• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 900 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 900 other followers

Ngôn Ngữ Với Nhà Văn – Đàm Lan

Ngôn ngữ với nhà văn là một thứ công cụ đặc hiệu, là tất cả những đường nét hình khối cảm xúc màu sắc của những thể loại tác phẩm. Để thể hiện đúng tính chất nội dung ngữ cảnh mà đoạn văn hay câu thơ cần, nhà văn phải là người có một kho từ vựng phong phú. Tiếp tục đọc

Thực đơn tiếng Anh đến Tây cũng hãi!

Không ai có thể nghĩ ra món ba ba lại được dịch sang tiếng Anh là ‘Three three’.

{keywords}

Món ba ba được dịch sang tiếng Anh là Three three tại Hà Giang

Tiếp tục đọc

Chữ “LÀM” của người phụ nữ

Tình cờ đọc trên mạng tôi thấy người ta “bôi bác” đàn ông. Họ nói cuộc đời người đàn ông gắn liền với chữ “ĂN”.

 Đại loại như là:

Khi còn nhỏ thì “ăn học”. Xin tiền ba mẹ mua quà không được thì “ăn vạ”
Lớn chút nữa thì “ăn chơi”, “ăn mặc”, “ăn diện” để tán tỉnh các cô.

https://i2.wp.com/dep.bacsi.com/wp-content/uploads/2013/07/N%C6%A1-b%C6%B0%E1%BB%9Bm-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-to%C3%A0n-di%E1%BB%87n-cho-ch%C3%BA-r%E1%BB%83-3.jpg

Tiếp tục đọc

Tự Điển Việt trong Sổ Tay Du Khách Mỹ

Tự Điển Tiếng Việt

tìm thấy trong sổ tay một Du khách Mỹ đánh rơi trên bãi biển ở VN

Tiếp tục đọc

Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh – Tống Trần Tùng

Rất nhiều người Hà Tĩnh khi mới ra Bắc vào Nam, nhất là ra Hà Nội hay vào thành phố Saigon để học tập hoặc lập nghiệp, thường ngượng ngùng, lúng túng trong giao tiếp bởi cái tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo đểcủa họ làm cho người được đối thoại nhiều khi không hiểu. Ấy là những người đó khi nói, mới chỉ có giọng nói và ngữ điệu là “Hà Tĩnh”, còn từ dùng thì chủ yếu là từ phổ thông. Còn nếu họ nói “đặc sệt” “tiếng Hà Tĩnh”, tức là cả ngữ điệu và từ dùng đều là ngôn ngữ địaphương, thì chắc rằng người nghe sẽ ngớ ra cứ như nghe một thứ ngôn ngữ không phải là tiếng Việt vậy. Lúng túng là chuyện thường tình khi mà giao tiếp không suôn sẻ do ngôn ngữ bất đồng. Nhưng liệu có phải ngượng ngùng, xấu hổ đến nỗi cho rằng cái mô tê răng rứa là ngô nghê quê mùa?

Tiếp tục đọc

Thảm Họa Dịch Thuật

Đọc và cười đau bụng, chuyện thật  nghe như chuyện  tiếu lâm :

(SGGP).- Trên mạng xã hội vừa lan truyền một tấm ảnh thể hiện một “thảm họa” về chuyển ngữ trên tấm bia đá gắn trước cây gạo Đền Mõ tại Hải Phòng – một cây cổ thụ đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam.

Tấm bia gồm 3 phần: phần trên ghi bằng tiếng Việt “Cây gạo đại thụ – Trồng năm 1284 (Giáp Thân)”. Phần tiếp theo được chuyển ngữ sang tiếng Anh như sau: Plant rice University Acceptance – Planted in 1284 (Body Armor). Phần thứ ba ghi bằng tiếng Trung Quốc (ảnh).

Tiếp tục đọc

Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ

Người Việt ta từ ngàn năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những chữ cái thành từ. Chữ Việt có trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp, Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC).
Bộ chữ này lưu lại trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ. Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt từ ngàn xưa.

Tiếng Việt Mới

MỜI anh chị em nghe lại bản nhạc TIẾNG NƯỚC TÔI của cố Nhạc sĩ PHẠM DUY qua tiếng hát vượt thời gian của danh ca Thái Thanh  và  đọc bài TIẾNG VIỆT MỚI  của tác giả Yên Hà.

Ban Mai Hồng  đăng bài này để chúng ta cùng cười về sự cường điệu và cách sắp đặt từ ngữ như trong bài bởi không có người Việt Nam nào có học yêu Tiếng Việt mà lại dùng tiếng Việt như vậy. Ông bà tổ tiên của ta, chúng ta và nhiều thế hệ con cháu sau nữa của Việt Nam sẽ  luôn mãi yêu tiếng nước ta. Yêu tiếng Việt,  xin tất cả người Việt, trong đó  các bạn đọc trang này, hãy cùng nhau giữ gìn sự trong sáng và chuẩn mực của Tiếng Việt. Mong các anh chị em và các bạn  hãy nói và viết đúng Tiếng Việt  trong các tình huống giao tiếp, ngữ cảnh khác nhau  sao cho phù hợp.

Tiếp tục đọc

Thế nào là tiếng Việt trong sáng?

https://i1.wp.com/images.yume.vn/buzz/20110801/Capture.JPG
Chữ viết và tiếng nói là phương tiện truyền đạt giữa con người và con người. Loài vật chắc cũng có tiếng nói qua những âm thanh như: hót, kêu, gầm, hú, sủa… để truyền đạt cho nhau; nhưng loài vật không có chữ viết. Con người do trí thông minh, do bản năng tiến hóa, lại có ý thức, sau khi sáng tạo ra chữ viết, lần hồi biết tổng hợp, gọt giũa để biến thành văn chương. Còn tiếng nói cũng cải tiến không ngừng. Ngôn ngữ đi như bóng với hình với văn chương, từ thô thiển trở thành thanh tao, từ thẳng thừng trở nên bóng bẩy, từ thô lỗ trở nên ý nhị. Có thể nói văn chương càng phát triển bao nhiêu thì ngôn ngữ càng đẹp bấy nhiêu. Tư tưởng càng phát triển bao nhiêu thì văn chương và ngôn ngữ càng phong phú bấy nhiêu.

Ánh Tuyết hát nhạc trữ tình bằng giọng “Quảng Nam”

Ánh Tuyết đã hát và thực hiện một album mới với những ca khúc bằng chất giọng rặt Quảng Nam.
Sau khi thu âm thử một vài bài hát bằng giọng Quảng Nam, ca sĩ Ánh Tuyết đã gửi bài hát này cho vài người bạn nghe thử.

Ít tuần sau, bài hát lan truyền trên các trang mạng xã hội rất nhanh mà tên người hát không được tiết lộ. Nhiều người đã thích thú với giọng hát trong sáng, rặt Quảng Nam chứ không phải giọng Quảng bị châm chọc lâu nay.Sau nhiều lần truy tìm cuối cùng mọi người cũng nhận ra được giọng hát của ca sĩ Ánh Tuyết và bất ngờ hơn khi biết chị đang thu âm và sắp ra một album với những ca khúc được trình bày bằng giọng Quảng Nam, quê hương của chị.

 Thương chất giọng mộc mạc, chân chất

Đi Kéo Ghế Ở Huế Hơn 40 Năm Về Trước – Quế Chi Hồ Đăng Định

ĐI KÉO GHẾ Ở HUẾ HƠN 40 NĂM VỀ TRƯỚC
QUẾ CHI HỒ ĐĂNG ĐỊNH

 https://i2.wp.com/vnthuquan.net/diendan/upfiles/6464/786CDD458FBB484A8CD2535060D6375A.jpg

Nếu bạn là người Bắc hay Nam chưa từng ở Huế, bạn sẽ không hiểu được ba chữ “đi kéo ghế” là nghĩa như thế nào hay sẽ tự hỏi thầm: “Cái dzì dzậy cà?” hay “Cái gì thế nhỉ ?”

Cho dù bạn là người Huế 100% nhưng ở vào khoảng tuổi 40 trở lại, e rằng bạn cũng sẽ phân vân. “Đi kéo ghế là đi mô rứa hè?”Điều đó cũng dễ hiểu, bởi vì nhóm chữ này hình như chỉ tồn tại một thời gian ngắn, sau đó dần dần biến mất và không ai dùng đến nữa. Ngôn ngữ cũng biến đổi theo thời gian cùng điều kiện sống của xã hội.

Tiếp tục đọc

Quảng cáo tiếng Anh ngô nghê, “Tây” cười vỡ bụng

Nhiều món ăn của Trung Quốc được dịch sang tiếng Anh khiến khách ‘Tây’ cười vỡ bụng.

Quảng cáo tiếng Anh ngô nghê, 'Tây' cười vỡ bụng
Drunk Crab (Tạm dịch cua say rượu). Nhà hàng muốn dùng từ này để chỉ món cua hấp rượu

Nói Lái – Hòa Đa

Vài cảm nghĩ về tình tự dân tộc . Nét đặc sắc bị bỏ quên : Nói Lái


Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học, nhưng có nhận xét này, mà khi chia xẻ với nhiều người Việt Nam , tôi luôn có sự đồng tình: Nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt.

Bạn có bao giờ nghe giai thoại giải thích đại phong là lọ tương chưa? – Chuyện thế này: hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh này đố anh kia: đại phong là gì?

– Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn, anh kia giải thích.

Anh này bảo đại phong là lọ tương kìa: đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lo là lọ tương.

Tiếp tục đọc

Trương Vĩnh Ký và những công lao với tiếng Việt – Cao Xuân Hạo

Trong quá trình xây dựng ngành Việt ngữ học, một quá trình đã có một lịch sử khá dài (hơn mười hai thập niên kỷ – gần đến một thế kỷ rưỡi), ta không thấy có một trình tự phát triển và tiến bộ liên tục.

Trong trình tự đó, người đi sau học tập những thành tựu của người đi trước, cố hiểu rõ cội nguồn của những nhận định và những kết luận của họ trong thực tế nói năng của dân tộc, kiểm tra lại xem những nhận định và kết luận này có phù hợp với cách nói năng của người bản ngữ hay không.

Nếu không, họ phê phán, chỉnh lý và bổ sung cho những nhận định ấy được chính xác và khái quát hơn, và mặt khác cố gắng tiếp thu những phát kiến thành công của các trào lưu tiến bộ trong trong lý thuyết ngôn ngữ học thế giới để soi sáng những vấn đề có liên quan đến tiếng mẹ đẻ của mình.

Tiếp tục đọc

Tiếng Việt Tiếng Việt – Đàm Lan

Mở mắt chào đời, ngôn ngữ làm quen đầu tiên là tiêng Việt. Từ ông bà bố mẹ anh chị thầy cô bạn bè, tất cả đều trao đổi bằng tiếng Việt. Chập chững đến lớp, ai ai cũng đều được biết câu “Tiếng Việt phong phú và giàu đẹp”.

Vậy ưu điểm của tiếng Việt là gì ?

Do có sáu thanh nên tiếng Việt có ngữ điệu trầm bổng nói như hát, dễ thành thơ thành nhạc. Do cấu trúc từ ngữ đa dạng nên tiếng Việt hàm súc phong phú số lượng từ. Không thể thống kê rằng kho từ vựng của tiếng Việt có khoảng độ bao nhiêu. Sự kết hợp mỗi nguyên âm và các phụ âm lại cho ra một số lượng từ và nghĩa khác nhau, Cách ghép câu nhờ thế mà cũng hết sức đa dạng, sự đa dạng này cho phép đảo từ, đảo chủ vị mà có thể không khác nghĩa trong một số trường hợp, nhưng lại có thể thay đổi rất nhiều về ý nghĩa trong trạng huống khác.. Người giỏi chữ tha hồ tung tẩy bay lượn ngôn phong ngữ sắc. Cũng từ đó mà sinh ra nhiều thể loại thơ phú vần vè. Thêm vào đó là sự  đa sắc về các nền văn hoá phong tục tập quán phương ngữ bản địa cũng góp vào kho tàng tiếng Việt một số lượng đồ sộ từ ngữ. Bên cạnh đó là sự giao thoa văn hoá, giao dịch thương mại, giao tế chính trường với thế giới, sự phát triển đa lĩnh vực góp thêm một số từ chuyên ngành, những ám chỉ bóng bảy trong khả năng minh biện sự vụ, đã bổ túc khá nhiều vào vốn từ vựng, và người Việt đã vận dụng theo nguyên thể hoặc Việt hoá. Tổng hợp đôi ba chiều như thế cho thấy kho tàng từ ngữ tiếng Việt quá dư dả cho những vận dụng chuyển tải nội dung ý nghĩa trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống hàng ngày.

Tiếp tục đọc

Vui Vui Đầu Năm Đố Bạn – Phạm Phù Sa

ĐẦU NĂM CÒN HƯƠNG TẾT. 

Photobucket

 ANH DOÃN LÊ, Hội An vừa đưa ra câu xuất đối, không biết xuất xứ từ đâu, của tác giả nào, chưa ai đối chỉnh.
.
VẾ XUẤT NHƯ SAU :

Luận Về Nói Lái

Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học, nhưng có nhận xét này, mà khi chia xẻ với nhiều người Việt Nam, tôi luôn có sự đồng tình : Nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt.

Bạn có bao giờ nghe giai thoại giải thích đại phong lọ tương chưa ? – Chuyện thế này : hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh này đố anh kia : đại phong là gì ?

– Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn, anh kia giải thích.

Anh này bảo đại phong lọ tương kìa : đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thì tượng (Phật) lo, tượng lo lọ tương.

Tiếp tục đọc

Dạy ngôn ngữ là dạy văn hóa

Qua hai bài “Kích thước văn hóa trong việc giảng dạy ngôn ngữ” và “Ngôn ngữ là văn hóa”, chúng ta đã đi đến ba nhận định chính: một, ngôn ngữ thực chất là văn hóa; hai, nói hoặc viết ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ của mình là một thao tác liên văn hóa; và ba, dạy và học ngôn ngữ thứ hai hoặc song ngữ thực chất là dạy và học văn hóa.

Vấn đề: Dạy văn hóa qua ngôn ngữ là dạy gì?
Đó không phải là câu hỏi dễ trả lời. Văn hóa có một nội hàm rất rộng, không thể dạy hết được, ngay trong những môn thuộc chuyên ngành văn hóa học. Bởi vậy, chúng ta chỉ giới hạn trong văn hóa giao tiếp.
Trong văn hóa giao tiếp, Catherine Kerbrat-Orecchioni đề nghị tập trung vào năm trục chính:
1_Tầm quan trọng đặt trên việc phát ngôn.
2_Cách tiếp cận với các quan hệ liên cá nhân.
3_Cách hiểu về phép lịch sự.
4_Mức độ nghi thức hóa.
5_Cách bày tỏ cảm xúc và cảm giác (1).
Tôi đề nghị thêm phần ngôn ngữ thân thể như một trục thứ sáu để phù hợp với tầm quan trọng của loại hình ngôn ngữ này trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam.
 
Riêng trong bài này, xin đề cập đến khía cạnh thứ nhất của văn hóa giao tiếp: Mức độ hoạt ngôn (levels of verbosity).
Trong một số nền văn hóa, người ta đề cao và khuyến khích việc phát ngôn hơn các văn hóa khác. Ví dụ người Palians (thuộc miền nam Ấn Độ) thường được xem là nói rất ít (low verbosity) trong khi người Pháp được xem là nói nhiều (high verbosity); người nói tiếng Anh được xếp vào hạng trung bình (2). Còn người Việt Nam thì sao? Thú thực, tôi không biết. Cho đến bây giờ vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về mức độ hoạt ngôn của người Việt cả. Có điều, cần phân biệt hai môi trường hành ngôn khác nhau.
Thứ nhất, ở chỗ riêng tư, trong các câu chuyện phiếm, có lẽ người Việt cũng nói nhiều không thua bất cứ ai cả.
Thứ hai, ở nơi công cộng, trong các cuộc hội thảo, người Việt Nam phần lớn, nếu không nói là tuyệt đại đa số, dè dặt và trầm lặng hẳn. Cứ nhìn vào giờ thảo luận trong lớp học của người Việt Nam và của người Tây phương thì thấy ngay. Trong khi người Tây phương, nói chung, sôi nổi bao nhiêu thì người Việt Nam thường lặng lẽ bấy nhiêu. Có lý do văn hóa nào cho hiện tượng nói ít nơi công cộng như vậy không? Tôi nghĩ là có. Ít nhất có ba nguyên nhân chính:
1_Người Việt Nam trọng lễ. Ở nơi công cộng, người ta thường nhường người lớn tuổi và nhiều quyền thế hơn. Ý niệm về bình đẳng trong tranh luận chưa bén rễ sâu trong văn hóa Việt Nam. Phần lớn đều theo văn hóa truyền thống.
2_Vấn đề thể diện còn ảnh hưởng nặng nề ở Việt Nam và là một trong những trung tâm của văn hóa giao tiếp của người Việt cũng như của người Hoa. Trước đám đông, một mặt, người ta muốn lên tiếng để khẳng định vị thế của mình; nhưng mặt khác, lại sợ nói sai, nói dở hay nói hớ để, hoặc là bị người khác phản đối hoặc là bị người khác cười thầm: trong cả hai trường hợp, người ta đều sợ bị “mất mặt”.
3_Có lẽ do ảnh hưởng của cả một lịch sử dài dằng dặc bị áp bức, người Việt Nam thường sợ việc mở miệng, đặc biệt trước đám đông. Ca dao và tục ngữ Việt Nam cung cấp cả một kho tàng triết lý về việc nói năng.
Chẳng hạn, xem ngôn ngữ như một thứ quyền lực: Miệng nhà quan có gan có thép.
Có ảnh hưởng trực tiếp đến số phận con người: Lời nói đọi máu.
Do đó, càng ít nói bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu: Lời năng nói năng lỗi.
Trước khi nói nên suy nghĩ chín chắn: Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy.
Kẻ thất thế càng nên nói ít: Khó nhịn miệng, bồ côi nhịn lời.
Nếu phải nói, nên nói, đừng viết: Lời nói gió bay, bút sa gà chết.
Nếu viết, nên chọn hình thức phù du nhất: Khôn văn tế dại văn bia.
Không nên nói thật: Nói thật mất lòng.
Và chỉ nên nói khéo: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, v.v…
Như vậy, trong văn hóa giao tiếp, ngay cả việc ít nói hay im lặng cũng là những sự lựa chọn mang tính văn hóa: chúng cần được diễn dịch trong giao tiếp và cần được giảng dạy trong lớp học.
Chú thích:
1.      Xem bài “A conceptual framework to help teachers identify where culture is located in language use” của Chantal Crozet in trong cuốn Teaching Invisible Culture, Classroom Practice and Theory do Joseph Lo Bianco và Chantal Crozet biên tập, Language Australia Ltd. xuất bản tại Melbourne, 2003, tr. 39-40.
2.      Joseph Lo Bianco & Chantal Crozet (biên tập) (2003), sđd. tr. 41.
.

Nguyễn Hưng Quốc

Túy Phượng chuyển bài

Ngôn Ngữ Là Văn Hóa ( Nguyễn Hưng Quốc)

Việc phát hiện kích thước văn hoá trong việc dạy và học ngôn ngữ đã trình bày trong bài Kích thước văn hóa trong việc giảng dạy ngôn ngữ bao gồm ba nội dung chính: Thứ nhất, ngôn ngữ, tự bản chất, là văn hóa; thứ hai, giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác bao giờ cũng là một thao tác liên văn hóa; và thứ ba, dạy và học một ngôn ngữ là dạy và học ngôn ngữ đồng thời cũng là dạy và học văn hóa; cả hai được tiến hành hầu như cùng một lúc.

Trong bài này, tôi xin bàn đến nội dung thứ nhất trước. Tiếp tục đọc

Tiếng Việt đang “dài” ra!

Văn chương “nhập khẩu” từ miền Bắc: “Những hình ảnh còn đọng mãi trên đường xuyên Việt
 
Hiện tượng nói dài đang ngày càng trở nên phổ biến trong sách báo và văn bản tiếng Việt hiện nay. Vì sao?
 
Trong một chương trình Chào buổi sáng (VTV1) mới đây, viên sĩ quan cảnh sát giao thông trả lời phỏng vấn rằng:
“Chúng tôi đã xác định được những cơn mưa kéo dài trên một tiếng đồng hồ hoặc dưới một tiếng đồng hồ gây ngập lụt là 53 điểm”.

Dạy tiếng Việt: dễ hay khó?

 Lời tác giả: Việc dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai (cho trẻ em Việt Nam ở hải ngoại cũng như cho người ngoại quốc ở Việt Nam và hải ngoại) đang phát triển mạnh mẽ. Điều này gợi ra nhiều vấn đề liên quan đến phương pháp giảng dạy vốn còn rất mới với người Việt Nam. Bài viết này chỉ nhắm đến mục đích nêu lên một số cái khó để mọi người cùng quan tâm. Vì bài viết khá dài, tôi xin chia làm bốn phần:
1.     Dạy ngôn ngữ thứ hai bao giờ cũng khó
2.     Khi ngôn ngữ thứ hai là một ngôn ngữ cộng đồng lại càng khó.
3.     Bản thân tiếng Việt rất khó (1)
4.     Bản thân tiếng Việt rất khó (2)

Đau đầu…ngoại ngữ ( Lê Anh Tuấn )

Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa.

Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Đông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Đại học ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở Đại học khoa học tự nhiên Sài Gòn, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu.

Tiếp tục đọc

Chuyện Nhỏ Phố Tôi (Doãn Lê)

Phố tôi, từ hình ảnh của một bà già hom hem, lọm khọm bỗng dưng trở thành một cô gái phơi phới tuổi xuân, đeo vòng nguyệt quế, đã hấp dẫn biết bao du khách ái mộ trong và ngoài nước. Mà không phải chỉ du khách thôi nhé, cả đến những nhà doanh nghiệp, những đại gia tầm cỡ thế giới cũng đến tìm cơ hội xía phần. Cái thành phố nhỏ tí xíu, buồn thỉu buồn thiu, tưởng như một món hàng  cũ kỹ, bỏ đi, bị  quên lãng hàng trăm năm, được ông chủ – ấy, không phải ông chủ, mà là một vị khách nước ngoài (1)   tình cờ phát hiện, chùi ra mới biết đó là vàng thật hẳn hoi. Tiếp tục đọc

Dấu “Hỏi Ngã” trong văn chương Việt Nam

Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam. Tiếp tục đọc

Cậu bé 12 tuổi gốc Việt làm giảng viên thỉnh giảng ở Mỹ

Cậu bé 12 tuổi gốc Việt làm giảng viên thỉnh giảng ở Mỹ

Nguyễn Tường Khang đã được một trường đại học ở Virginia, Mỹ mời đến trong vai trò giảng viên thỉnh giảng. Mỗi tuần, cậu bé 12 tuổi này có bốn giờ diễn thuyết. Và tất nhiên, “học trò” đều là những người lớn tuổi hơn cậu.

Khang tại cuộc thi tài năng diễn thuyết tổ chức vào năm 2010
Nguyễn Tường Khang tại cuộc thi tài năng diễn thuyết tổ chức vào năm 2010.

Nguyễn Tường Khang, cậu bé người Mỹ gốc Việt đã khiến giới báo chí, cũng như nhiều người Mỹ bất ngờ bởi tài diễn thuyết cực “đỉnh” của mình.

Khang sinh ngày 31 – 2 – 1999, là học sinh mới tốt nghiệp lớp 6 của một trường tiểu học ở Fairfax, bang Virginia, Mỹ. Khang đã được một trường đại học ở Virginia mời đến trong vai trò giảng viên thỉnh giảng – diễn giả cho mỗi đề tài được đưa ra hàng tuần.

Trong cuộc thi tài năng diễn thuyết tổ chức vào năm 2010 với chủ đề giáo dục của NAACP, Khang gây ấn tượng mạnh với ban giám khảo và khán giả bởi tài hùng biện, cái nhìn sâu sắc, cũng như những suy nghĩ rất chín chắn. Cậu bé 12 tuổi đã lọt vào top bốn trong vòng chung kết và xuất sắc trở thành người chiến thắng.

Không những thế, những ý tưởng của cậu còn được coi là đánh giá bổ sung vào bài phát biểu về giáo dục của Tổng thống Mỹ Obama, đồng thời truyền đạt cho những bậc phụ huynh nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của giáo dục.

Khang không chỉ là niềm tự hào của gia đình và người Việt nói riêng mà còn là đại diện xuất sắc của cộng đồng người Á nói chung tại nước Mỹ.

Theo Phú Cao
Dân Việt

Tiền Phong Online

Viết Luận IELTS Thông Tin qua Biểu Đồ

Các bạn chuẩn bị thi IELTS (International English Language Testing System)?

Các bạn sẽ thi học sinh giỏi quốc gia môn Tiếng Anh?

Có thể các bạn không thi gì cả, nhưng muốn rèn luyện kỹ năng viết luận Tiếng Anh.

Dù bạn thi IELTS hay TOEFL hoặc HS Giỏi quốc gia thì kỹ năng viết- một trong hai kỹ năng sản sinh ngôn ngữ đều đòi hỏi nỗ lực luyện tập của bạn.  Để có một điểm đẹp, bạn phải thực hành viết rất nhiều và nếu có một GV chấm giúp bạn chỉnh sửa thì bạn sẽ tiến nhanh. Nhưng cũng không khó lắm để có điểm 7 hay 7, 5 trong lần đầu thi viết IELTS ( em Cẩm Tú, lớp 11 chuyên Toán, hay đạt 28/ 30 lần đầu thi TOEFL – IBT ( em Phạm Lê Bảo Ngọc, lớp 12 chuyên Anh  mấy năm về trước).

Trong hai bài viết bắt buộc của IL, bài thứ nhất là dạng viết luận Graph này trong 20 phút với độ dài trong khoảng 150 -200 từ . Thí sinh được yêu cầu mô tả các thông tin được đưa ra qua biểu mẫu, đồ thị, bảng, quy trình. Bài 2, Argument Essay, thí sinh được yêu cầu viết một bài luận tối thiểu 250 từ trong thời gian 40 phút về một vấn đề nào đó.

Ban Mai Hồng xin giới thiệu 7  file video về  những kiến thức cơ bản của dạng viết luận Graphs, Charts, Tables để các em làm quen  với dạng viết này.

1.  IELT Writing Task 1   Graphs, Charts, Tables

2. IELT Writing Task 1, lesson 2: The IELTS Question

3. IELT Writing Task 1, lesson 3: Describing Trends

4. IELT Writing Task 1, lesson 4 : Describing Variables and Time

5. IELTS Writing Task 1- Lesson5- Describing Statistical Data

6. IELTS Writing Task 1- Lesson 6 – Comparing Trends and Data

7. IELTS Writing Task 1- Lesson 7- Approximating Data

Các bạn cũng có thể luyện nghe hiểu với những đoạn video dạy viết này.
Chúc các bạn và các em thành công trong kỹ năng viết này.

.
Huỳnh Huệ

Bóng Nắng – thơ Nguyễn Đình Xuân

.

Ban Mai Hồng đã giới thiệu với các bạn yêu thơ một số không ít  những bài thơ ( nhưng vẫn còn khiêm tốn so với sáng tác rất phong phú của tác giả)  của nhà thơ  Nguyễn Đình Xuân. Những bài thơ của Đình Xuân  được nhiều bạn đọc yêu mến và cả mình cũng thích cái dung dị, tự nhiên nhưng rất thơ ( Chia tay mùa hạ, Trước Ngôi Nhà Hoang,Chiều, Người Đi, Bên Nắng Bên Mưa, Nghiêng Ngả, Bên Thềm Xuân….).. Một người yêu thơ ngoại đạo như mình sau khi đọc hết Bóng Nắng cảm  thấy dễ chịu nhẹ nhàng.  Có thể nói  hơi thở của cuộc sống, tình yêu  mang dấu ấn  và  kỹ thuật  cùng phong cách riêng  hoà quyện trong những vần thơ của tác giả.  Cũng có những phút lắng lòng- một chút bâng khuâng về nhân tình thế thái qua triết lý trong thơ. Rất đáng để chúng ta đọc hết các bài trong tập thơ.

Xin hân hạnh giới thiệu tập thơ Bóng Nắng gồm 75 bài với những chủ đề quen thuộc tình người, tình yêu, về  đời sống xã hội của tác giả Nguyễn Đình Xuân qua cảm nhận  sâu sắc của Mai Thanh.

Huỳnh Huệ

Giống như nhiều tập thơ khác, “Bóng nắng” của Nguyễn Đình Xuân là một tập thơ phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức thể hiện. Tuy nhiên, có thể tìm thấy ở đây có gì riêng biệt của “Bóng nắng”? Cảm nhận của riêng tôi, đó là cảm xúc chân thật về nỗi buồn và niềm vui gia đình; về tình yêu và triết luận về cuộc đời-con người.

1. Chiếm số lượng tương đối lớn số bài trong tập là thơ về nỗi buồn-niềm vui gia đình với cảm xúc chân thật về hai mặt được- mất của người thân.

Đó là lễ đưa tang bà ngoại trong xót thương, có phần day dứt:

Một đời bà ngoại long đong

Trở về với đất chưa xong nỗi niềm

(Bà ngoại)

Đó là tình cảnh “Mẹ bị tai biến/Nằm liệt mấy năm, còn cha thì gầy ốm:Thân gầy xa xăm” (Ba tôi). Với chị gái, nhà thơ tỏ ra rầu rĩ khi bộc lộ về hoàn cảnh của chị: Chị rất yêu nghề dạy học, nhưng không thể sống bằng nghề mình yêu, nên phải: Nam Bắc ngược xuôi/Dấn thân chạy chợ/Kiếm tiền nuôi nghề/Bao niềm trăn tr“(Chị tôi). Trong bài thơ tặng nhân sinh nhật vợ, yêu thương-đầm ấm là thế, nhưng nhà thơ vẫn băn khoăn:

Những đêm cô đơn nỗi nhớ chẳng nguôi ngoai

Anh thấy em có trong từng nhịp thở

Bỗng thấy sợ có một ngày tan vỡ

Ngôi nhà hoang khi bếp lửa không hồng

(Viết tặng sinh nhật của vợ)

Nhà thơ nhìn sợi tóc vương rơi của vợ như nhìn thấy mọi nỗi gian lao vất vả của nàng:Mình em nuốt dòng nước mắt/Thay anh chăm sóc mẹ cha (Sợi tóc).

Tuy nhiên, không chỉ vậy, anh cũng nói thật những niềm vui hạnh phúc của mình. Đó là, khi người vợ thân yêu mang trong mình một sinh linh bé nhỏ:

Một mầm sống nhỏ em mang

Lòng em tràn đầy hạnh phúc

(Hạnh phúc)

Lòng em tràn đầy hạnh phúc? Cả lòng anh cũng vậy chứ sao! Sự quan tâm đối với người phụ nữ mang thai, trước hết là quan tâm đến sinh hoạt của họ trong ăn uống, đi lại… điều đó chỉ người mẹ là biết rành rẽ, nên anh kể về sự quan tâm của mẹ đối với vợ mình, cũng tức là sự quan tâm của chính anh đối với người vợ và “nhiệm vụ trực tiếp” của anh là “động viên tinh thần” vợ bằng những lời trò chuyệnn thắm tình:

Nhớ lần gặp nhau đầu tiên

Anh rụt rè nhìn em mãi

Bây giờ bắt đền anh đấy

Biền biệt xa để em mong

(Hạnh phúc)

Mai cháu đi làm dâu” cũng là bài thơ về niềm vui gia đình. Rất thật thà và ngộ nghĩnh, khi nhà thơ kể chuyện mình đã bế ẵm cháu từ thuở cháu còn là một đứa trẻ nhỏ, thế mà đến nay, cháu đã đi lấy chồng:

Mẹ vui trào nước mắt

Cậu bâng khuâng nụ cười

Cháu làm dâu quê người

Lại nhớ chiều chờ đợi…

2. Dĩ nhiên , tình cảm vợ chồng nêu trên kia cũng là tình yêu, nhưng ở đây, tôi muốn nói tình yêu với phạm vi riêng, không bao hàm tình yêu chồng vợ như đã nêu. Trước hết, tình yêu trong “Bóng nắng” bộc lộ nét dịu dàng, kín đáo; đó cũng là nét riêng của thơ Nguyễn Đình Xuân.  Ở đây, tình yêu không háo hức, vội vàng mà dè dặt, kín đáo. Nụ hôn trong tình yêu là biểu hiện dĩ nhiên và phổ biến, thế mà:

Vầng trăng nghiêng xuống làn môi

Đừng anh! Em sợ… có người, hình như

Lá rơi chợt động cuối thu

Nghe xôn xao gió, hình như ai nhìn

(Tình yêu)

Và, có lẽ tình yêu dè dặt ấy đã đưa đến bất thành của tình yêu, đưa tình yêu vào nhớ nhung, hoài niệm: Người về nơi ấy còn mong/Tôi mang nghiêng ngả nỗi lòng xôn xao(Nghiêng ngả). Nỗi hoài niệm tình yêu rõ nhất là ở bài Đồng Xa“:

Tôi về lại phố xưa khắc khoải

Ngang nhà em cửa đóng đã thay người

Ngõ vẫn nhỏ rêu phong dày hoài niệm

Đồng Xa giờ em đã xa xôi.

Rồi, nhà thơ hoài niệm với những bài thơ viết mà không tặng: Tình yêu thường để lại vào thơ/Những đắng cay, nỗi buồn thành ngọc” (Những bài thơ anh không viết tặng em). Đúng vậy! Những hoài niệm đẹp về tình yêu bao giờ cũng là những viên ngọc quý!

Đọc những bài thơ tình yêu của Nguyễn Đình Xuân, chúng ta thấy hình ảnh em – người tình luôn hòa quyện cùng cảnh quan đẹp, ví dụ:Chiều như nghiêng gió bên em/Nghe ngàn con sóng vỗ ven chân đồi (Chuyện tình Hồ Núi Cốc); hoặc: “Quê nhà như trống vắng/Em quẩy mùa hạ đi/Anh ngược chiều lá rụng/Thấy se lòng vu quy…(Chia tay mùa hạ“).

Các bài thơMùa hoa cải“, “Chiều“, “Người đi“, “Đường quê”, “Phải lòng“, “Trước ngôi nhà hoang“… là những bài thơ tình hay, bộc lộ cảm xúc luyến nhớ, man mác với cách sử dụng thi từ, thi ngữ khá thành công.

3. Những bài thơ triết luận trong Bóng nắngcũng đáng được đề cập. Bài thơBóng nắng” – bài thơ dùng làm tên cho cả tập – là bài thơ triết luận về cuộc đời:

Sáng bóng dài trước mặt

Trưa bóng tròn trên sân

Quá chiều mình bóng ngược

Đi cúi nhìn bước chân.

Sáng, trưa, quá chiều là ba thời điểm của cuộc đời con người. Mỗi thời điểm có một đặc trưng riêng. Nhưng quá chiều là thời điểm người ta có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm cho cuộc đời. Cúi đầu nhìn bước chân để xem bước chân đã đi những bước thành công thế nào, thất bại ra sao sau khi đã đi từ sáng, qua trưa, đến quá chiều, để mà bước tiếp tốt hơn! Đó là một cách cảm nhận! Đương nhiên, có thể cảm nhận bài thơ theo cách khác. Điều đó chỉ rõ: Bài thơ có ý tưởng “mở” để người đọc rộng đường suy ngẫm.

Bài thơNgười điênkêu gọi sự đồng cảm:

Người điên hay hát, hay cười lắm

Mà cũng buồn ngay được giữa đường

Điên dại ở trần không xấu hổ

Ai từng qua khổ nhủ lòng thương?

Những người cùng khổ nhiều khi không còn biết cuộc đời mình là khổ nữa (khổ mãi nên “quen” đi mà!) Đó là tình cảnh trớ trêu của người nghèo giống như người điên không còn tri giác. Bài thơ đánh thức lương tâm mọi người chúng ta đừng bao giờ bỏ rơi người nghèo, cũng như xa lánh người điên. “Người điên” là một bài thơ triết luận giàu tinh nhân văn.

Phong phú về ý tưởng, đa dạng về cách thể hiện, tập thơ Bóng nắng còn đề cập nhiều đề tài và chủ đề khác nữa. Tuy nhiên, trên đây chỉ thẩm bình hết sức ngắn gọn về  nội dung cơ bản của tập thơ. Chúc mừng và cảm ơn nhà thơ Nguyễn Đình Xuân về tập thơBóng nắng“. Bạn đọc mong được đọc những tập thơ tiếp theo với chất lượng nghệ thuật cao hơn nữa của anh.

Hà Nội, tháng 12-2010

Mai Thanh

Ba que xỏ lá

Bạn có biết thằng ba que xỏ lá là ai không ? Không biết… thằng phải gió, thằng mắc dịch này à ? Nếu vậy thì mời bạn cùng đi… đào mả, bới gia phả nhà nó, xem nó là con cái nhà ai mà đốn mạt thế !

Ngược dòng thời gian, chúng ta tìm được dấu vết xa xưa của ba que trong bài Phú tổ tôm của Trần Văn Nghĩa, một người sống dưới thời Minh Mạng (1820-1840). Tác giả kể tên nhiều trò cờ bạc, trong đó có ba que :

” Lạt nước ốc trò chơi vô vị : tam cúc, đố mười, đấu lình, bẩy kiệu, thấy đâu là vẻ thanh tao ;
” Ngang càng cua lối ở bất bình : xa quay, chẵn lẻ, dồi mỏ, ba que, hết thẩy những tuồng thô suất.
(Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Phú Việt Nam cổ và kim, Văn Hóa, 1960, tr. 215).
Thời Tự Đức, Trần Tấn (tức Cố Bang) nổi lên chống Pháp. Ông bị ốm và chết năm 1874. Có người làm bài Vè Cố Bang đánh Tây :

(…)
Lính Tây, triều mang súng,
Kèn thổi ” toét tò loe “,
Dưới cơn (cây) cờ ba que,
Quan Hồ Oai cưỡi ngựa (…)
(Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỉ 19, Văn Học, 1970, tr. 406).
Ít lâu sau xỏ lá mới xuất hiện. Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) đưa ra một trò chơi :

Xỏ lá là cuộc chơi gian lận, cuộc gạt gẫm. Một người lấy giấy, lá dài xấp lại cùng vấn tròn, đố người khác lấy chiếc đũa cắm vào giữa khoanh tròn, như chiếc đũa không mắc trong cuốn giấy thì phải thua tiền (nếu mắc thì ăn tiền). Quân xỏ lá là quân điếm đàng, lận mạt.

Xỏ lá gian lận, gạt gẫm ở chỗ nào ? Trò chơi như vậy mà đã bị xem là điếm đàng, lận mạt rồi à ? Chết ! Chết ! Nếu vậy thì Đầu hồ của vua quan là… điếm đàng hạng sang hay sao ?

Tự điển Génibrel (1898) gọi thằng xỏ lá là thằng mưu mẹo, lừa dối.

Tương truyền năm 1906, Nguyễn Khuyến bị loà mắt, bị Chu Mạnh Trinh chơi xỏ, tặng cho một chậu hoa trà, thứ hoa có sắc nhưng không có hương. Nguyễn Khuyến ” Tạ lại người cho hoa trà ” bằng bài thơ ” Sơn trà ” trong đó có câu :

Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà
(Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi dà)
Hai câu thơ ý nói : Những trận gió to làm cho đài hoa rụng, ai cũng có thể biết được ; còn những hạt mưa nhỏ làm cho lá thủng, ít ai có thể trông thấy được, nên lại nguy hiểm hơn. (Thơ văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, 1971, tr. 138 và 408).

Sở Khanh, Bạc Hạnh bị Tản Đà vạch mặt:

Bộ xỏ lá trông đà lộn ruột,
Sức thơ đào nghĩ lại non gan.
Năm 1914, Phan Kế Bính biên soạn Việt Nam phong tục. Trong chương bàn về tính tình người Việt, ông chia đàn bà và đàn ông nước ta thành các hạng người: hiền phụ, lệnh phụ, xuẩn phụ và quân tử, thường nhân, tiểu nhân. Tiểu nhân là bọn tính tình gian giảo, phản trắc, (…), ăn trộm ăn cướp, xỏ lá ba que, đàng điếm, hoang toàng v.v.

Phan Kế Bính khai sinh thành ngữ Xỏ lá ba que, mở đường cho văn học sau này.

” Trời đất ôi ! Ngờ đâu con người thế, mà xỏ lá ba que !… (Phạm Duy Tốn, Con người Sở Khanh, Nam Phong, 1919).

***

Ngày nay, thành ngữ ” Xỏ lá ba que ” hay ” Ba que xỏ lá ” thường được dùng để chỉ chung bọn vô lại chuyên đi lừa người khác để kiếm lời (Nguyễn Lân), bọn xảo trá, đểu giả (Hoàng Phê), tụi gian lận (tricheurs), bất lương (malhonnêtes) (Gustave Hue), v.v….

Nguyễn Lân đi xa hơn, giải thích chi tiết :

Ba que xỏ lá là một trò chơi ăn tiền trong đó kẻ chủ trò nắm trong tay một cái lá có xỏ một cái que, đồng thời chìa ra hai que khác. Ai rút được que xỏ lá là được cuộc, còn rút que không lá thì phải trả tiền. Nhưng kẻ chủ trò vẫn mưu mẹo khiến người chơi bao giờ cũng thua. Vì thế người ta gọi nó là thằng ba que xỏ lá, hoặc thằng ba que, hoặc thằng xỏ lá. (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Văn Hoá, 1989).

Tuy nhiên, trò chơi của Nguyễn Lân không đơn giản, không phải ai cũng hiểu được cách chơi. Nhà cái nắm trong tay một cái que xỏ vào lá, và hai cái que không. Nhà cái chìa 3 đầu que ra cho người chơi rút. Nếu chỉ có vậy thì mưu mẹo bằng cách nào ? Nhà cái có tài thánh cũng không thể vừa nắm tay vừa tráo được cái que xỏ lá trước mặt người chơi. Thế mà người chơi bao giờ cũng thua thì… ma quái thật !

Không biết Phan Kế Bính, tác giả của Xỏ lá ba que, có biết trò chơi này không ?

Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931) định nghĩa:

Ba que là một cuộc đánh tiền bằng ba cái que của bọn keo hèn bày ra đánh ở đường ở chợ. Nghĩa bóng chỉ những người dối dá điên đảo.

Xỏ lá là trò làm ra để lừa người ta mà kiếm tiền. Thường nói tắt là ” xỏ ” để trỏ người gian giảo lừa gạt, bợm bãi.

Ba queXỏ lá dối dá, lừa gạt bằng cách nào ? Không biết.

Gốc gác hai thằng ba quexỏ lá sao mà mù mờ thế. Hôm nay được ngày trời tạnh mây quang, mời bạn đi tìm cho ra hai thằng này.

Ba que

Génibrel(1898), Gustave Hue (1937) nói trống không đánh ba que hay ba ngoe jeu de baguettes (trò chơi bằng que).

Trò chơi bằng que của ta thì có đánh khăng và đánh chuyền của trẻ con. Cả hai trò chơi đều không phải là” ba que “.

Người lớn có trò chơi dùng ba cái que. Đó là trò Chạy que của hội làng. Người ta dùng ba chiếc que xếp thành hình chữ H. Người tham dự trò chơi cầm hai chiếc que đặt song song của chữ H, cùng chạy đến đích. Ai đến trước mà chiếc que nằm ngang không rơi là thắng cuộc.

Chạy que vui nhộn. Người chơi phải nhanh chân, khéo tay. Người giật giải hoàn toàn không gạt gẫm, lừa dối gì ai. Giở trò ” ba que ” ở sân đình thì trời đánh thánh vật cho chết không kịp ngáp. Chạy que chắc chắn không dính dáng gì với Ba que.

Pierre Huard, Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, 1954, tr. 248) cho biết Ba que giống Courte paille (que ngắn) của Pháp.

Courte paille là trò chơi rút thăm. Lấy một bó que có số que bằng số người chơi. Bẻ một que cho ngắn hơn các que khác. Người chủ trò trộn lẫn các que, nắm một đầu bó que, chìa đầu kia ra cho mọi người rút thăm. Ai rút trúng cái que ngắn là thắng cuộc.

Số que của Courte paille tuỳ thuộc vào số người chơi, không bắt buộc phải là ” ba que “. Dù sao thì Courte paille cũng không gian lận, không mang nghĩa xấu.

Ba quan

Năm 1884, bác sĩ Hocquard than phiền về đám bồi người Việt :

Ces boys au service des Européens sont, pour la plupart, de petits vauriens sur qui il faut avoir en tout temps l’oeil ouvert. Ils ne couchent pas à la maison, mais en ville, et leur plus grande occupation, une fois leur service fini, est de jouer aux cartes ou au bacouën.

(Hầu hết đám bồi của người Âu là bọn chẳng ra gì, cần phải cảnh giác, đề phòng chúng. Bọn chúng không ngủ ở nhà, chỉ ngủ ngoài đường. Mối bận tâm lớn nhất của chúng là chờ hết công việc để rủ nhau chơi bài, hay chơi ba quen).

Philippe Papin ghi chú rằng bacouënba quan (trois ligatures, ba quan tiền). (Une campagne au Tonkin, Arléa, 1999, tr. 55)

Ba quan (Ba quan tiền) chơi như sau :

– Ce jeu populaire consiste à renverser sur une natte, où sont tracées trois cases numérotées sur lesquelles les joueurs ont misé, un bol plein de haricots que l’on compte ensuite quatre par quatre à l’aide d’une baguette ; si, à la fin du décompte, il n’en reste plus un seul, le croupier gagne ; s’il en reste un, deux ou trois, c’est le nombre de haricots restant qui indique la case gagnante (qui rapporte trois fois la mise) (Pierre Huard, Maurice Durand, sđd).

(Ba quan là trò cờ bạc bình dân. Chiếu bạc có ba ô để các con bạc đặt tiền. Nhà cái đổ một bát đầy đậu xuống chiếu, rồi dùng một chiếc đũa đếm từng bốn hạt đậu một. Cuối cùng, nếu không còn hạt nào, thì nhà cái được. Nếu còn lại một, hai hay ba hạt thì ô số một, số hai hay số ba được. Tiền được gấp ba lần tiền đặt).

Giải thích như vậy chưa thoả đáng. Bởi vì :

1) Trò chơi không bắt buộc phải đặt một quan tiền để được ăn thành ba quan.

2) Một quan tiền ngày xưa to lắm (Một quan là sáu trăm đồng, Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi…). Mấy đứa nhỏ làm bồi cho Tây (năm 1884-1886) chắc chắn trong túi không có sẵn một (hay nhiều) quan tiền để đi đánh bạc.

3) Nhà cái đổ bát đậu xuống chiếu, rồi đếm. Như vậy thì kết quả các lần chơi sẽ giống nhau sao? Vô lí. Đúng ra thì nhà cái có một bát đậu để bên cạnh, mỗi lần chơi thì bốc ra một nắm để đếm.

Báo L’Illustration (1884) có một bài phóng sự ngắn về một sòng bạc bakouan (ba quan) tại Bắc kì. Emile Nolly gọi trò cờ bạc của đám lính tập là bacouan (ba quan) (Hiên le maboul, Calmann-Lévy, 1925).

Bộ bưu ảnh của Dieulefils (khoảng đầu thế kỉ 20) có tấm ” Trẻ con chơi bakouan ” (Do-Lam Chi Lan, Chants et jeux traditionnels de l’enfance au Viêt Nam, L’Harmattan, 2002, tr. 305). Tấm ảnh cho thấy ba quan chơi bằng mấy đồng tiền, gần giống như xóc đĩa. Trò chơi không có đậu, không dùng que để đếm. Ba quan của Dieulefils khác ba quan của Huard, Durand và Papin.

Ba quan không phải là ba quan tiền (trois ligatures). Nếu trò chơi có 3 cửa để đặt tiền thì Ba quan nên được hiểu là 3 cửa (quan nghĩa là cửa) chăng ?

Ba quan là trò cờ bạc may rủi. Nhà cái không cần gian lận, cuối cùng vẫn được vì cách chơi có lợi cho nhà cái. Ba quan không phải là ba que. Tuy nhiên :

” Chưa bao giờ ở nước ta, chế độ học tập và khảo thí lại đẻ ra nhiều bọn người vô tài vô hạnh đến thế. Đã dốt nát, chúng lại hay khoe chữ, đề thơ bừa bãi trên tường các đền chùa và Phạm Thái rất khinh ghét chúng “. Lại Ngọc Cang gọi bọn này là bọn  sinh đồ ba quan (Lại Ngọc Cang, Sơ kính tân trang, Văn Hoá, 1960, tr. 37).

Ba quan là vô tài vô hạnh, dốt nát, khoe khoang. Ba quan có nghĩa xấu. Tiếc rằng các từ điển của ta không có từ này.

Bakouan của Dieulefils, hay ba quan của Huard, Durand khá cồng kềnh, lích kích (bát, đĩa, đũa, đậu). Mấy bác lính tập của Nolly không thể mang theo trong mình được. Trò cờ bạc bacouan của các bác có thể là trò ba quân.

Ba quân

Người Pháp đưa bộ bài tây (bài ít xì) vào nước ta. Một số trò cờ bạc mới bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt là trò Ba quân, có nơi gọi là Ba lá.

Ba lá là một cuộc đánh tiền, lấy ba quân bài tây đảo đi đảo lại, ai đặt tiền vào trúng quân ông lão thì được. Nghĩa bóng chỉ những đứa hèn hạ ( Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức). Ba quân hay Ba láBonneteau của Pháp.

Ba quân hoàn toàn nhờ vào tài tráo bài của nhà cái và tài lừa phỉnh của cò mồi. Ai đã sống tại Sài gòn vào những năm 60 của thế kỉ trước chắc còn nhớ lề đường Lê Lợi, thứ bảy, chủ nhật nhan nhản tụi tráo bài. Ngô Tất Tố cho biết vào khoảng 1930 tại phố Hàng Ngang ngoài Hà Nội có cả đàn bà ngồi tráo bài. Ba quân là cờ gian bạc lận của bọn đầu đường xó chợ. Ba quân hội đủ những tính xấu như gian lận, xảo trá, bất lương, đi lừa người khác để kiếm lời. Nghĩa là… ba quânba que.

Người xưa tránh không chửi thằng ba quânba quân là quân đội của triều đình (Tam quân : Trung quân, Tả quân và Hữu quân). Ba quân được nói trại thành ba que. Tương tự như tụ tam nói trại thành tổ tôm, tam kết thành tam cúc

Nói tóm lại, thằng Ba que có gốc gác là trò cờ bạc Ba quân (bonneteau) của Pháp.

Lá cờ tam tài (ba màu xanh, trắng, đỏ) của Pháp bị gọi là cờ ba que. Cờ của bọn gian lận, tráo trở. Dùng trò cờ bạc của Pháp để chửi Pháp. Chơi chữ khá tế nhị.

(Bacouën của Hocquard có phải là Ba quân không?).

Xỏ lá

Nguyễn Khuyến muốn ” Tạ lại người cho hoa trà ” bằng câu chửi phường xỏ lá. Có lẽ vì vậy mà trong bài ” Sơn trà ” ông phải gò ép cho những hạt mưa nhỏ xuyên diệp. Mưa nhỏ làm sao đâm thủng (xuyên) được lá cây (diệp) ? Xét về nghĩa thì xuyên diệp không xấu xa, đểu cáng như phường xỏ lá của tiếng Việt. Hai bài thơ của Nguyễn Khuyến không giúp chúng ta tìm hiểu được thằng xỏ lá.

Vào khoảng năm 1945, Huỳnh Thúc Kháng viết về Cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916), có đoạn :

– Thế mà trừ một số ít – rất ít – đã hấp thụ học thuyết mới, xem cái ngôi ” bù nhìn ” đó không có giá trị gì (…).

Thường xuyên xưa nay mối lợi khiến cho người ta mờ trí khôn (lợi linh trí hôn), bọn thực dân Pháp mà các tay chính trị ” xỏ lá ” tự phụ là cao xảo cũng không khỏi vấp phải chỗ lầm to, ấy là tấn kịch ” Đày vua cha Thành Thái mà lập con là vua Duy Tân lên thay “(…). (Vương Đình Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Văn Học, 1965, tr. 173).

Huỳnh Thúc Kháng dùng kí hiệu ” nháy nháy ” để nhấn mạnh hai từ bù nhìnxỏ lá. Bù nhìn là tiếng Pháp épouvantail được Việt hoá. Do đó, có thể suy đoán rằng xỏ lá có nhiều khả năng là tiếng Pháp được Việt hoá.

Từ điển RobertLarousse của Pháp gọi tụi đáng khinh (méprisable), đáng ghê tởm (répugnant) ; bất chính (déloyal), bọn bất lương, gian dối (malhonnête) là salaud (xa lô). Thằng xỏ lá của ta có đủ mọi tính xấu của thằng salaud của Pháp.

Xỏ lá vừa có nghĩa vừa có âm của salaud. Rốt cuộc, thằng salaud sang thuộc địa kiếm chác, bị Việt hoá thành thằng xỏ lá.

Thời trước, mấy ông lính tẩy, mấy bà me tây, nói tiếng tây… như gió. Thỉnh thoảng lại đem ra khoe ” mẹc (merde), xà lù (salaud), cô xoong (cochon) “. Xà lù là em ruột xỏ lá.

Hoá ra Ba que xỏ lá là hai thằng…” người Việt, gốc Pháp “.

 

Nguyễn Dư

Wish và Hope

Mời các bạn và các em xem file video về cách dùng hai động từ: Wish và Hope do cô Valen trình bày.
Chúc các em thành công trong việc học sử dụng Tiếng Anh và rèn kỹ năng nghe. 😛 🙂

Mười Thành ngữ Tiếng Anh thông dụng

Mời các bạn và các em theo dõi bài dạy Tiếng Anh hay  qua video của cô Valen. Bài học có tên là 10 Very Common Expressions in English.

Chúc các bạn yêu thích tiếng Anh thú vị với bài học này.

.

Hương Xuân Trong Cõi Thơ Thiền

Chư pháp tùng bản lai
Thường tự tịch diệt tướng
Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng.”

(Ý Kinh Pháp Hoa)

Không gì tuyệt đẹp hơn hình ảnh của mùa xuân, khi hoa đào hoa mai hé nở, khi những mầm xanh đang e ấp chờ đợi trăng nước tháng ngày và sự chuyển giao của đất trời để vẫy vùng sự sống. Vẻ đẹp của mùa xuân đã thêu dệt nên những vần thơ rạng ngời hương sắc qua cảm hứng của kim cổ thi nhân; song song với cảnh sắc huy hoàng đó, các thi nhân cũng đã gợi lên vô vàn hình ảnh xuân thì của các cô gái nõn nà hay những mảnh tình xuân phơi phới được thì thầm trong cõi thi ca lung linh sắc màu xuân biếc. Đi vào cõi thơ xuân, bên cạnh những thinh sắc lộng lẫy của trời xuân, chúng ta có thể nhận ra sự nồng nàn, nỗi khát khao vòi või và hụt hẫng khôn nguôi của các thi nhân đối với xuân, bởi vì mùa xuân cứ đến và đi, hững hờ như nước xuôi cầu, và thi nhân thì cứ muốn lưu giữ lại bóng dáng yêu kiều thuở nao của nàng xuân vô thường đó, rồi nức nở… Vượt lên trên những khát vọng về tình sắc mong manh của xuân, các thiền sĩ đã tạo nên một cõi xuân thi với gam màu riêng biệt qua bút pháp thanh tao tiêu nhã và bằng cảm quan siêu thoát trong đời sống bọt bèo hư ảo. Cứ mỗi mùa xuân về lật từng trang thơ thiền, chúng ta có cảm tưởng như đang sống trong cõi xuân huyền nhiệm, rưng rưng đâu đây hoa vàng sắc biếc trong cuộc đời đầy giá buốt xa xăm.

Mở đầu tông phong trong cõi Thiền xuân này là bài thơ Cáo Tật Thị Chúng nổi tiếng của Thiền sư Mãn Giác (1052-1096)- vị cao tăng thời Lý. Bài thơ chỉ có vỏn vẹn ba mươi bốn chữ trong sáu câu nhưng đã bao hàm toàn bộ tư tưởng tinh hoa của Thiền học cũng như tính thể của nguồn thơ,

春去百花落  春到百花開

事逐眼前過

老從頭上來

莫謂春殘花落盡

庭前昨夜一枝梅

Nếu vẻ đẹp của Đường thi là nỗi xuyến xao vời vợi về hai nàng xuân, một trở về một biền biệt như:   

Hoa đào (vn) cưi ct gió đông
Mà nay chng thy bóng hng nơi nao”
(Nhân din bt tri hà x kh
Đào hoa y cu tiếu đông phong).(Đề Đô Thành Nam Trang-Thôi Hộ )

thì vẻ đẹp của Thiền thi trong thơ của Thiền sư Mãn Giác là linh thể bất diệt ngay trong đêm tối diệt sinh, và được phát họa sinh động qua hai câu kết bằng một cành mai vàng nở giữa đêm khuya trước khi xuân đã tàn hoa đã rụng nhưng nào ai hay biết:

Đng nói xuân tàn hoa rng hết
Đêm qua sân trưc mt cành mai.
(Mc v xuân tàn hoa lc tn
Đình tin tc d nht chi mai.)

Mặc dầu chất xuân trong Thiền thi của Thiền sư Mãn Giác không tạo ra nỗi khắc khoải mông lung nghìn đời của nhân thế hoặc không muốn gây nên cảm giác chơi vơi cho người yêu thơ, nhưng bài thơ này đã có một bước bộc phá mới và thôi thúc chúng ta đi tìm sự bí ẩn đã tạo nên vẻ đẹp thanh thoát ly kỳ về nó. Bí ẩn này có thể tạm thời được biết như là cành tâm xuân luôn hiện hữu trong dòng đời buồn tẻ phù hư.

Có thể từ âm hưởng của cành mai Mãn Giác mà các thế hệ Thiền thi Việt nam về sau đều đã tạo nên những sắc phong của cõi tâm xuân thay vì mô tả khung cảnh hữu tình của bướm hoa mây nước:   

Xuân sang hoa bưm khéo quen thì,
B
ưm ling hoa cưi vn đúng kỳ,
Nên bi
ết bưm hoa đu huyn c,
Thây hoa m
c bưm đ lòng chi.”

(Xuân lai hoa đip thin tri thì,
Hoa đi
p ưng tu tin ng kỳ,
Hoa đi
p bn lai giai th huyn,
M
c tu hoa đip vn tâm trì).(Giác Hải thiền sư)

Với tư tưởng “nhậm vận” nên các Thiền sĩ chẳng thấy xuân còn hay mất để rồi ôm ấp những hoài niệm hay mơ về một tiếng pháo xưa khi mùa xuân qua đi:

“…Năm ba ngày na tin xuân đến,
Pháo trúc nhà ai m
t tiế
ng đùng.”(Nguyễn Khuyến)

Đối với Thi nhân, sự xoay vần của mùa xuân và nỗi khát khao về nó đã bắc nhịp cho thơ giao cảm được tiếng lòng của nhân thế; nhưng một lúc nào đó nhà thơ bỗng cảm thấy ê hề với những khát ái bất tận của chính mình trước sự hữu hạn của xác thân như một nghịch lý của tâm và cảnh:

Ngán ni xuân đi, xuân li li,
M
nh tình san s tí con con.”
(Hồ Xuân Hương)

Mảnh xuân vô thường kia cứ đi đi lại lại khiến cho tình đời thêm già nua và tẻ nhạt, vì vậy nhà thơ cứ mãi ao ức níu kéo hương sắc của xuân với thời gian không bến đợi:                                      

Tôi mun tt nng đi
Cho màu đ
ng nht mt;
Tôi mu
n buc gió li
Cho h
ương đng bay đi.
”(Vội Vàng-Xuân Diệu)

Trong khi đó thiền nhân đã có được những phút giây tương ngộ với mảnh chân xuân trong thời gian vô cùng và ý thức về chiếc bóng choàng trên cái sinh thức phiêu bồng vô hạn nên đâu có sắc màu để héo úa nhạt phai:

bao thiên niên k, nhìn mây nưc
git mình, thy bóng vn không phai.. (Lãng Mạn Khúc Du Xuân-CS Liên Hoa)

Chiếc “bóng không phai” là linh thể tối thượng không nhuốm sắc màu thời gian, không bị chi phối bởi bốn mùa mưa nắng rồi cuống lên vì lo sợ ngày xuân vun vút trôi qua “mau vi ch thi gian không đng đi.” (Xuân diệu). Không vồn vã rượt bắt mùa xuân, Thiền thi phác họa nhãn quan linh động với cái nhìn thiền quán về lẽ sắc-không khi mùa xuân đến:

Tui tr chưa tưng rõ sc – không
Xuân v
hoa bưm rn tơ lòng
Chúa Xuân nay b
ta khai phá
Chi
ếu tri giưng thin, ngm cánh h
ng.”
(Niên thi
ếu hà tng liu sc, không
Nh
t Xuân tâm s bách hoa trung
Nh
ư kim khám phá Đông Hoàng din
Thi
n bn b đoàn khán try hng.) (Phật Hoàng Trần Nhân Tông)

Trên căn bản quán chiếu, thơ thiền không bị lôi kéo vào thiên kiến vui buồn thương tiếc của thế nhân với những nỗi chập chờn đơn lạnh nghìn đời của nhân thế khi ngày xuân không bao giờ trở lại như Đông Hồ đã tâm sự:

“Tưng bng hoa n thm ngày xuân
R
c r lòng cô hoa ái ân…
Cô bu
n, cô tiếc, cô ngùi ngm
Cô nh
ngày xuân nh tui thơ
. (Cô gái xuân)
Tuy nhiên một vài thi nhân tài hoa của làng thơ cũng không kém phần kiêu hãnh và ngang tàng khi ghép rượu đề thơ để tạm quên đi ngày tháng đất trời, để không còn bị câu thúc trước sự tàn nhẫn của thời gian đã làm đau thương trái tim của họ. Như Lý Bạch đã thổn thức: “Ði ch là gic mng ln, c gì mà bn lòng, cho nên ta ung rưu say lúy túy, khi tnh rưu mi hay ra xuân v, chim hót trong cành hoa, chng biết hôm nay là ngày nào, ri nhng cm xúc ct lên, ta nghiêng bình rưu trưc cnh sc huy hoàng, và hát khúc ch trăng sáng, khi khúc ca va dt thì tình cũng đã va quên.”

(X thế nhưc đi mng
H
vi lao kỳ sinh
S
dĩ chung nht túy
Ð
i nhiên nga tin doanh
Giác lai mi
n đình tin
Nh
t điu hoa gian minh
Tá v
n th hà nht?
Xuân phong ng
lưu oanh
C
m chi dc thám tc
Ð
i chi hoàn t khuynh
H
o ca đãi minh nguyt
Khúc t
n dĩ vong tình.) (Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn chí)

Tại sao những nhà thơ lớn đôi khi phải dùng đến men rượu như để thách thức và vượt qua những khổ lụy của đời thường? phải chăng trong cơn men say người ta mới cảm giác rằng trường đời là mộng mị? cho nên để đạt được tâm trạng sảng khoái này nhà thơ phải mượn bình rượu như một thú tiêu dao siêu thái trong cõi “siêu phàm nhập thánh?”  

”Thơ mt túi phm đ câu nguyt l
Rưu ba chung tiêu sái cuc yên hà.” (Nguyễn Công Trứ)

Trong cõi Thiền, vạn vật là đối tượng để cho người nhập đạo quán chiếu và trãi nghiệm; trong đời sống thường nhật cũng như trong thi ca, thiền không tạo ra những cảm giác khắc khoải chập chờn giữa mộng và thực thay vì nó điều phối sắc màu mùa xuân qua cái nhìn về thực tại một cách sinh động và hài hòa:

Trúc biếc hoa vàng đâu cnh khác
Trăng trong mây bc hin toàn chân.
(Thúy trúc hoàng hoa phi ngoi cnh
Bch vân minh nguyt l toàn chân.) (Thiền Lão Thiền Sư)

Hay

Trùng dương Cúc n dưi rào
Trên cành Oanh hót thanh tao du dàng.” (Thiền sư Viên Chiếu)

Xa hơn, thơ thiền vượt thoát yếu tố của định luật nhị nguyên được giới hạn giữa người và cảnh, giữa tâm và vật, giữa một và hai …: Sông xưa chy mãi làm đôi ng, ta biết xuân nhau có mt thì.(Cô Lái Đò-Nguyễn Bính). Thiền thi tiêu diêu trong vẻ đẹp thanh thoát của đóa xuân vô tướng mà nhà thơ đã cảm nghiệm và tương phùng trong cái nhìn vô sai biệt:

Ngưi trên lu hoa dưi sân
ưu ngi ngm khói trm xông
Hn nhiên ngưi vi hoa vô bit
Mt đóa hoa vàng cht n tung”
(Hoa ti trung đình, nhân ti lâu
Phn hương đc ta t vong ưu
Ch nhân d vt hn vô cnh
Hoa hưng qun phương xut nht đu.) (Thiền sư Huyền Quang-bản dịch của Nguyễn Lang)

Người với hoa không là hai, chỉ có sự nở tung của cành hoa hay là thực tướng nghìn đời hiển hiện trong giây phút thực tại mầu nhiệm; với lối diễn đạt này giúp cho người đọc thôi đi việc đuổi hình bắt bóng thay vì trực nhận ảo giác của chính mình trên cành xuân đó:

Hoa pháo đ thm này
Mơ xuân b kia
Đôi b đu như mng
Xuân – Thu đâu kìa? (Xuân cảm-Vĩnh Hảo)

Vì quá nao nức nên thi nhân không thể nhận diện được mùa xuân hiện hữu ngay tại đây trong phút giây hiện tại và không thể sống trọn vẹn ngay cả trong cuộc mộng du của chính mình:

Vì say sưa quá nên tôi đã
Đem đ hn xuân xung sui h! (Xuân-Nguyễn Bính)

Mùa xuân trong thơ thiền không có pha chế những sắc màu man mác, thương sầu lẫn lộn để thôi miên người đọc cùng thổn thức nhịp đập chung của trái tim nhân thế hoặc “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,” nhưng nó vẽ nên một phong thái dung nhiếp thực tại giữa người và cảnh hay đúng hơn là bản chất “tuỳ duyên” trong bối cảnh không-thời gian khác biệt: xuân nương du thảo địa, hạ hưởng lạc hạ kỳ…” Với điểm nhắm vào thực tại, Thiền thi dù vô tình hay cố ý cũng đã quên đi sắc màu thời gian quá khứ:

Sng ngày nay biết ngày nay
Còn Xuân Thu trưc ai hay làm gì!
n tri kim nht nguyt
Thùy thc cu Xuân Thu.) (Thiền Lão Thiền Sư)

Vì theo nhãn quan của thiền, quá khứ hay tương lai đều nằm trong khoảnh khắc ý thức; cuộc đời khác gì giấc mộng Trang Sinh, cho nên ý niệm về thời gian xa và gần trước hay sau cũng chỉ là ảo tưởng phủ choàng ảo tưởng; cho nên tự nghìn đời xuân chẳng có gì xa xôi cả:

“Ta gi xuân v, xuân bưm bay
Trang Sinh nm mng biết bao ngày
Thi gian dù có nghìn năm na
Xuân đến lâu ri ai có hay.(Gọi Xuân Về-Huyền Không)

Hay nói theo cách của thi sĩ Bùi Giáng:

Thưa rng ly bit mai sau
Là trùng ng gia hươ
ng màu Nguyên Xuân.”(Chào Nguyên Xuân)

Với lập trường “phản bổn hoàn nguyên” và tư tưởng lạc quan, các Thiền sĩ đã thổi chất xuân vào hồn thi ca Việt Nam một cách siêu thái. Ý niệm về bản thể tuyệt đối được lồng trên sắc màu xuân cảnh và tạo nên sự hài hòa giữa chủ thể và đối tượng qua nội dung và cấu trúc của mạch thơ. Chu du trong cõi thơ thiền, người mới vừa nhập môn có cảm thái bàng hoàng như chợt nghe tiếng pháo xuân nổ vang giữa mộng và thực, giữa tỉnh và say, nhưng sau phút giây ngơ ngác đó không ai không một lần ước ao tương ngộ cảnh giới bí huyền với lãng đãng đâu đây cành mai nở vàng trong đêm tối khi xuân đã âm thầm hờ hững ra đi.

.

Thích nữ Tịnh Quang

Chùa Huê Lam, Garden Grove 2011

( Thư viện Hoa Sen)

Tiếng Việt thời thượng

Nói đến tiếng Việt thời thượng, chúng ta có thể hình dung hay nhớ đến nhiều cụm từ lạ tai bao gồm cả những tiếng lóng hay ngôn ngữ mạng được ưa thích và sử dụng rộng rãi trong những tầng lớp xã hội khác nhau. Tỷ như khi vào ăn trong một quán mì gõ chúng ta nghe tiếng gọi:

– Cho 2 cái hầm, 2 bộ hài cốt nghen…
– Thêm “2 xị vô sinh” nữa…
– Chài, trời nóng mà mần vô sinh chi? cho 2 cái “bật nắp là thấy” đi…

Hoặc ngôn ngữ trên một lá thư của 2 học trò teen đang chuyền tay nhau trong giờ học.

“H. à, nhớ su súp ghia mà nghè mơi có ktra, hem đi đc, star life mình “khổ hơn cún” á. Ừ, bi h cóa ai bỉu mình not learn hén, chắc mình sướng die granma lun hén mày. Eh, hn mày nhận đc tn của B. k? Hwa nó vừa bị broke ktra đó. Thấy tía rồi, thôi stop 8, tao xách đik dzìa nhà học thoai, chớ hông là bài nì “dzục cho cún ăn” đóa, tao chưa có chữ nào trong não hết, b h cóa nhét iốt dzô não cũng cóc dzô”.

Nhắc đến những tiếng lóng lạ lùng như trên là nhắc đến một thế giới ngôn ngữ đầy bí ẩn cần phải có giải mã nên tôi định chỉ thu hẹp bài viết này trong phạm vi những tiếng Việt thời thượng có xuất xứ hay liên quan tới những ngôn ngữ khác như Pháp hay Anh chẳng hạn.

Như chúng ta đã thấy, Anh ngữ ngày nay được xem như một sinh ngữ quốc tế được nhiều người sử dụng và giảng dạy như một ngôn ngữ thứ hai trong nhiều quốc gia trên thế giới. Việc sử dụng Anh ngữ như một ngôn ngữ chung cho toàn cầu ngày càng tăng trưởng và đã trở thành một tiện ích. Nó mang lại sự cảm thông trong sinh hoạt toàn cầu không những trong các lãnh vực thông tin, truyền thông, liên mạng mà cả ở những lãnh vực giáo dục, kinh tế, thương mại, nghiên cứu, âm nhạc, du lịch, cũng như các hoạt động tôn giáo, chính trị hay văn hóa khác.

Trong nền kinh tế thị trường, Việt Nam là một nước mới phát triển. Các nước tiên tiến mang tài chánh và nhân lực vào Việt Nam để đầu tư nên nhu cầu học và hiểu tiếng Anh như một nhịp cầu thông cảm cần thiết hơn bao giờ. Thêm nữa, vì phải mở cửa ngành du lịch, Việt Nam cần phải nói và viết Anh Ngữ thông thạo, ngỏ hầu phục vụ tinh thần giao tiếp cho thật hữu hiệu. Để chạy cho kịp bánh xe tiến hoá toàn cầu, Việt Nam đã du nhập tiếng Anh vào nước như một nhu cầu thiết yếu. Sự ưa chuộng và sử dụng tiếng Anh cho nhuần nhuyễn của người Việt như một hấp lực mạnh mẽ đưa đến một việc lạm dụng không thể tránh. Hậu quả là nhiều thứ tiếng Anh-Việt thời thượng lai tạp ra đời.

Người Việt trong thói quen ứng xử rất thích dùng phương pháp tiện và lợi. Tiếng Việt là tiếng đơn âm tiết không như tiếng Anh là tiếng đa âm tiết nên muốn tạo từ mới phương pháp ghép chữ là một phương pháp khả thi. Do đó chúng ta hay ghép tắt các từ vào với nhau, như “điều nghiên” là từ ghép của “điều tranghiên cứu”. Để tân tiến hơn, tiếng Anh được mang vào ngôn ngữ hàng ngày và bỗng nhiên những từ lắp ghép Anh Việt trở thành thông dụng . Nhất là giới trẻ, việc học và dùng tiếng Anh đã biến thành phong trào. Khắp nước đi tới đâu ta cũng thấy thứ tiếng Việt pha tạp mà Việt kiều hay dùng, gọi là tiếng ba rọi. Trong công sở, ngoài xã hội, trên truyền hình, các trang mạng, face book hay blog, đâu đâu cũng có.

Những từ như: show hàng, áo chip hai màu xì-tin, quần xì cực cute, quần sock ngắn, chip ukie, điện thoại Bikini, hot teen múa cột, hot boy nói gì, tiệm bánh snack, slogan thể hiện, đang hot, top tuần..v..v.. đầy rẫy trên báo chí và các trang mạng.

Sự phát triển tiếng Anh quá nhanh mang đến việc nhiều người sử dụng ngoại ngữ một cách cẩu thả mà không nghiên cứu cũng như học hỏi đến nơi đến chốn. Nhưng thái độ dễ dãi và xuề xoà đi tới chấp nhận của người Việt trước những sai lầm đôi khi biến những thứ tiếng Việt thời thượng kỳ dị ấy dùng lâu thành tiếng Việt thực thụ.

Tỷ như chữ Mô-đen mà chúng ta dùng đã lâu nhưng dùng sai ngữ pháp nguyên thủy mà không biết.

Chữ Mô-đen nguyên thủy từ chữ Modèle phát âm trại đi theo tiếng Pháp là Mô-đen. Modèle có nghĩa là: mẫu mã, mẫu mực, gương mẫu hay mô hình, vật mẫu. Trong tiếng Anh, người ta dùng chữ Model cho nghĩa này. Nhưng khi nói tới nghĩa mới và thời trang thì người Pháp dùng chữ Mode, tiếng Anh là Fashion, trong khi tiếng Việt ta lại dùng chữ Mô-đen cho hai nghĩa này.

Những chữ Modèle, Moderne và chữ Mode có âm giọng giông giống nhau. Người Việt chúng ta chắc khó phân biệt, dùng lâu thành nếp nên phân biệt chi cho mệt, tiện thì dùng luôn, thế là mô-đen được sử dụng với nghĩa thời thượng hay hiện đại trong khi tiếng Pháp phải dùng chữ Moderne hay Modern trong tiếng Anh.

Rốt cuộc, Mô-đen bị Việt hoá với đủ các nghĩa như mẫu mã, mẫu mực, gương mẫu, mô hình, vật mẫu, mới, thời trang, thời thượng hay hiện đại. Ngạc nhiên hơn, một từ mới sau này phát sinh từ chữ Mô-đen và có một nghĩa khác biệt chẳng dính dấp gì tới cái nghĩa xưa cũ từ lúc nó sơ sinh là từ “Kết Mô-đen” lạ hoắc.

Đây là những ví dụ điển hình trong sự lạm dụng từ Mô-đen:

Nó có nghĩa rất mới, rất tân tiến, đúng thời trang, thời thượng như: “Cực kỳ mô-đen”. Hoặc ngược lại “Lạc quẻ với mô-đen bùng nhùng”. Từ này còn ám chỉ một mẫu hàng “Mô-đen 3100”. Nó còn là tiếng gọi một người mẫu, “Thin nít sờ Mô đen (teenist model)”. Hay là “mô đen sống mình ên”, không gì “vắt vai” đang là môđen của nhiều người trẻ thành đạt, Môđen bây giờ là đi “tàu nhanh”, mô đen Hàn Quốc, mô đen wằn wại. Ghế ngồi chờ xe buýt quá “mô-đen”, Các bạn ơi con gái thời nay mô đen lắm đó, thời trang ý ẹ: Mô-đen dây và rây, Tóc “mô đen” – Nhìn và thấy Mô đen bây giờ là tóc càng dựng càng đẹp.

Và nó còn được dùng cả trong lãnh vực tình cảm như “Tin tức, Trần Kiều Ân kết mô-đen Lam Chính Long”.

Người Việt đã tỏ ra ứng xử ngôn ngữ rất nhanh nhạy trước giai đoạn đổi mới khi đối đầu với lượng ngoại ngữ quá lớn từ bên ngoài ồ ạt đổ vào. Chưa bao giờ tiếng Việt phát triển cực độ như bây giờ. Kho tàng từ vựng của ngôn ngữ Việt Nam ngày một dồi dào thêm và du nhập về những “tiếng lạ” do nhu cầu giao tiếp cùng người ngoại quốc. Hàng ngày chúng ta thấy nhan nhản việc dịch sai, nói sai, dùng sai ngữ pháp khiến sự việc trở thành một trò cười được lưu hành khắp nơi trên mạng thông tin. Chính thói quen thích sử dụng tùy tiện, lại thích tỏ ra chúng ta có óc sáng tạo nên nhiều từ vựng được sinh ra nghe rất ngô nghê và không đúng ngữ pháp nguyên thủy của những từ được vay mượn.

Có lần tôi đọc được thực đơn những thức giải khát của một nhà hàng ở Hà Nội. Họ bán một thứ nước uống gọi là Milk Sex. Tôi ngạc nhiên, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới đoán ra là có lẽ họ bán thứ nước uống giống sinh tố bên Mỹ gọi là Milk Shake làm bằng sữa. Vì khi người Mỹ phát âm Shake, họ nghe không rõ nên tưởng lầm là Sex, rồi tỏ ra sáng tạo hơn sao không gọi là Milk Sex. Thế là thứ nước uống rất Việt Nam gọi là Milk Sex ra đời!!!

Học tiếng nước người không những chúng ta học từ vựng, ngữ pháp, cách đặt câu, cách viết bài mà chúng ta còn học cả văn hoá của ngôn ngữ đó nữa.

Trong việc chuyển ngữ, dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã khó, dịch từ tiếng Việt sang Anh còn khó hơn. Nó đòi hỏi người thông dịch phải thật giỏi cả hai ngôn ngữ mà còn cần có kinh nghiệm sống dồi dào trên đất nước của hai ngôn ngữ được sử dụng để hiểu cách dùng cho nhuần nhuyễn.

Do đó vì kém ngoại ngữ mà trong một thực đơn của nhà hàng ở Vịnh Hạ Long món Mực nướng được dịch ra tiếng Anh là ink baked thay vì baked squid mới đúng. Tuy con squidink (mực) nhưng con squid (con mực) không được gọi là con ink. Và chữ động từ nướng bake phải có thêm ed để thay đổi thành tiếng tính từ và đứng trước danh từ squid để thành baked squid.

Một nơi khác không ngần ngại dịch phăng món Ốc thành Screw!!! tức là cái đinh ốc thay vì dùng chữ Snail. Và nước đá là Water stone, hi light viết thành Hair light, Fast food viết thành fat food hay fast foot, welcome viết thành wellcome, cua dịch sai thành crap thay vì crab. Sai một ly đi một dặm chữ crap trong tiếng lóng có nghĩa là “cứt “.

Việc dịch sai một vài thực đơn trong nhà hàng có thể đem lại vài trận cười tiếu lâm cho người đọc. Nhưng nó biến thành hỏng trầm trọng khi một nhóm chuyển ngữ gồm các bác sĩ, sinh viên, nghệ sĩ có tên là BSP Entertainment (TPHCM) tung ra một CD gồm 10 bài hát với tên gọi “Tình ca 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội”. nhân đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Tặng phẩm này dành cho chương trình “Những tấm lòng với Thăng Long – Hà Nội” là công trình dịch thuật những bài hát viết về Hà Nội nổi tiếng được dịch ra tiếng Anh.

Dịch ca từ không phải là việc dễ, dịch từ tiếng Việt sang Anh còn khó hơn. Nó đòi hỏi một kiến thức Việt và ngoại ngữ lưu loát mà còn phải biết rành âm nhạc cũng như am hiểu đặc tính thơ ca trong ca từ. Không biết vì kém tiếng Anh, thời gian thực hiện lại gấp gáp hay sao mà nhóm BSP đã tung ra một sản phẩm dịch thuật thiếu chuyên nghiệp, kém chất lượng, tồi tệ đến nỗi một bài viết trên báo Lao Động phải kêu lên ca từ trong CD này đã bị chuyển ngữ một cách vô cùng cẩu thả, thô thiển” (xin xem các link về những bài báo này dưới mục Tài liệu tham khảo).

Bài báo còn dẫn ra những câu dịch sai:

“Hanoi’s this season… absent the rains. The first cold of winter make your towel’s gently in the wind. Flower stop falling, you inside me after class on Co Ngu street in our step slowly return…” – đây chính là phần chuyển ngữ của ca khúc “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” (Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa/ Cái rét đầu đông khăn em bay hiu hiu gió lạnh/ Hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp/ Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về).

Xin trích ý kiến của một số bạn đọc trên mạng sau khi đọc bài báo: Bạn đọc lang doan viết: “Sau khi đọc được lời dịch qua tiếng Anh (Mỹ), tôi phải bật cười vì cách dịch cứ như người mới học sinh ngữ được 2-3 lớp sơ đẳng, hoặc chưa hề tập viết văn chương bằng tiếng Anh. Từ cú pháp, ẩn dụ thật tối nghĩa cho tới văn phạm đều sai. Cho nên, nếu dịch cẩu thả là không thể chấp nhận, vì như vậy là coi thường thính giả trong và ngoài nước, đồng thời thiếu tôn trọng văn hoá Việt. Không những thế, người ta sẽ đánh giá trình độ văn hoá của cả nước khi những tác phẩm này được quảng bá đại diện cho văn hoá VN. Lấy thí dụ nhỏ, cái “khăn” để đội đầu hay cuốn quanh cổ mà dịch thành “Towel” (khăn tắm, khăn rửa mặt, khăn lau xe) thì hết ý kiến!”.

Trớ trêu hơn, bạn Nhựt Hồng phát hiện: “You inside me after class” theo nghĩa Mỹ có nghĩa là… “anh và em quan hệ tình dục sau lớp học” chứ chẳng phải “em bên tôi một chiều tan lớp”.

Không chỉ dừng ở việc “tàn sát” các ca từ trong ca khúc “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa”, kiểu dịch “từ đối từ” sai về cú pháp, ngữ pháp tiếp tục được lặp đi lặp lại trong các ca khúc nổi tiếng về Hà Nội khác như: “Có phải em mùa thu Hà Nội?” (Are you the autumn in Hanoi?): “August autumn, did leaf fall come yellow. Since you’ve been gone, I miss you silent” – (phải hiểu là: Tháng tám mùa thu, lá rơi vàng chưa nhỉ. Từ độ người đi, thương nhớ âm thầm) hay “One day return, I visit sad Thanglong” (cần hiểu là: Một ngày về xuôi, chân ghé Thăng Long buồn). Còn trong bài “Hà Nội niềm tin và hy vọng” có đoạn “Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô, nghe tiếng cười không quên niềm thương đau” được chuyển ngữ thành “The windy road immense the doorway, hear the laugh but don’t forget the pain”.

Bây giờ nếu đem phân tích những lỗi lầm dịch thuật đã phạm trong những ca khúc này, chúng ta cần phải học bao nhiêu bài học, viết bao nhiêu bài phân tích về Anh ngữ cho đủ. Nên tôi xin miễn bàn thêm. Chỉ có điều đáng tiếc và đáng buồn không phải ở chỗ khả năng người dịch kém, ca sĩ phát âm không đúng mà ở chỗ sản phẩm kém vẫn được quảng cáo và truyền thông đến người tiêu dùng. Bài quảng cáo “Chắp cánh cho ca khúc Việt bay xa” được đăng trên trang web chính thống của Bộ VHTTDL, trang web của Uỷ ban Người VN ở nước ngoài TPHCM, và những trang thông tin kết nối với bạn bè quốc tế, người Việt xa xứ. Điều này cho thấy cơ quan chức năng cũng tệ không thua gì sản phẩm!!!

Việc toàn cầu hoá ngôn ngữ trong việc dùng tiếng Anh đã mang lại nhiều tiện ích cho Việt Nam. Nó giải quyết được nhiều lúng túng trong việc thiếu từ vựng trong nhu cầu tạo từ mới trong các lãnh vực, kỹ thuật, tin học, kinh tế, y khoa, chính trị, khoa học cũng như văn hoá. Do đó sự ưa thích được gọi là sính dùng tiếng Anh đã lan nhanh như cơn sóng lớn có ảnh hưởng chiều ngang đến ngôn ngữ mẹ đẻ của người Việt và dần dà ăn sâu đến văn hoá theo chiều dọc của bản chất dân tộc Việt. Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực. Việc sử dụng sai phạm, kém hiểu biết, thiếu chuyên nghiệp, cẩu thả sẽ biến thành trò cười cho người ngoài và những người thông hiểu tiếng Anh. Mà trên đà toàn cầu hoá, trên thế giới đã có khoảng trên dưới 500 triệu người đang sử dụng tiếng Anh như là một quốc ngữ, và khoảng phân nửa dân số thế giới dùng Anh ngữ như là một ngôn ngữ thứ hai.

Còn một nguy cơ nữa chúng ta cần lưu ý là đừng để mất bản sắc dân tộc khi đắm chìm trong việc chạy theo lực cuốn hút của tiếng Anh. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn lại và dừng lại sự say mê lạm dụng tiếng Anh trong đời sống hàng ngày. Đừng để một ngày nào đó nhìn lại một trang viết hay trong một câu nói của một học sinh chỉ còn lõm bõm hai ba chữ quốc ngữ, phần còn lại chỉ toàn là tiếng Anh. Lúc đó chúng ta sẽ đánh mất luôn cái hồn nước cuối cùng của dân tộc.

.

Tài Liệu tham khảo

Thảm hoạ ca từ nhạc Việt
http://www.laodong.com.vn/Tin-Tuc/Tham-hoa-ca-tu-nhac-Viet/15619

Chắp cánh cho ca khúc Việt bay xa
http://www.cinet.gov.vn/ArticleDetail.aspx?rnd=10&newsid=53050&rid=140&zoneid=73&page=7

Ha Noi’s this season absent the rain- video clip http://vqhn.wordpress.com/2010/10/02/ha-nois-this-season-absent-the-rain/

Đặc sản tiếng Việt
http://us.24h.com.vn/cuoi-24h/anh-vui-dac-san-tieng-viet-9-c70a272414.html

 

Trịnh Thanh Thủy

 

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: