp để mọi người nhớ về cội nguồn, nhớ đến công ơn dưỡng dục, sinh thành của ông bà, tổ tiên nên bàn thờ gia tiên ngoài hương đăng trà quả còn có các hoành phi, câu đối thể hiện sự biết ơn tổ tiên, ông bà:

Cúc dục ân thâm Đông hải đại

Sinh thành nghĩa trọng Thái Sơn cao

(Ơn dưỡng dục sâu tựa biển Đông

Nghĩa sinh thành cao hơn núi Thái)

Ngoài ra, còn có các hoành phi, liễn đối khác dán khắp nhà cũng không ngoài mục đích ước mong sự thái bình, làm ăn phát đạt, cát tường. Trước cửa nhà, người ta thường dán câu: Xuất nhập bình anh hay Ngũ phúc lâm môn. Trên tủ quần áo hoặc trên trái cây thờ cúng thì dán chữ đại kiết, còn ở lu gạo thì người ta dán chữ Mãn thể hiện ước muốn gạo trong lu đầy mãi. Riêng những gia đình chuyên buôn bán thì dán câu đối với sự cầu mong mua may, bán đắt, dập dìu khách đến, tấp nập người mua:

Xuân đáo khách phòng xung hỷ khí

Hoa khai tương điếm phức hương phong

(Phòng khách xuân sang đầy vẻ đẹp

Cửa hàng hoa nở nức mùi hương)

Bên cạnh các câu đối mang nội dung chúc tụng trong các dịp hiếu hỷ, lễ tết, một số nơi ở Nam bộ còn cho dán câu đối ở trước cửa nhà để nói lên chí hướng và hoài bão của gia chủ.

Phục kế tổ huấn lập đại chí

Thân công đạo lộ chấn gia thanh

(Khôi phục và nối tiếp lời dạy của tổ tiên để lập nên chí lớn

Con đường thành công của bản thân mình cũng sẽ làm cho thanh thế của gia đình nổi lên)

Ngoài ra, những gia đình có đặt tên hiệu cho nhà mình cũng dùng lối chiết từ để tạo thành câu đối. Tên hiệu của mỗi gia đình thường là để nói lên ý chí, ước vọng của gia chủ về những điều lành, sự giàu sang, phú quý. Cho nên, chiết tự từ cửa hiệu để tạo thành câu đối cũng nhằm khuếch trương quang đại cho gia đình và dòng họ. Ví dụ, một gia đình ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng có cửa hiệu là Mộc Lợi, đã dùng câu đối sau:

Mộc gia tiên đức sáng cơ nghiệp

Lợi phát tài nguyên chấn gia thanh

(Cái đức đời trước của gia đình họ Mộc an dựng nên cơ nghiệp

Nên lợi lộc tiền tố đời nay làm uy danh gia tộc mình thêm)

Một gia đình khác có tên hiệu là Kim Lợi, thì sẽ tương ứng với câu đối sau:

Kim ngọc mãn đường tích thiên tứ

Lợi lộ hanh thông vạn đại xương

(Vàng ngọc đầy nhà là do thụ hưởng được ơn của trời

Con đường lợi lộc có tốt đẹp là do gia tộc: muôn đời làm điều tốt)

Một số tỉnh, thành Nam bộ, câu đối không chỉ được viết trên giấy màu đỏ (Câu đối đỏ), mà còn được viết ra giấy màu xanh (câu đối không chỉ viết bằng chữ Hán hay chữ quốc ngữ, mà còn bằng chữ Khmer. Dán câu đối màu xanh là việc chẳng đặng đừng vì chỉ có màu đỏ mới thể hiện cho sự cát tường, may mắn. Câu đối xanh chỉ do trong trường hợp gia đình có chuyện buồn vào những ngày vui, chẳng hạn không may trước ngày tết có người thân qua đời. Câu đối xanh là “trung hòa” cho việc buồn xảy ra trong ngày vui đó. Dán câu đối xanh cũng giúp cho những người đến viếng đỡ bối rối, ngại ngùng khi ngày tết mà phải đi viếng đám tang.

Nội dung câu đối xanh thường là nói về tình nghĩa của người đang sống với người đã khuất hoặc ca ngợi công đức của người quá cố.

Câu đối được viết bằng chữ Khmer là do sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer trên mảnh đất Nam Bộ, viết bằng mực đen và giấy đỏ, cũng được dán trước cửa nhà, cửa buồng, dán ở cột nhà, nội dung các câu đối cũng là chúc mừng năm mới, đón chào quý khách, giàu sang phú quý…

Ngày xưa, trong các phiên chợ Tết, người ta thường mua vài câu đối của các ông đồ viết sẵn mang về nhà treo.

Thật là thiếu sót nếu ngày Xuân mà không có câu Đối.

Trần Lê Túy-Phượng

Sưu tầm

Tết Nguyên Đán 2011


Xuân tươi rộn rã gọi mời
An lạc, Xuân thắm đất trời hoan ca
Hoà bình, Xuân mới muôn nhà
Tình Xuân chồi biếc, lòng ta dạt dào
Như ý, Xuân nguyện ngọt ngào
Trẻ già Xuân vẫn yêu sao cuộc đời!
Thơ Xuân chỉ có mấy lời,
Ban Mai Hồng chúc người người Tân Xuân.

Tết Nguyên đán do chữ Tiết mà ra, là “thời gian” đặc biệt đã được ấn định trong năm. Theo Âm Lịch hay lịch ta, trong một năm có nhiều Tết, chẳng hạn như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu, Tết Trùng Cửu, Tết Nguyên Đán.Tết quan trọng và lớn nhất trong năm theo văn hoá của người Việt Nam là Tết Nguyên Đán (Nguyên là bắt đầu hay đầu tiên, Đán là buổi sớm mai) Nguyên Đán là ngày đầu tiên của một năm mới âm lịch, tức là ngày một một tháng Giêng ta. Vì Tết Nguyên Đán là Tết lớn nhất trong năm, cho nên người ta còn gọi là Tết Cả. Để khỏi nhầm lẫn với dương lịch, Tết Nguyên Đán cũng còn được gọi là Tết Ta.

Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”) trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán theo lịch sử Trung quốc có khác chăng?
Có những tập tục gì? Tại sao phải có mâm ngũ quả, hoa tết màu gì, đưa Táo quân về trời và đón Táo quân lại bếp ra sao? Hình ảnh ông Đồ già bày mực tàu giấy đỏ có còn không?

Các bạn và các em sẽ kiến giải nhiều điều lý thú khác về Mùa Xuân hay Tết âm lịch và những vần thơ Xuân của các tác giả Ban Mai Hồng qua file PPS Tết Nguyện Đán 2011 gồm 53  slides công phu và ý nghĩa do chị Trần Lê Tuý Phượng thiết kế trên nền bản nhạc  Xuân Hòa Bình với tiếng hát vượt thời gian của ca sĩ Thái Thanh

Huỳnh Huệ

.

Xin click  vào hình bên dưới

 

Chen chân giữa chợ hoa xuân Hà Nội

Chen chân giữa chợ hoa xuân Hà Nội

Những tia nắng ấm ngày áp Tết khiến những chợ hoa truyền thống của Hà Nội như Quảng Bá, Quảng An, Hàng Lược đông nghịt khách. Ai cũng cẩn thận chọn cho mình cành đào, bó hoa ưng ý để chuẩn bị đón Tết.

Những Cây Mai Tiền Tỷ Của Lão Nông Sài Gòn

Quang cảnh chợ hoa Tết Tây Hồ (hay còn gọi là chợ Quảng Bá) sáng 30/1.
Người dân nô nức chọn mua hoa. Loài hoa được nhiều người chọn là dơn hoặc ly. Một bó dơn 10 bông giá 100.000 đồng, hoa ly 30.000-40.000 đồng một cành.
Thược dược cũng được nhiều người ưa thích mỗi dịp xuân về. Giá mỗi bông khoảng 9.000-10.000 đồng tùy theo người mua mặc cả giảm được bao nhiêu.
Một đôi bạn trẻ cùng nhau dạo chơi chợ hoa xuân.
Theo mẹ lên chợ Quảng Bá, bé Thu Anh tỏ vẻ lạ lẫm giữa rừng hoa.
Năm nay chợ hoa Tây Hồ được phân khu, khu bán đào đứng dọc bên triền đê bên ngoài cổng.
Một gia đình đưa bé đi dạo chợ hoa đào.
Do ảnh hưởng của thời tiết, các loài hoa giá cao hơn so với mọi năm. Một cành đào nhỏ thế này được người bán rao tới hơn một triệu đồng.
Vườn địa lan và các loại hoa lan rực rỡ màu sắc cũng hấp dẫn khách. Loại địa lan bình nhỏ nhất cũng có giá lên tới 1,7 triệu đồng.
Tại chợ Quảng An, hoa bán lẻ không chỉ trong chợ mà còn được bán từng bó ngay từ trên ôtô với những cuộc ngã giá, xếp hàng khá mất thời gian. 

Chợ hoa Hàng Lược trong nắng xuân

Chiều 29/1, Hà Nội xuất hiện nắng nhẹ, chợ hoa Hàng Lược càng đón đông đảo khách tới du ngoạn.
Những cành tầm xuân rực rỡ trong nắng vàng.
Nơi đây chủ yếu bán đào cây, đào cành. Các loại quất được bày bán tại vườn hoa Hàng Đậu gần đó.
Một phụ nữ ngắm nghía chọn lựa. Chủ đào hét giá 400.000 đồng cho cành đào này.
Chợ cũng xuất hiện một số chậu mai trắng giá tiền triệu.
Các loại bình đựng bánh kẹo Tết làm bằng gỗ sơn mài, đa màu sắc với giá từ 80.000 đến 220.000 đồng.
Hoa giả đa chủng loại được bày bán nhưng không nhiều người hỏi mua.
Bình thủy tiên bán với giá 200.000 đồng. Một người chơi hoa cho biết đắt hơn bình thường tới 120.000 đồng.
Còn bình hoa xương rồng này có giá 300.000 đồng.
Để có được cây hoa đẹp như ý nhiều người phải bấm bụng mua sớm. 

Hoàng Hà

VNExpress

Phở, Phởn, Phịa

(Kính tặng quý ông, quý bà đã từng mê mệt vì phở)


Hôm nay tôi xin được tập tễnh múa rìu qua mắt bá quan văn võ của viện hàn lâm ẩm thực, lạm bàn về phở.

Thật ra thì những điều cần nói về phở đã được các chuyên gia mổ xẻ, phân tích, ca tụng từ năm xửa năm xưa hết rồi. Chỉ cần lật mấy bài viết về phở của Thạch Lam (Hà Nội ba mươi sáu phố phường, 1943), Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội, khoảng 1952), Nguyễn Tuân (Phở, 1957) ra đọc là ai cũng có thể cảm nhận được hết cái ngon, cái thú, cái quyến rũ của một món quà cổ truyền của ta.

Nếu vậy thì còn gì để phải nói nữa ?

Ấy đấy, nếu chỉ ngừng ở chỗ ngon, ở cái thú thì chuyện đã xong từ lâu rồi. Khốn nỗi sau những giây phút no ấm ngất ngây, tinh thần sảng khoái, các chuyên gia ẩm thực lại bắt đầu… thắc mắc. Thế là chả ai bảo ai, tất cả cùng vung tay gạt bát đũa sang một bên, rủ nhau ngồi bàn luận hăng say, có người quên cả xỉa răng.

Câu hỏi quan trọng đầu tiên được các vị đặt ra là phở từ đâu ra ?

Nguyên Thanh (Phở, Đoàn Kết số tháng 10, Paris, 1987) , Nguyên Thắng và Xưng Xa Hột Lựu (Mũ phở khăn rằn, Đoàn Kết số tháng 7-8, Paris, 1988) đã luận bàn tỉ mỉ, chí lý về nguồn gốc của phở. Theo một số học giả thì phở vốn gốc Tàu, được Việt hóa. Tên phở đến từ chữ phấn của ngưu nhục phấn. Tuy nhiên thuyết này vẫn còn bị nhiều người phản đối khá gay gắt. Phở là món ăn hoàn toàn Việt Nam ! Tại sao cứ phải mang mặc cảm, chối bỏ nguồn gốc như vậy?Ta bị mặc cảm, nhưng tự ti hay tự tôn? Đang còn phân vân thì bỗng nghe tin Pháp đòi bản quyền tác giả của phở. Các ông ấy được tư vấn, cố vấn ra sao mà cứ nhất định rằng phở bắt nguồn từ… pot-au-feu.

Thoạt nghe thấy cũng có lý. Rõ ràng là tiếng phở của ta nghe rất giống tiếng feu của Pháp. Phở phải ăn nóng… như lửa mới ngon! Eo ơi ! Thế là một số bà con Việt Nam ta thắc mắc, hoài nghi, cuối cùng ngả theo thuyết cho rằng phở là của Pháp chứ chẳng phải ta hay Tàu gì cả.

Nể tình mà nói thì thực dân Pháp đến cai trị nước ta trong khoảng gần 100 năm đã để lại dấu vết của sâm banh, bít tết, ba tê, ba gai, xà lách, xà lim, cà rốt, cà nông v.v. và v.v., như vậy thì món pot-au-feu cũng có thể là cha đẻ của phở lắm chứ ?

Xét về lý thì pot-au-feu được Larousse định nghĩa là món ăn làm bằng thịt bò hầm với cà rốt, tỏi tây, củ cải v.v. hoặc là tên của miếng thịt dùng để nấu món pot-au-feu.

Hai định nghĩa của Larousse cho thấy rằng phở chỉ giống pot-au-feu nhiều lắm là tảng thịt bò hầm, còn lại mớ cà rốt, tỏi tây, củ cải và đồ gia vị thì xin gác qua một bên. Thịt bò hầm kiểu này cũng có mùi vị đặc biệt không giống thịt phở chín. Hơn nữa, người Pháp ăn pot-au-feu với bánh mì, khoai tây… chứ chưa thấy ai ăn với bánh phở bao giờ ! Xem vậy thì pot-au-feu khá xa lạ với phở.

Các hàng phở ở Hà Nội trước đây cũng đã thử nghiệm phở sốt vang (hai tiếng sốt vang hoàn toàn đến từ tiếng Pháp) để làm vừa lòng mấy ông tây bà đầm. Tôi chưa được ăn phở sốt vang, nghe nói khá đắt vì được xào xáo với rượu vang. Thuở bé xin mẹ được một đồng bạc, đánh chén một bát phở không, không thịt, là đủ sướng mê tơi rồi. Làm sao mà biết được phở sốt vang trong tiệm của người lớn. Sau này có tiền muốn ăn cũng không được vì món này chết yểu rất sớm. Đông và tây khó mà gặp được nhau trong bát phở.

Cái lý nó khuyên ta không nên lẫn lộn hai món ăn cổ truyền của hai quốc gia văn hiến. Nhưng nói như vậy chỉ là nói suông! Đành rằng ta vừa có tình vừa có lý, nhưng rốt cuộc ta mới phê bình pot-au-feu chứ ta vẫn chưa có bằng cớ gì về gốc gác của phở để bác pot-au-feu.

Xin lỗi các bạn, vì bực pot-au-feu nên tôi hơi dông dài. Bây giờ xin bàn có bằng cớ.

Hy vọng rằng 2 tấm tranh dân gian Oger (1909) tôi đem ra trình làng sau đây sẽ góp phần làm sáng tỏ được vấn đề nguồn gốc và tên gọi của phở.Tấm tranh thứ nhất vẽ một hàng quà. Những ai đã từng sống ở Hà Nội năm xưa, trước 1954, chắc đều nhận ra dễ dàng đây là một hàng phở gánh. Tấm tranh vẽ một bên là thùng nước dùng lúc nào cũng sôi sùng sục, bên kia xếp tất cả những đồ cần thiết. Chúng ta nhận ra con dao thái thịt to bản, lọ nước mắm hình dáng đặc biệt, cái xóc bánh phở bằng tre đan treo bên thành, cái liễn đựng hành, mùi. Tầng dưới là chỗ rửa bát, bên cạnh có cái giỏ đựng đũa. Con dao to bản và cái xóc bánh đủ cho chúng ta biết rằng đây là một gánh phở, có thể nói rõ hơn là phở chín. Sực tắc không dùng hai dụng cụ này. Sực tắc nhúng, trần những lọn mì bằng cái vỉ hình tròn, đan bằng giây thép. Còn hủ tiếu ? Cho tới năm 1954, đường phố Hà Nội chưa biết hủ tiếu. Vả lại những xe hủ tiếu (xe đẩy chứ không phải gánh) của Sài Gòn cũng không thái thịt heo bằng con dao to bản của hàng phở chín.

Tấm tranh này xác nhận rằng vào những năm đầu thế kỷ 20, ở ngoài Bắc, đặc biệt là ở Hà Nội, phở gánh còn do người Tàu (và có thể cả người Việt Nam ?) bán.

Tấm tranh thứ nhì có tên là hàng nhục phấn, vẽ thùng nước dùng. Hai thùng nước dùng của hai tranh khá giống nhau. Tranh thứ nhì cho biết rằng chữ ngưu của món ngưu nhục phấnsang đầu thế kỷ 20 bắt đầu bị rơi rụng. Tên món ăn trở thành nhục phấn.Nhưng dựa vào đâu để nói rằng chữ phở đến từ chữ phấn ?

Trong bài Đánh bạc của Tản Đà được viết vào khoảng 1915-1917 có đoạn :

(…) Trời chưa sáng, đêm còn dài, thời đồng tiền trong tay, nhiều cũng chưa hẳn có, hết cũng chưa chắc không. Tất đến lúc đứng dậy ra về, còn gì mới là được.

(…) Có nhẽ đánh bạc không mong được, mà chỉ thức đêm ăn nhục phơ ?

Tản Đà gọi nhục phấn là nhục phơ. Chữ phấn chuyển qua phơ trước khi thành phở. Phơ của nhục phơ (chứ không phải feu của pot-au-feu) mới là tiền thân của phở,.

Tóm lại, ngưu nhục phấn đã được nói gọn thành nhục phấn từ đầu thế kỷ 20 (tranh dân gian). Nhục phấn được chuyển thành nhục phơ (Tản Đà). Ít năm sau nhục phơ được dân chúng đổi thành phở (Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức, 1933). Năm 1943 Thạch Lam đưa phở vào văn học.

Kể từ năm 1943, trong văn học cũng như trong dân chúng, tên phở được tất cả mọi người dùng.

Mới bàn đến tên phở thôi mà đã ồn ào như thế, huống hồ bàn đến những vấn đề to lớn khác !

Tôi không đủ khả năng đề cập đến những vấn đề thuộc phạm trù triết lý, thẩm mỹ. Có cho húp cạn dăm ba thùng nước phở tôi cũng chịu không biết rõ mặt mũi một bát phở đúng điệu phải ra sao, một bát phở ngon phải như thế nào ?

Trước khi ngừng, xin kể vài mẩu kỷ niệm của những lần được tay nâng môi kề một bát phở.

Ai ơi bưng bát phở đầy… Khó quên được “phở” của bọn sinh viên chúng tôi vào những năm 65-70. Cái thời ở Pháp không kiếm đâu ra được bánh phở, nước mắm. Chúng tôi hầm thịt với muscat, đinh hương, viandox. Ăn với mì sợi, hành tây. Nghĩ lại mới thấy “phở” thời đó sao mà giống pot-au-feu thế. Thế mà đứa nào cũng khen ngon. Ôi, cái thời tuổi trẻ còn dễ tính.

Mấy năm đầu của thời kỳ Việt Nam đổi mới và mở cửa…

Hà Nội như một người mới ốm dậy đòi ăn giả bữa, xối xả lao mình vào… ăn trứng. Vừa bổ, vừa sang! Các cửa hàng rộn vang tiếng đòi đập thêm trứng. Bánh cuốn cũng trứng. Phở cũng trứng! Một trứng chưa đủ, vẫn còn thèm. Cho hai trứng nhé ông hàng ơi ! Nhiều con mắt liếc trộm khách hào hoa! Gọi một bát phở thường lúc này là chuyện hơi không bình thường.

Xế cửa nhà tôi ở trọ có một hàng phở bình dân. Không phải phở tiệm, cũng không phải phở gánh. Hàng phở kiểu này chưa có tên trong văn học. Tạm gọi là phở hè lè tè. Bàn ăn cũng như ghế ngồi của khách, của chủ chỉ cao cách mặt vỉa hè độ 20 phân. Ai thích nước phở trong và ngọt thì nên đến ăn ở đây. Trong vắt, không một váng mỡ ! Dường như xoong nước dùng chỉ có nước, muối và bột ngọt. Mỗi bát phở được cô hàng tặng thêm lưng thìa cà phê bột ngọt. Khách muốn đậm đà hơn ? Dạ có (muối trộn bột ngọt) đây ạ. Được cái phở cũng có ớt, chanh, hành hoa thái nhỏ.

Tại Huế, khu Gia Hội có một tiệm nho nhỏ nhưng chuyên làm cả một bảng các món đặc biệt. Hai ba kiểu mì xíu mại, hoành thánh, dầu chao quẩy. Ba bốn kiểu phở tái, chín, nạm, gầu. Có cả hủ tiếu Nam Vang, mì Quảng… Điểm độc đáo của tiệm là tất cả các món đặc biệt này chỉ cần một thùng nước dùng.

Một hôm tôi lang thang dưới Xóm Bóng (Nha Trang). Mải la cà chụp ảnh, quá ngọ mới đi ăn trưa. May quá còn tiệm phở mở cửa. Ông chủ vồn vã mời ăn phở đặc biệt (lại đặc biệt). Khoái quá, tôi gật đầu lia lịa. Làm xong bát phở, ông chủ đi nghỉ trưa. Cả tiệm chỉ còn tôi với bát phở đặc biệt ! Ăn hết mấy sợi bánh tôi vẫn chưa hết dè dặt với cái khối gì là lạ nổi trong bát. Một lát tôi ngoắc thằng bé từ nhà trong đi ra, hỏi nó xem tôi đang ăn phở gì ? Thằng bé chăm chú dòm bát phở. Con không biết, để con hỏi mẹ. Dạ mẹ không biết, chờ lát nữa hỏi ba. Dạ ba nói là phở giò. Phở giò của Vũ Bằng đây à ?

Ấy đấy, chữ nghĩa mà không rõ ràng thì thật là phiền.

Nhân dịp lên kinh đô ánh sáng, tôi được bạn rủ đi ăn phở. Mời ông ăn phở ngon nhất Paris, được sách hướng dẫn du lịch khen đàng hoàng. Cho 2 tô đặc biệt ! Không đặc biệt hóa ra thua thiên hạ à ? Ông bạn trịnh trọng múc tương tàu, tương ớt ra đĩa. Ủa, sao ông nói là ăn phở ? Phở đặc biệt chính hiệu con nai vàng đây. Vừa chín, vừa tái, lại thêm bò viên, cổ hũ, lá sách. Nhiều thứ vui lắm. Ăn phở mà lại vui nữa thì nhất rồi ! Giá mà thêm tí bê thui chấm tương gừng nữa thì vui hết xẩy !

Đến Mỹ mà không đi thăm khu Tiểu Sài Gòn thì…kể như chưa đến Mỹ. Nghe bên phải bên trái người ta nói như thế. Mới chân ướt chân ráo tới Cali tôi đã vội yêu cầu được tới thăm thủ đô thứ hai của Việt Nam.

Chúng tôi đi chợ, ăn phở. Hên quá, gặp lúc tiệm đang quảng cáo khuyến mại, mua một tặng một. Mua một bát phở người lớn, tặng một bát phở trẻ con. Theo thói quen, tôi bắt đầu bằng thưởng thức miếng thịt chín. Thôi nguy rồi ! Không có tăm ! Có chớ, để ở quầy trả tiền ngoài kia kìa. Mắc răng kiểu này thì chỉ còn nước ngồi ngắm mấy miếng thịt gân to bằng nửa quân bài tây, chờ mọi người ăn xong. Kỹ thuật thái thịt bây giờ tiến lắm. Đem đông lạnh, thái bằng máy, muốn to mấy cũng được.

Một lần khác, trong một tiệm phở khác, tôi bị bối rối. Tàu bay, tàu thủy, tàu hỏa, hàng không mẫu hạm… Cả một thời quá khứ, chọn gì đây ? Bát thường thôi ông ạ. Mấy cái tàu to như…cái chậu, sức tụi mình không kham hết đâu !

Việt kiều Cali rất hãnh diện là nơi đây thức ăn vừa rẻ, vừa đầy nồi !

Chúng ta có thể nói không ngoa là phở đã sống thăng trầm với người Việt Nam. Nơi thôn ổ hay chốn thị thành, tại quê nhà hay khắp năm châu, lúc khó khăn thiếu thốn cũng như buổi ấm no thanh bình, phở luôn ở bên cạnh mọi người.

Xa xưa, phở là phở bò, phở chín. Ngày nay, phở thay da đổi thịt, muôn màu muôn vẻ. Cách nấu, cách ăn thay đổi không ngừng. Đã đến lúc phải phân loại, đặt tên cho bát phở để tránh ngộ nhận.

Đại khái chúng ta có thể phân biệt :

Bát phở bò của Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân thì gọi là…phở.
Tàu bay, tàu bò, thịt to bánh nhiều cốt làm vui lòng giới ẩm thực vũ bão thì nên gọi là…phởn.
Ngầu pín, viagra, cổ hũ, lá sách, trứng, giò heo, thịt chó (có người định thử) thì phải gọi là…phịa!
Còn cái thứ chết tiệt của mấy ông sinh viên ? Xin tự phê gọi nó là…phản.

Tiếng Việt vốn giàu âm thanh, ngữ nghĩa, còn nhiều chữ khác có thể dùng cho phở được. Tuy nhiên chúng ta cũng nên thận trọng yêu cầu các nhà văn học định nghĩa rõ ràng các chữ dùng kẻo lại gây ra những bàn cãi dài dòng cho mai sau.

Trong quá khứ đã từng có một giáo sư thuyết trình tại hội Việt Mỹ (Sài Gòn) rằng

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

Chuông chùa Thiên Mụ ngân nga thánh thót, chicken soup của Thọ Xương thì tuyệt, không đâu ngon bằng !

Mới đây, trong một cuốn hướng dẫn du lịch Việt Nam rất đẹp, soạn công phu, có chậu hoa màu đỏ được chú là… fleur de théier.

Trà với chè tuy hai mà một,
Trà với trà tuy một mà hai.

Trà (camélia) và trà (théier), đằng nào chả là trà. Cứ động đến ăn uống là các ông chỉ hay lý sự lôi thôi !

.

Nguyễn Dư

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tết Miệt Vườn

Không khí bắt đầu từ những gốc mai ấy đấy. Khoảng giữa tháng Chạp là người ta dứt lá cho mai và sau đó, cành nhánh trơ trụi của nó có cái gì trọng đại sắp bắt đầu.

Một gốc mai ở giữa sân, đó là nhu cầu, thói quen và cũng là biểu hiện của văn hoá và may mắn. Ngày thường, mai chỉ là loại cây xanh uốn nắn được, nhưng ngày tết, ánh vàng và sức nở tưng bừng của nó mới thật bất ngờ. Những nhà có cụ ông nhìn vào rất dễ biết, vì gốc mai của họ được chăm sóc công phu, trông chúng y như một ông chủ điệu nghệ: tỉa gọt đấy nhưng vẫn xù xì một cách phong sương và khí phách.

Nước trong sông rạch đầy dần sau mỗi con triều. Đã qua mùa lụt, phù sa đã nằm sâu ở vị trí mà thiên nhiên đền bù cho con người, nước trong vắt leo lẻo gọi là mùa nước bạc. Thế rồi, cùng với thứ gió se se ngọn dừa, với màu nắng tươi như mật loãng, với tiếng trống lân sập sận chuẩn bị, Tết đã áp sát một bên.

Thật ra, Tết đã đến rục rịch đến từ sau mùa gặt, khi lúa hạt đã vào bồ nhường sân cho những chiếu bánh phồng san sát. Tuần bánh nhộn lên trước lúc đưa ông táo về trời và kéo dài cho tới ngày giáp cuối. Nếp hạt hoặc khoai mỳ (sắn) sẵn trong nhà, xôi chín lên trong nước cốt dừa rồi đưa vào cối, những chiếc cối của thời gạo giã được giữ lại chuyên cho bánh phồng. Cả xóm thức liên miên cùng với nhịp chày và tiếng giỡn hớt thả cửa của cánh chị em đi cán bánh vần vông. Đấy là dịp duy nhất họ quây quần bên nhau náo nức với cái gì đó rất chung nhưng hoàn toàn không giống với việc cấy gặt ngoài đồng. Cánh đàn ông cũng bị dựng dậy thay phiên cầm chày, trong lúc chờ đến lượt, họ lặng lẽ hút thuốc, thỉnh thoảng độp vào câu chuyện ngồi lê của cánh đàn bà bằng những câu đùa độc địa khiến con nít cũng bị lôi cuốn ra khỏi mùng. Thế là chúng biến thành cánh chạy bánh đắc lực từ người cán tới người phơi bánh. Không có loại việc nào lôi kéo được tất cả mọi người như việc làm bánh phồng.

 

Đã nhìn thấy vết thâm quầng đáng yêu trên mi mắt các bà các cô. Nhưng nào họ đã thôi trò thi đua bánh mứt. Nếu các đức ông coi việc chăm sóc cửa nhà, mai kiểng, lân pháo là nghĩa vụ đối với Tết thì cánh đàn bà ra sức làm sống lại nghề bánh khéo đã từng mai một bởi chiến tranh. Bánh kẹp cuốn ống ngậy hương vị nước cốt dừa nầy, bánh gatô cải biên đúc bằng khuôn mỏng hình trái tim nầy, bánh thuần nướng trong nồi cát này, bánh bưa kem đường nàỵ.. để đề tài bánh trái sẽ đậm đà hương vị thăm hỏi nhau của cánh chị em trong ba ngày Tết, để tếng khéo đồn xa”, để được “tết thì tết cả xóm”.

 

Còn có một loại bánh dân tộc không thể thiếu với người miệt vườn. ấy là bánh tét cải tiến từ bánh chưng thời Nguyễn Huệ thần tốc trên lưng ngựa. Đòn bánh tét là lễ với tổ tiên, là chữ hiếu với cha mẹ, là nghĩa thày trò, là miếng điểm tâm sáng ngày mồng một, là quà quê cho con cháu ở xạ Gói bánh tét không dễ vì không phải ai cũng đặt đúng cái nhân đậu mỡ ở giữa và phải niềng sao cho hai đầu cân nhau và các nuộc lạt bóng lên tăm tắp. Qua đòn bánh, người phụ nữ nhà đó được xem xét, không chỉ việc khéo vụng mà còn xem có nền nã, chặt chẽ hay không bao giờ ra bánh, người ta cũng treo thành sào cạnh bồ lúa trông thật ấm áp. Có nhà còn gói thật nhiều bánh, ngâm chúng trong nước sạch để ra giêng ăn dần.

Vẫn còn thiếu nghiêm trọng nếu như Tết ở miệt vườn chưa có mét dừa, thứ vật liệu cây nhà lá trời mênh mông. Dừa được chọn kỹ như thể chọn dâu: dừa cứng, mứt có mùi dầu, khô và vô duyên, dừa ướt, mứt ỉu, ăn thấy chán. Những nhà có thẩm mỹ tinh tế thường chỉ pha vào mứt hai màu, hồng phấn và trắng tinh, trông chúng gợi cảm như thiếu nữ. Chưa đủ, chỉ mỗi thứ mứt dừa thì hộp mứt tết sẽ nghèo nàn lắm, vì vật họ còn thi nhau làm mứt bí, mứt me, mứt cà, mứt gừng, mứt khế, và cả những thư tưởng không thể nào thành mứt được như trái khổ qua (mướp đắng) chẳng hạn. Cầm chúng lên, dù thực khách là gã đàn ông kiêu ngạo, bất cần hay chai sạn cũng phải mềm lòng trước sự kỳ diệu của đôi tay, khối óc và tâm hồn người đàn bà.

Thời gian đã chạy bứt lên khiến con người lao muốn đứt hơi theo nó. Người ra chợ, quả cây ngũ sắc đầt ắp ghe thuyền, tiếng máy đuôi tôm dào dạt bờ sông. Người ở nhà gấp rút đưa tất cả những thứ cần giặt giũ ra sông, tiếng đập chiếu trên mặt nước âm âm nghe thật thúc hồi. Có tiếng réo nhau vào hội, cứ mươi nhà thì hùn nhau vật một con heo sẵn trong chuồng của nhà ai đó, ai không tiền mặt cứ việc đưa thịt về ăn tết đã, ra năm tìm cách tính sau. Trẻ con bưng bê gì mà xuôi ngược hấp hởi vậy? Thì ra, nhân ngày áp chót, người ta tranh thủ đưa biếu nhau những thứ quả chỉ có ở vườn mình để sau ngày ba mươi thì không ai động đến cây và trái nữa, chính là để chúng được yên lành hưởng chọn lộc xuân như con người .

 

Bữa cơm chiều ba mươi thật hệ trọng với từng nhà như khắp mọi nơi trong đất nước. Chỉ khác là tổ tiên luôn được ở trong vườn nhà, vì vậy, trước khi rước ông bà vào mâm cỗ thì nấm mộ phải sạch cỏ, phải khang trang. Bận rộn đến mấy, nghĩa cử này thường không được chậm trễ và, khi nén nhang cong trên bàn thờ, con cháu mừng hơn được vàng vì thế là ông bà đang về đấy, đang phù hộ cho con cháu đấy, nhất định năm mới sẽ may nhiều dữ ít. Như con người vừa được an ủi.

 

Công việc của cánh đàn bà nào đã xong. Trong ánh lửa bập bùng từ nồi bánh tét bên góc sân, còn phải quét sân trước sân sau để ra ngoài mồng thì đố dám động chổi. Còn phải tắm táp cho lũ nhỏ để chúng được ngủ trong mùi vải mới. Trong ý tưởng trẻ thơ, tối giao thừa được mặc quần áo mới thì năm sau sẽ mau lớn.

 

Cuối cùng việc nhà cũng phải chấm hết. Trong mệt mỏi ngọt ngào, các bà các cô mang đèn dầu xuống bờ sông, giấu chúng vào bụi cây để hé ra ánh sáng mập mờ, ấy là bữa tắm chậm rãi nhất, long trọng nhất của họ trong vòng mấy trăm ngàỵ Họ ngụp sâu trong nước mát, nhẩn nha giữa qúa khứ và tương lai, bởi tâm tư họ đang bước đến giao thừa. Họ bước lên, quần áo tóc tai cẩn trọng trong căn nhà bỗng như mới bừng lên, trên chiếc gối còn thơm mùi xà bông mùi nắng, bên cơ thể thơm tho của lũ trẻ, họ thả lưng thư giãn một cách trang nghiêm. Có biết bao điều ập đến, biết bao nỗi buồn được tiễn đưa và cũng biết bao mơ ước được gọi dậy, ấy là lúc họ tẩy trần đầu óc và tâm hồn vốn bình dị của họ.

Rồi bước chân tời gian như vừa khởi động và đang tràn sầm sập qua xóm vắng. Người già dậy trước bật hết đèn lên, chốc sau đã nghe mùi bánh phòng toả ra từ bếp lửạ Giao thừa bao giờ cũng phải có phồng trên bàn thờ. Không khí bắt đầu ngầy ngà khắp xóm trẻ con bật dậy sà ngay vào trò chơi pháo chuột, như chùng chưa hề chợp mắt, còn các cụ bà thì lần ra sân bái lạy đủ bốn phương tám hướng. Đêm đen sóng sánh, cây trong vườn trầm mặc và con sông như bát ngát rạ Có cái gì đang dừnglại trong mỗi con người, bịn rịn ngậm ngùi, rưng rưng. Buổi giao thừa ở quê thường không có mấy truyền hình, người nhà ai nấy tụm vào quanh ông bà mình nghe chuyện xửa chuyện xưa chờ cho nhang tàn để đưa lộc từ trên ban thờ xuống bắt đầu nhấm nháp. Bấy giờ người ta mới thấm mệt như có cái gì đó ghê gớm xuyên qua, xâu chuỗi người ta lại và cũng đặt người ta vào vòng quay chóng mặt nhưng vô cùng thú vị.

 

Sáng mồng một nhà nào cũng dậy muộn, trừ một vài người lớn phải cũng kiến cho ông bà. Trẻ con lăng xăng với bộ quần áo đẹp nhất, nhẩm trong đầu những câu chúc thọ người lớn sao cho được khen và được cả tiền lì xì. Xống áo thanh niên bắt đầu chộn rộn đường quê, cũng chừng ấy mẫu mã thời trang thị thành, chỉ khác là màu nổi hơn để chứng tỏ với chung quanh sự hiện diện của mình. Người đứng tuổi ra đường vào buổi xế, bấy giờ rượu mới là thứ được việc để người ta nhìn nhau thoải mái sau bao nhiêu va chạm ngày thường, để những câu chúc nhau cháy đượm.

 

Mồng hai Tết mới thực sự là ngày của hỉ xả. Thường người ta góp nhau sắm lân sắm trống từ rất sớm, mỗi xã một đội. Người thủ vai lân phải khoẻ, phải có bước nhảy mang tinh thần thượng võ, còn ông địa thường là cậu bé con sôi nổi, cũng có khi là một bà goá có tính chọc trời khuấy nước. Cả xóm được một ngày vui, một ngày cười, cả lân, cả địa thường được thưởng rượu để bước chân tròng trành hơn.

 

Ngày mồng ba đánh thức mọi người dậy sớm như nhau. Sau khi cúng tất niên bằng chú gà giò, người ta săm soi bộ chân nó để xem thời vận và treo nó ở hàng hiên để khoe với hàng xóm. Cũng là ngày bọn trẻ đổ ra đường khệ nệ mang lời chúc của gia đình và bánh trái đến mừng tuổi thầy cộ Phong tục cổ truyền ấy đã làm cho ngày cuối cùng của dịp tết bừng lên một lần nữa, thiêng liêng rộn rịp không kém gì ngày ba mươi vừa qua.

Hết Tết, xóm ấp rã rượi một cách ngọt ngào như cô dâu sau tuần trăng mật. Đó là sự kỳ diệu mà tổ tiên và thiên nhiên cùng bạn tặng để mỗi năm một lần con người trở lại với giá trị hằng của mìn: thanh sạch, vị tha, giao hoà và mơ ước.

.

Dạ Ngân

 

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: