• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 900 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 900 other followers

Một ngày của người đàn ông quyền lực nhất thế giới

Ông chủ Nhà Trắng là người có lịch làm việc căng thẳng bậc nhất thế giới, với các cuộc họp, hội đàm, phỏng vấn và những trang tài liệu trong 24 giờ.
Tiếp tục đọc

Nơi an táng các nhân vật nổi tiếng thế giới

Những lăng mộ uy nghiêm, bề thế là nơi an nghỉ cuối cùng của nhiều nhân vật lịch s
1.Cyrus Đại đế (600 TCN-530 TCN)
 - 1

Bức Tranh Đạo Tặc – Bandito

 

Ngày xửa ngày xưa, có 1 họa sĩ trẻ, không có tiếng tăm, sống trong 1 căn phòng chật hẹp, cũ kỷ, chuyên đi vẽ chân dung cho người khác kiếm sống qua ngày.


           Một ngày nọ, có 1 nhà phú hộ, thấy những bức tranh của chàng họa sĩ trẻ rất sống động, nên đến nhờ chàng vẽ cho 1 bức chân dung. Đôi bên đồng ý với giá là 10000 đồng.

Tiếp tục đọc

10 vị tướng vĩ đại nhất lịch sử thế giới

Mời các bạn và các em đọc bài và  bình chọn cho các danh tướng của quê hương Việt Nam  chúng ta là Hưng Đạo VươngVõ Nguyên Giáp. ( cuối bài)

Lịch sử nhân loại từ cổ đến kim có nhiều vị tướng tài giỏi xuất chúng. Với thiên tài quân sự của mình, họ có thể làm thay đổi cả trật tự thế giới. Xin giới thiệu mười danh tướng tiêu biểu sau đây:

Tiếp tục đọc

Những Điều Thú Vị về Thomas Edison

Chẳng cần phải đi đâu xa, quanh chỗ bạn đang ngồi chắc chắn có vài thứ do Thomas Alva Edison phát minh hoặc cải tiến. Trong 84 năm của cuộc đời mình, nhà phát minh vĩ đại này sở hữu tổng cộng 1.093 bằng sáng chế mang tên ông.

https://i2.wp.com/www.giupconhoc.com/wp-content/uploads/2012/04/images6.jpgThomas Alva Edison (11 tháng 2 năm 1847 – 18 tháng 10 năm 1931)

   Ngay cả trẻ nhỏ cũng biết rằng bóng đèn điện là phát minh của Thomas Edison, nhưng một số sự thật về cuộc đời nhà phát minh vĩ đại này mà không phải ai cũng biết. Bạn có biết Ông chính là người đưa ra ý tưởng dùng xi-măng để xây nhà, làm đồ nội thất, tủ lạnh và thậm chí là cả đàn piano?

Phát minh của ông nổi tiếng nhất là bóng đèn điện. Ngoài ra còn có máy quay đĩa, nhiều hệ thống điện, máy chiếu phim, máy điện báo, máy ghi âm… 

  Nhân kỷ niệm ngày sinh của Thomas Edison (11/2/1847), trang Neatorama đã tổng hợp10 sự thật thú vị về nhà phát minh vĩ đại nhất mọi thời đại này: 

Quan Niệm của Danh Nhân Thế Giới về Ăn Chay – Video Nấu Ăn Chay

Trần Anh Kiệt tập hợp các ý kiến của một số danh nhân về ăn chay

https://i1.wp.com/www.daophatngaynay.com/vn/files/images/2010/quy3/vh__rau1_435139770.jpg

Tiếp tục đọc

Năm Vị Tam Nguyên Trong Lịch Sử Khoa Cử Lịch Triều Việt Nam – Trần Bích San, TS. Trần Gia Thái

Trong suốt 845 năm khoa cử lịch triều, kể từ  khoa thi đầu tiên Minh Kinh Bác Học mở ra năm Ất Mão 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông tới khoa thi cuối cùng năm mậu ngọ 1918 ở Trung Kỳ, chỉ có 5 người được vinh dự mang danh hiệu Tam Nguyên tức đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội và Đình.  Đó là các vị Đào Sư Tích, Lê Quí Đôn, Trần Bích San, Nguyễn Khuyến và Vũ Phạm Hàm. 

Tiếp tục đọc

“Việt Nam có hai trong 10 nữ tướng vĩ đại nhất TG”

(Kienthuc.net.vn) – Những nữ tướng vĩ đại được miêu tả là các chiến binh tuyệt vời, nhà lãnh đạo tài ba trong lịch sử nhân loại. Đồng thời, họ cũng trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho những nghiên cứu văn học, lịch sử, văn hóa dân gian, thần thoại và phim ảnh.

Dưới đây là 10 nữ tướng vĩ đại nhất được vinh danh trong lịch sử:

Tiếp tục đọc

Bách Khoa Thư Những Người Cứng Đầu

Chương trình  Mỗi Ngày Một Cuốn Sách trên VTV1

Bách Khoa Thư Những Người Cứng Đầu, Kẻ Phản Kháng, Nhà Cách Mạng ( 25 danh nhân )

Tiếp tục đọc

Hai bài học kinh điển của các tỷ phú Mỹ

Napoleon Hill (Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1883 – mất ngày 8 tháng 11 năm 1970) là một tác giả người Mỹ, một trong những người sáng lập nên một thể loại văn học hiện đại đó là môn “thành công học” (là khoa học về sự thành công của cá nhân). Tác phẩm được cho là nổi tiếng nhất của ông có tên “Suy nghĩ và làm giàu” (Think and Grow Rich) là một trong những cuốn sách bán chạy nhất mọi thời đại.
Tiếp tục đọc

Xin gửi tới Ngài Eiffel – Trần Long Vân

Ngày 10-10-1889, khi tới thăm Tháp Eiffel, nhà phát minh trứ danh người Mỹ Thomas Edison đã viết vào sổ vàng lưu niệm ở đây những lời lẽ trân trọng đến mức tưởng như không còn gì đáng trân trọng hơn:

Xin gửi tới Ngài Eiffel, Công Trình Sư dũng cảm đã xây dựng nên mô hình khổng lồ và kỳ diệu của công nghệ hiện đại,
lòng kính trọng và sự ngưỡng mộ cao nhất của tôi dành cho tất cả các kỹ sư (đã tham gia xây dựng Tháp),
bao gồm Ngài Kỹ Sư Vĩ Đại.
Vị Chúa Tốt Lành,
Ký tên: Thomas Edison.
Sự trân trọng tột cùng đó hoàn toàn xứng đáng với một con người không chỉ tạo ra một Tháp Eiffel huyền thoại, mà còn là đồng tác giả của Tượng Nữ Thần tự Do bất hủ ở Mỹ, và là tác giả của hàng chục công trình sắt thép khổng lồ nổi tiếng khác trên khắp thế giới, trong đó có Cầu Long Biên ở Hànội, Cầu Tràng Tiền ở Huế và Kết Cấu Nhà Bưu Điện Sàigòn.

Gậy ông đập lưng ông

Mời các bạn cùng xem các vĩ nhân đã triệt hạ đối thủ mình như thế nào nhé.

Tiếp tục đọc

Những nguyên thủ quốc gia nổi tiếng từng học tại Oxford

Oxford là cái nôi đào tạo nhân tài nổi tiếng thế giới, nơi đã cho “ra lò” những sinh viên xuất sắc mà sau này trở thành người đứng đầu của một quốc gia, như Cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher, Cố Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi, Thủ tướng Anh David Cameron…

Tọa lạc tại thành phố Oxford (Anh), Viện Đại học Oxford là viện đại học cổ nhất trong các nước nói tiếng Anh, đồng thời cũng là một trong những trường đại học danh tiếng nhất thế giới. Đã có 48 cựu sinh viên, giáo sư giảng dạy tại trường này từng được trao giải Nobel.

Tiếp tục đọc

Nguyễn Trãi ( Nguyễn Tấn Ái )

Huyết làm mực, tâm làm nghiên, tinh hoa chưng cất nghìn năm nên Bình Ngô sách

Chỉ để dùng mười năm thôi ư?

Phút xuất thần nào nên thiên Đại cáo*

Mà nổi oan khiên mà dậy oán thù?

Tiếp tục đọc

Bill Gates, J.K Rowling, mẹ Teresa nói gì với Harvard?

Để kỉ niệm 375 năm thành lập, bài phát biểu của những người nổi tiếng thế giới sẽ được phát lại trên sân trường Harvard trong một chương trình có tên Tiếng nói Harvard.

Những bài phát biểu của Bill Gates, nhà văn J.K. Rowling (tác giả của Harry Potter), tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt, thủ tướng Anh Winston Churchill, tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, mẹ Teresa Calcutta hay của mục sư Martin Luther King được phát từ 10 giờ sáng đến 10 giờ tối tại sân trường Havard trong 10 ngày (7/10 đến 16/10/2011).

Steve Jobs : Trích dẫn nổi tiếng và Triết lý sống (Túy Phượng)

Đoạn trích dẫn nỗi tiếng của Steve Jobs 

“Không một ai muốn chết.  Kể cả những người muốn lên thiên đường cũng không muốn chết để được lên đó.  Thế nhưng chết là một điểm đến mà tất cả chúng ta đều phải đến.  Không một ai thoát khỏi.  Và có lẽ nên là như thế, bởi lẽ Chết là một sáng tạo hay nhất của Sự Sống.  Chết là tác nhân chuyển đổi của Sự Sống.  Nó dọn sạch cái cũ để dọn đường cho cái mới.  Ngay bây giờ cái mới là bạn, nhưng một ngày nào đó rất gần, bạn sẽ từ từ trở thành cái cũ và sẽ được đào thải bỏ đi.  Xin lỗi có vẻ bi quan quá sức, nhưng đó là sự thật. Tiếp tục đọc

10 Việc Làm Cứu Cả Thế Giới Của Bill Gates

Từng là người giàu có nhất thế giới, nhà sáng lập Microsoft đã cùng vợ cho đi hàng tỷ USD để góp phần cứu giúp hàng triệu người trên toàn thế giới.

Phải cảm ơn những công việc Bill Gates đang làm với quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates, khi ông cho đi hàng tỷ USD của mình để chống lại sự lây lan của dịch bệnh và phát triển nguồn lương thực cho những người cần thiết nhất trên thế giới. Theo Business Insider, dưới đây là 10 dự án ấn tượng nhất từ quỹ từ thiện của Bill Gates.

10 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nhân loại

Đã bao giờ bạn tự hỏi, Newton và Darwin, ai có tầm ảnh hưởng tới lịch sử nhân loại hơn ai. Chúa Jesus và Đức Phật, người nào làm thay đổi thế giới nhiều hơn. Sau đây là danh sách 10 nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nhân loại, theo thứ tự từ 1 (ảnh hưởng nhất) đến 10 (ít ảnh hưởng hơn), được liệt kê trong công trình The 100: A Ranking of the Most Influential Persons in History do Michael H. Hart xuất bản năm 1992. Tiếp tục đọc

Sir Gustave Eiffel – “Ngài kỹ sư vĩ đại”

Ngày 10-10-1889, khi tới thăm Tháp Eiffel, nhà phát minh trứ danh người Mỹ Thomas Edison đã viết vào sổ vàng lưu niệm ở đây những lời lẽ trân trọng đến mức tưởng như không còn gì đáng trân trọng hơn: Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam- Việt Nam

Quảng Nam Vĩ Nam Sơn-Tẩu Vi Chủ:  Đỗ Đăng Tuyển

Làng Ô Gia, là nột trong những thôn xã thuộc phạm vi huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam, được khai sinh giữa hai dòng thuỷ lưu sông Thu Bồn và sông Vu Gia . Phong cảnh địa lý thôn trang rất hữu tình, trải dài dưới bóng Trường Sơn hùng vĩ với những cánh đồng ruộng lúa bạt ngàn, những nương dâu, rẫy bắp thẳng cánh cò bay bao la bát ngát. Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam – Việt Nam

Nhà cách mạng phong trào Duy Tân: Lê Ðình Dương
(1894-1919)

Đông dương Y SĨ LÊ ĐÌNH DƯƠNG, tuổi giáp Ngọ, sanh năm 1894 tại chánh quán làng Đông Mỹ (Na Kham), tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi, Phù Kỳ), huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thứ nam của cụ Đông Các Đại Học Sĩ, Binh Bộ Thượng Thơ, Hà An Tổng Đốc Lê Đình Đỉnh (Triều Tự Đức) và Cụ bà kế thất Chánh Phẩm Phu nhân PHAN THỊ HIỆU . Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam – Việt Nam

Thi sĩ và Danh Tướng : Đặng Dung

Đầu bạc giang san thù chửa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.

Tiểu Sử: Danh tướng Đặng Dung, sinh không rõ mất năm 1413. Ông người Nghệ An nhưng theo gia đình vào lập nghiệp tại vùng đất nay thuộc tỉnh Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông cùng Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy rước Trần Quý Khoách về Nghệ An lập lên vua Trùng Quang quyết liệt kháng Minh. Năm 1413 ông cùng vua Trùng Quang bị bắt giải về Tàu, nửa đường ông trầm mình tự tử. Ngoài gương anh hùng tiết liệt, Đặng Dung còn được xem như một nhà thơ lớn của dân tộc mặc dù ông chỉ để lại một ít bài thơ, trong đó có bài Cảm Hoài nỗi tiếng. Sau đây là một bài viết phân tích bài thơ Cảm Hoài của ông. Tiếp tục đọc

Nơi yên nghỉ của nhà thơ Hàn Mặc Tử

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NQH

Bùi Phương chuyển bài

 

Danh Nhân Việt Nam – Quảng Nam

LÊ CƠ

Lê Cơ sinh năm 1859 ở làng Phú Lâm, huyện Lễ Dương (nay là xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước, Quảng Nam) trong một gia đình trung nông. Do gia đình khá giả nên ông được ăn học chu đáo, nhưng vì sống ở vùng quê nên chỉ học đến trường Ba, từ đó ông không đi thi tú tài, chỉ ở làng làm nông. Đầu thế kỷ XX, tư tưởng dân chủ, dân quyền ở các nước Nhật, Trung Quốc và Châu Âu thâm nhập vào giới sĩ phu Việt Nam. Năm 1903, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp khởi xướng cuộc vận động Duy Tân, lúc này tại làng Phú Lâm, Lê Cơ ra nhận chức lý trưởng, ông suy nghĩ “Túng bất năng hành chi thiên hạ, do khả nghiệm chi nhất hương (Nếu không làm được việc lớn cho thiên hạ thì cũng làm những việc đúng trong một làng).” Tiếp tục đọc

Danh nhân Quảng Nam-Việt Nam

Châu Thượng Văn (1856-1908)

Châu Thượng Văn hiệu Thơ Đồng, người làng Minh Hương (Hội An). Tổ tiên ba đời của ông là người Trung Hoa, trung thành với nhà Minh, không chịu sống dưới chính quyền Mãn Thanh, đã vượt biển sang Việt Nam, được chúa Nguyễn cho cư ngụ ở Hội An, Quảng Nam. Nhờ hưởng tổ phụ, gia cư ông vào hạng giàu có.  Tiếp tục đọc

Danh nhân Quảng Nam-Việt Nam (Túy Phượng)

Trần Quý Cáp sinh năm 1870, tự Dã Hàng, Thích Phu, hiệu là Thái Xuyên. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Thái La, làng Bát Nhị, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nay là thôn Nhị dinh1, xã Điện phước, huyện Điện bàn, tỉnh Quảng Nam. Lúc tuổi trẻ, ông đã nổi tiếng là một trong sáu học trò lỗi lạc của cụ Đốc học Mã sơn Trần Đình Phong tại trường Thanh Chiêm cùng với Phạm Liệu, Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, và Phan Quang. Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam – Việt Nam (Kỳ 3)

                                                                                Hoàng Diệu

Hoàng Diệu (1829 – 1882) là một quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882, khi ông làm Tổng đốc Hà Ninh – Hà Nội và Ninh Hải (Hải Phòng). Tiếp tục đọc

Danh nhân Quảng Nam-Việt Nam – Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng trước có tên là Hanh, hiệu là Minh Viên, biệt hiệu là Sử Bình Tử (1876-1947). Tiếp tục đọc

Cổ tích về Cây Anh Đào (Trịnh Nguyên Khoa)

Khi Geogre Washington khoảng 6 tuổi, cậu đã làm chủ một chiếc rìu nhỏ, cũng giống những đứa trẻ khác, cậu cực kì yêu thích nó. Một ngày nọ, khi cậu đang thơ thẩn trong khu vườn, vui thích chặt những cây que trồng đậu của mẹ, cậu thấy một cây anh đào xinh xắn và nhỏ bé giống cây của Anh quốc, cái cây mà ba cậu quý nhất. Cậu thử gõ cái rìu vào thân cây và vạt vỏ để cho cây chết. Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam – Việt Nam ( Túy Phượng)

Xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển, Quảng Nam – với ý nghĩa là vùng đất rộng lớn về phương Nam – được hình thành từ khá sớm và được biết đến là “đất văn hóa”, “đất khoa bảng”, “đất địa linh nhân kiệt” nơi đã sản sinh ra biết bao nhiêu tài danh, hào kiệt cho đất nước Việt Nam. Không những thế, nói đến Quảng Nam là nói đến mảnh đất “trung dũng kiên cường”, giàu lòng yêu nước và truyền thống cách mạng đã sinh dưỡng những danh nhân kiệt xuất. Nếu bạn đã từng xem bia đá ghi tên các vị khoa bảng trong các khoa thi của triều đình nhà Nguyễn thì chắc hẳn cũng thấy rằng Quảng Nam chiếm một số lượng rất đông, đa số trong đó ở phủ Điện Bàn – bởi vậy mới có những danh hiệu “Ngũ Phụng Tề Phi”, “Ngũ Hổ”, “Tứ Kiệt” ra đời. Tiếp tục đọc

36 giai thoại về Nguyễn Công Trứ (phần I)

Nguyễn Công Trứ

VanVn.Net – Lời người biên soạn: Về Nguyễn Công Trứ có rất nhiều giai thoại. Trong số 81 câu chuyện vừa kịp sưu tầm trong dịp này, chúng tôi xin chọn lọc biên soạn lại để đưa vào tập sách 36 giai thoại tiêu biểu, với mong muốn dựng lên một chân dung Nguyễn Công Trứ qua cái nhìn “dân gian” – từ góc độ khác với những lí giải, nghiên cứu hàn lâm – của hậu thế về con người của cụ Thượng Uy Viễn.

 1. NGÔNG NGAY TỪ LÚC CHÀO ĐỜI… CHO ĐẾN TẬN KHI CHẾT!

Ngày mồng Một tháng Mười một năm Mậu Tuất (1778), tại tư gia của viên quan Tri huyện Quỳnh Côi, Thái Bình, bà huyện họ Nguyễn, sau cuộc vượt cạn kinh hoàng đã sinh hạ được một cậu con trai thân dài, trán rộng, mũi cao.

Các cụ xưa nói “Trai mồng một, gái ngày rằm” quả không sai – vừa mới lọt ra khỏi lòng mẹ, cậu bé đã tỏ ngay sự ngông bướng của mình bằng cách không chịu mở mắt nhòm và không thèm mở miệng khóc như những đứa trẻ sơ sinh khác. Người nhà và hàng xóm đưa hết nồi đồng, mâm thau đến khua gõ liên hồi, cậu cũng điềm nhiên mặc! Chỉ đến khi cả đám người lớn đã mỏi rã rời, xuôi tay lắc đầu thì cậu mới dõng dạc cất tiếng khóc đầu tiên oang oang như tiếng chuông đồng! Tiếp tục đọc

Những người phụ nữ Trung Trinh Tiết Liệt Việt Nam

Việt Nam chúng ta trải qua 4000 năm lịch sử và đã sinh ra không biết bao nhiêu người tài giỏi về mọi mặt.  Và trong số đó không thể thiếu các phụ nữ Trung Trinh Tiết Liệt đã làm nổi bật vị thế người phụ nữ Việt Nam trên thế giới và nhân loại.

Dưới đây là một số phụ nữ đã để lại hình ảnh người phụ nữ tiết liệt của dân tộc VN trong công cuộc lập nước và giữ nước.

Âu Cơ

.

Quốc Mẫu Âu Cơ (Khoảng 2800 Tr.TL)

Theo truyền thuyết, khoảng gần 5000 năm trước, bà Âu Cơ dòng dõi tiên. kết duyên cùng vua Lạc Long dòng dõi rồng, sinh được 100 con trai là con rồng cháu tiên. Về sau, 50 con theo Cha Lạc Long xuống biển, 50 con theo Mẹ Âu Cơ lên núi, đi về phương nam lập ra nước Văn Lang, do người con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương, truyền được 18 đời . Người Việt Nam tôn vinh bà Âu Cơ là Quốc Mẫu. Trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, người Việt Nam đều nhớ đến ơn Quốc Mẫu Âu Cơ.

Trưng Vương (40-43)

Năm 40 thời Bắc thuộc, Thái Thú Tô Định bắt giết ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc, và đàn áp dân Lạc Việt. Vì nợ nước thù nhà, bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi dậy đánh đuổi Tô Định, đoạt 65 thành và 4 Quận, lên làm vua xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Triều đại Trưng Vương tuy chỉ ngắn ngủi 3 năm, nhưng đã chứng tỏ tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt, và mở đầu cho nền độc lập nước nhà. Hiện nay có nhiều đền thờ Hai Bà Trưng, và ngày lễ hội kỷ niệm hàng năm vào mồng 6 tháng hai âm lịch.

Công Chúa Hoàng Thiều Hoa (Danh tướng thời Trưng Vương)

Bà Hoàng Thiều Hoa người huyện Gia Hưng, tỉnh Thanh Hoá (có sách chép là tỉnh Sơn Tây ngày nay). Không rõ năm sinh, năm mất. Bà là một nữ tướng tài giỏi của Hai Bà Trưng, giữ nhiệm vụ huấn luyện đoàn Nương tử quân. Khi Hai Bà Trưng đánh đuổi xong giặc Hán đô hộ, lên ngôi vua, đã phong tước cho bà là Thiều Hoa Công Chúa. Hiện nay đền thờ Công Chúa Thiều Hoa ở làng Hiếu Quan, huyện Tam Nông. Hàng năm lễ hội kỷ niệm vào các ngày 12, 13 tháng giêng âm lịch.

Lê Chân (Danh tướng thời Trưng Vương)

Lê Chân là nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng, người làng An Biên, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương. Không rõ năm sinh năm mất. Trong các trận đánh đuổi giặc Hán đô hộ, bà Lê Chân thường giữ chức tiên phong và nổi tiếng dũng cảm. Khi Hai Bà Trưng lên ngôi, đã giao việc Quốc phòng cho bà Lê Chân và phong làm Thánh Chân công chúa. Bà là người sáng chế ra môn thể thao “đánh phết” rất vui (vui ra phết). Các vua đời sau đều có sắc phong bà làm Thượng đẳng phúc thần công chúa. Hiện nay, đền thờ bà Lê Chân tại làng Mai Động (Hà Nội). Lễ hội kỷ niệm vào các ngày 4, 5 và 6 tháng giêng âm lịch, thường có tổ chức thi đấu vật và đánh phết.

Bà Triệu (225-248)

Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa năm 248, chống lại quân Đông Ngô cai trị tàn ác. Bà rất can đảm, thường nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì làm thiếp người ta”.
Ra trận, Bà Triệu cưỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong, khiến quân Ngô phải khiếp sợ. Nghĩa quân tôn bà là Nhụy Kiều tướng quân. Bà Triệu đã anh dũng hy sinh năm 23 tuổi.Hiện nay có đền thờ Bà Triệu trên núi Gai (núi Ải), làng Phú Điền (Thanh Hóa), và lễ hội kỷ niệm vào ngày 21 tháng 2 âm lịch hàng năm.

Thái Hậu Dương Vân Nga (942-1000)

Dương Hậu là chánh cung Hoàng hậu của vua Đinh Tiên Hoàng, húy là Dương Vân Nga. Khi vua Đinh bi tên Đỗ Thích đầu độc chết, con là Đinh Tuệ lên nối ngôi, bà trở thành Thái Hậu nhiếp chính.
Nhà Tống nghe tin Đinh Tiên Hoàng mất, tự quân Đinh Tuệ còn nhỏ, nên đem quân sang xâm chiếm nước ta. Trước tình thế nguy cấp, Phạm Cự Lượng cùng một số tướng lãnh đã tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên ngôi để lo chống ngoại xâm. Thái Hậu Dương Vân Nga biểu đồng tình và sau đó trở thành chánh cung Hoàng Hậu của vua Lê Đại Hành. Nhờ tính cương nghị và thông hiểu tình thế, yên vị được triều chính, Dương Hậu đã giúp vua Lê đánh tan quân Tống. Hiện nay, tượng và đền thờ Dương Hậu tại đền vua Lê Đại Hành, ở làng Trường Yên (Ninh Bình), và lễ hội kỷ niệm cùng vào ngày kỷ niệm vua Đinh và vua Lê, 10 tháng 3 âm lịch (lễ hội Trường Yên).

Ỷ Lan Nguyên Phi (?-1117)

Tên thật là Lê Thị Ỷ Lan, xuất thân từ gia đình nông dân, người làng Thổ Lỗi, Bắc Ninh. Tương truyền bà đứng tựa gốc lan trong khi mọi người trong làng nô nức ra xem đoàn xa giá của vua Lý Thánh Tông đi qua. Nhà vua cảm sắc đẹp và thái độ dửng dưng lạ lùng của bà, bèn tuyển về cung làm Ỷ Lan (dựa gốc lan) phu nhân. Sau bà sinh ra vua Lý Nhân Tông và trở thành Hoàng thái hậu.
Thái Hậu Ỷ Lan đã giúp vua Lý Thánh Tông tạm thời nhiếp chính, trị nướùc kết quả tốt đẹp khi vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Bà cũng có lòng cứu giúp những người con gái nhà nghèo phải đi ở đợ, nên dân chúng thời bấy giờ xưng tụng bà là “Quan Âm”. Thái Hậu Ỷ Lan mất ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117) (Không rõ ngày sinh).

Công Chúa Huyền Trân (cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14)

Trần Thị Huyền Trân là con gái vua Trần Nhân Tông, em gái vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314). Không rõ ngày sinh ngày mất. Năm Bính Ngọ (1306), vua Trần Anh Tông nhận gả Huyền Trân cho vua Chiêm Chế Mân. Để đáp lễ, vua Chiêm dâng tặng Đại Việt 2 châu Ô và Lý. Huyền Trân về Chiêm được phong làm Hoàng Hậu. Hơn 1 năm sau, Chế Mân chết, theo tục lệ Chiêm Thành, Huyền Trân phải lên giàn hỏa. Vua Anh Tông sai tướng Trần Khắc Chung sang cứu. Tương truyền Trần Khắc Chung là người tình cũ của Công chúa Huyền Trân, do đó đã tạo nên một câu truyện tình lâm ly bi thiết trong sử Việt.
Dù bị phê phán về nhiều mặt, do sự kỳ thị chủng tộc và nền giáo lý Khổng Mạnh khắt khe, công chúa Huyền Trân vẫn được dân chúng Việt Nam biết ơn về sự việc nàng mang về cho nước Đại Việt hai châu Ô Lý, mở đầu cho cuộc Nam tiến sau này.

Công Chúa An Tư (thời vua Trần Nhân Tông)

Bà là con gái út vua Trần Thánh Tông, em gái vua Trần Nhân Tông (1279-1293), không rõ năm sinh năm mất. Tháng 2 năm Ất dậu (1285), Thoát Hoan xâm lăng đánh thắng nhiều nơi, đồng thời có một số vương hầu nhà Trần hàng giặc. Để ngăn chặn bớt tính hung hãn của giặc, vua Trần Nhân Tông đã sai Trần Dương và Đào Kiện đưa quốc muội là công chúa An Tư gả cho Thoát Hoan.
Ngoài chiến trường, dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Đại Vương, quân dân nước Nam cương quyết đánh giặc, trong khi đó dưới trướng Thoát Hoan, công chúa An Tư phải âm thầm nuốt nhục, hy sinh đời xuân sắc để trì hoãn sức giặc. Sự hy sinh của công chúa An Tư đã đóng góp phần nào cho cuộc chiến thắng quân Nguyên Mông dưới triều Trần, thế kỷ thứ ba.

Nguyễn Thị Bích Châu (Thời vua Trần Duệ Tông)

Bà là phi hậu triều vua Trần Duệ Tông ( trị vì 1372-1377), không rõ năm sinh năm mất. Trước đó khoảng 20 năm, cuối đời vua Trần Dụ Tông (trị vì 1341-1369), vì chính triều đổ nát, dân chúng lầm than, ông Chu Văn An đã dâng “Thất Trảm Sớ” đòi chém bẩy quyền thần gian nịnh. Bà phi hậu Bích Châu tuy là phận gái ở trong cung, cũng đã noi theo được tấm gương bất khuất của thầy Chu, can đảm dâng lên vua Duệ Tông bài “Kê Minh thập sách”, để cứu nguy xã tắc. Trong 10 điều (thập sách), có các điểm mạnh như sau: “Một là trừ kẻ bạo”, “Hai là tránh việc phiền nhiễu”, “Ba là trừ mọt nước”, “Bốn là đuổi bọn những lại”.
Bà Nguyễn Thị Bích Châu chỉ là một cung nhân m “dám nói ra những sự thối nát của chế độ giữa thời phong kiến toàn thịnh, kể thật can đảm và đáng khen lắm thay. (Phạm Văn Sơn – Việt Sử Tân Biên)

Lương Minh Nguyệt (Thời Lê Lợi kháng Minh)

Bà là vợ Đinh Liệt (?-1471) (danh tướng của Bình Định Vương Lê Lợi), người làng Chuế Cầu, tỉnh Nam Định, có nhan sắc và giỏi nghề ca hát Ả đào. Trong thời gian Lê Lợi kháng Minh, bà đã mở quán rượu nổi tiếng ở gần thành Cổ Lộng (Đông Đô tức Thăng Long), cốt ý dò la tin giặc, giúp kháng chiến. Trong một cuộc tấn công thành Cổ Lộng, bà Minh Nguyệt đã cùng các cô gái tiếp viên phục rượu một số tướng Minh say mèm, và làm ám hiệu để quân Lam Sơn dưới quyền chỉ huy của tướng Lê Thạch chiếm được thành.
Sau, Đinh Liệt được phong tước Quốc công, mang họ nhà vua (họ Lê), và bà là Nhất Phẩm Phu nhân. Các vua đời sau đều có sắc phong vợ chồng bà là Phúc thần. Theo tài liệu của Giáo Sư Trần Gia Phụng, bà Lương Thị Huệ có lẽ là một tên khác của bà Lương Minh Nguyệt (?), hiện có đền thờ tại huyện Thọ Xương và dân chúng còn gọi bà là Ngọc Kiều Phu nhân.

Vũ Thị Thiết tức Thiếu Phụ Nam Xương (Đời Lê Thánh tông)

Bà quê huyện Nam Xương (Hà Nam), là vợ chàng Trương, mới có thai thì chồng được gọi đi lính thú phương xa. Đứa bé trai sinh ra không biết mặt cha. Mỗi tối bà thường chỉ bóng mình trên vách mà dạy con chào hỏi cha trước khi đi ngủ. Ít lâu sau chàng Trương trở về, đứa bé thấy xa lạ và nói bố nó chỉ về lúc đêm tối. Chàng Trương nghi ngờ vợ ngoại tình, nên đã mắng nhiếc đuổi đi. Bà Thiết bị oan ức, lai không biết biện bạch ra sao, bèn nhẩy xuống sông Hoàng Giang (địa phận Nam Xương) tự tận. Đến tối thắp đèn lên, đứa bé mới chỉ bóng chàng Trương trên vách và nói rằng bố nó đã về. Chàng Trương lúc đó mới hiểu ra, nhưng đã trễ. Dân chúng biết chuyện người đàn bà tiết nghĩa chết oan, bèn lập miếu thờ. Vua Lê Thánh tông (1460-1497) tuần thú đi qua miếu, đã làm một bài thơ vịnh rất nổi tiếng, được khắc vào bia đá năm 1471, và truyền tụng đến ngày nay.

Công chúa Ngọc Hân (1770-1799)

Công Chúa Lê Thị Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông. Năm 16 tuổi, công chúa kết duyên với vị anh hùng Nguyễn Huệ, người có công diệt Trịnh Phù Lê và đánh đuổi quân xâm lăng Xiêm La và Mãn Thanh. Bà Ngọc Hân vừa xinh đẹp, lại có tài văn học, được Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ phong làm Bắc cung Hoàng Hậu. Khi vua Quang Trung đột ngột băng hà, bà rất buồn, đã sáng tác các bài “Văn tế vua Quang Trung” và “Ai Tư Vãn”, đóng góp cho kho tàng văn học Việt Nam những áng thơ hay và cảm động.

Công chúa Ngọc Vạn (thế kỷ 17)

Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Vạn là con của Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Nguyễn Đàng trong từ 1613-1635). Năm 1620, công chúa Ngọc Vạn kết hôn với vua Chân Lạp (Cambodia), và trở thành Hoàng Hậu vương quốc Chân Lạp, thủ đô lúc đó là Udong. Những tùy tùng của công chúa Ngọc Vạn đều được giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Chân Lạp. Năm 1623, Sãi Vương sai sứ bộ đến Udong, xin cho người Việt được định cư ở vùng Sài gòn ngày nay, và được buôn bán, mở khu dinh điền. Nhờ sự vận động của Hoàng Hậu Ngọc Vạn, các đề nghị của chúa Nguyễn đều được vua Chân Lạp chấp thuận.
Công chúa Ngọc Vạn đã có công mở đường cho người Việt trong cuộc Nam tiến xuống đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng giang sơn như ngày nay.

Nữ Tướng Bùi thị Xuân (?-1802)

Bà là nữ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn, vợ danh tướng Trần Quang Diệu, quê tỉnh Bình Định. Trong các chiến trận của nhà Tây Sơn, vợ chồng bà đều lập được nhiều chiến công oanh liệt.
Năm 1802 vua Gia Long thắng trận, bà bị hành hình bằng voi giày. Theo giáo sĩ La Bissache`re có mặt tại hiện trường, bà Bùi Thị Xuân rất can đảm, đã lấy vải quấn chặt người cho khỏi lộ liễu và đứng thẳng người trước mặt voi khiến voi phải sợ hãi lùi lại.
Bà Bùi Thị Xuân đã đóng góp công lao với nhà Tây Sơn trong các cuộc chinh chiến, nhất là nhàTây Sơn đã dứt được họ Trịnh ở miền Bắc và dẹp tan các cuộc xâm lăng của Xiêm La và Mãn Thanh, nên Bà chiếm được nhiều cảm tình của dân chúng Việt Nam.

Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1746)

Bà sinh năm 1705, người tỉnh Bắc Ninh, rất giỏi văn thơ, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ. Năm 16 tuổi, bà được tiến cung làm phi tần, nhưng sau đó bà xin về, rồi làm chức giáo thụ ở cung cấm. Bà đã phải trải qua nhiều năm loạn lạc, sau kết hôn với tiến sĩ Nguyễn Kiều, người huyện Từ Liêm.
Bà đã sáng tác “Tục Truyền Kỳ” hay “Truyền Kỳ Tân Phả” bằng chữ Nho và dịch “Chinh Phụ ngâm khúc” bản chữ Hán của Đặng Trần Côn.
Khúc ngâm Chinh phụ bằng chữ nôm (quốc ngữ) theo thể th “song thất lục bát” đã diễn tả được tâm tình người phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh, vừa buồn lo khi chồng chinh chiến phương xa, vừa phải thay chồng gánh vác công việc gia đình, dạy dỗ con thơ, vừa phải lo giữ gìn phẩm hạnh.
Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm mất ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (1746).

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1780-1820)

Bà Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ 19, có tài văn thơ cả về chữ Nôm lẫn chữ Hán, con ông Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Thơ Nôm của bà thường chua chát, châm biếm và khinh mạn mọi giới. Thơ Hán của bà tuy cũng mang vẻ buồn, nhưng lại rất chừng mực và chứa chan tình cảm. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là thi sĩ Việt Nam duy nhất có tên trong “Từ Điển Văn Nhân Larousse”.
* Theo “Những câu chuyện Việt Sử” – Trần Gia Phụng

Bà Huyện Thanh Quan (Đầu thế kỷ 19)
Bà tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm (Hà Đông), lấy ông Cử Lưu Nghị (1804-1847) là Tri Huyện Thanh Quan ( nên thường gọi bà là bà Huyện Thanh Quan). Chồng bà mất năm 43 tuổi, bà vẫn ở vậy nuôi con. Triều vua Minh Mạng, bà được mời làm Cung Trung giáo tập, dạy cung phi và công chúa trong cung.
Thơ bà Huyện Thanh Quan nổi tiếng thanh tao, trang nhã, ý nhị và điêu luyện, nghe man mác nỗi buồn hoài cổ, nhớ nước nhớ nhà như các bài “Qua Đèo Ngang Tức Cảnh”, “Thăng Long Hoài Cổ”, “Chiều Hôm Nhớ Nhà”.

Thái Hậu Từ Dũ (1810-1902)

Tên húy là Phạm Thị Hằng, người tỉnh Gia Định. Bà là con gái Quốc Công Phạm Đăng Hưng, được tiến cung năm 14 tuổi và trở thành quí phi của vua Thiệu Trị. Bà sinh ra vua Tự Đức nên trở thành Tháí Hậu, hiệu Từ Dũ Bát Huệ Thái hoàng Thái hậu.
Theo Sử Gia Trần Trọng Kim, Thái Hậu Từ Dũ “thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng”. Đến đời vua Thành Thái, Bà được dâng tôn hiệu là Từ Dũ Bát Huệ Khương Thọ Thái thái hoàng thái hậu.
Thái Hậu Từ Dũ là người quyền cao đức trọng thời nhà Nguyễn, đa nêu tấm gương tốt về đức hạnh cho hậu thế. Bà mất ngày 5 tháng 4 Nhâm Dần, thọ 92 tuổi.

Bà Tú Xương (cuối thế kỷ 19)

Bà họ Phạm, người tỉnh Hải Dương, là hiền thê nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương (1869-1907) tức Tú Xương. Bà là người mẹ hiền tiêu biểu cho những bà mẹ quê Việt Nam chỉ biết một đời tận tụy cho chồng, cho con, không nề hà gì đến chính bản thân mình, đúng như lời thơ của Tú Xương đã diễn tả:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông”
“Nuôi-nấng năm con với một chồng”
“Lặn-lội thân cò khi quãng vắng”
“Eo-sèo mặt nước, buổi đò đông”
Bà Tú Xương quả đúng là một Hiền phụ Việt Nam.

Bà Sương Nguyệt Anh (1863-1921)

Bà Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Khuê, sinh ngày 24 tháng 12 năm Quí Hợi (1863) tại Gia Định, con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu tức Đồ Chiểu. Bà có nhan sắc xinh đẹp, lại có tài văn chương, đoan trang, tiết hạnh, nhưng lập gia đình trễ. Trên 25 tuổi bà mới kết hôn, sinh được một gái thì chồng chết. Bà ở vậy nuôi con, vui với thơ văn, lấy bút hiệu là Sương Nguyệt Anh (nghĩa là người sương phụ, thủ tiết thờ chồng). Bà viết
“Gương tỏ đời nay trong tiết phụ”
“Lâu dài tiếng tốt tạc tạc non sông”
Bà rất hay chữ, giỏi thơ, nổi danh ở miền Nam, và làm chủ bút tuần báo “Nữ Giới Chung” Sài Gòn, là tuần báo đầu tiên ở nước ta. Bà Sương Nguyệt Anh mất ngày 12 tháng 11 âm lịch (4 tháng 1 năm 1921), hưởng dương 58 tuổi.
(Theo tài liệu của Lãng Nhân trong “Hương Sắc Quê Mình”, và tài liệu của Hồ Trường An – Giai Phẩm Sương Nguyệt Anh – 2002)
Bà Sương Nguyệt Anh tấm gương tiết hạnh (Tranh Bé Ký)

Bà Ba Đề Thám (cuối thế kỷ 19)

Bà tên thật là Đặng Thị Nhu (còn có tên là Đặng Thị Nho tức Bà Ba Cẩn), vợ thứ ba của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám (Đề Thám). Bà là một nữ tướng rất can trường, cùng sát cách với chồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại Yên Thế cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ngày 1-2-1909, bà và con gái là Hoàng Thị Thế bị Pháp bắt và đầy đi Guyanne thuộc Pháp ở Nam Mỹ. Tương truyền, trên đường lưu đầy bà Ba Đề Thám đã nhẩy xuống biển tự tận, noi gương bất khuất của Bà Trưng Bà Triệu.

Bà Phan Bội Châu (1866-1936)
Bà tên thật là Thái Thị Huyên vợ nhà Cách Mạng yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940), người làng Diên Lân, tỉnh Nghệ An. Bà làm dâu nhà họ Phan năm 23 tuổi, đã hết lòng giữ trọn đạo dâu hiền. Chồng thi đỗ Giải Nguyên, bà vẫn giữ nếp nhà, sống đời bình dị, lo cho chồng cho con. Chồng bà xuất dương cứu nước hơn 20 năm, bà vẫn giữ lòng chung thủy, vò võ nuôi con. Khi ông Phan Bội Châu bị bắt về nước năm 1925, bà được gặp mặt chồng nửa tiếng đồng hồ tại Nghệ An rồi lại xa cách cho đến lúc mãn phần. Trong mấy lời chia tay, bà đã nói: “Vợ chồng ly biệt nhau hơn 20 năm, nay được một lần giáp mặt Thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây trở về sau, chỉ mong Thầy giữ được lòng xưa”.
Bà Phan Bội Châu là tấm gương sáng của người Phụ Nữ Việt Nam, một lòng trung trinh tiết hạnh, thờ chồng nuôi con, giúp cho chồng con giữ vững tinh thần trên bước đường dấn thân cứu nước. Hiền Phụ Thái Thị Huyên mất ngày 1 tháng 4 âm lịch (21-5-1936), thọ 70 tuổi.

Bà Lê Thị Đàn (Ấu Triệu) (Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20)

‘Người tỉnh Thừa Thiên, hoạt động tích cực trong Duy tân hội tại Huế, được Phan Bội Châu đặt biệt danh là “Ấu Triệu” tức “Triệu nhỏ” (ý so sánh với bà Triệu lớn tức bà Triệu Thị Trinh). Bà phụ trách liên lạc, chuyển vận thư từ, tiền bạc cho những nhà hoạt động cách mạng khắp các nơi ở Trung phần. Năm 1910, bị Pháp bắt, bà tự tử trong tù tại Quảng Trị’ (Trần Gia Phụng – Những câu chuyện Việt sử).

Thánh Mẫu Liễu Hạnh (thế kỷ 16)

Là nhân vật thần thoại, được người đời sùng bái, xưng tụng là Liễu Hạnh Công chúa hay Thánh mẫu đền Sòng (Sòng Sơn, Thanh Hóa).
Theo Truyền thuyết, Liễu Hạnh Công chúa chính là Công chúa Quỳnh Nương trên Thiên Đình, bị giáng xuống trần làm con gái một vị quan triều Hậu Lê, mang tên là Lê Thị Giáng Tiên, quê làng Vân Cát, huyện Vân Cát (Phủ Giầy), Nam Định. Giáng Tiên rất xinh đẹp, giỏi thơ văn, đàn sáo và soạn nhiều bài hát rất hay, kết duyên với Đào Lang năm 18 tuổi. Được 3 năm, Giáng Tiên đã đột ngột từ trần, trở về thượng giới. Nhưng vì chưa hết hạn đi đầy, Giáng Tiên lại giáng xuống trần, đổi tên là Liễu Hạnh cùng với hai ngọc nữ Quế Nương và Thị Nương. Ba người hiện xuống một làng ở Thanh Hoá, đi khắp các nơi cứu nhân độ thế và nhiều lần hiển linh cứu giúp dân lành, hoặc làm thơ xướng hoạ với các danh sĩ thời đó.
Sau khi trở về trời, Bà Liễu Hạnh được dân chúng suy tôn là Mẫu Nghi thiên hạ, và được vua Lê sắc phong là Thượng Đẳng tối linh thần. Dân chúng lập đền thờ tại những nơi bà đã đi qua như Phủ Giầy ở Nam Định. Đền Sòng ở Thanh Hóa và Tây Hồ ở Thăng Long. Lễ hội từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch.

Nàng Tô Thị

Nàng Tô Thị là tên một hiền phụ trong truyền thuyết, lai lịch có thể xuất phát từ tỉnh Lạng Sơn, theo câu ca dao:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa”
“Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”
Đồng Đăng là một thị trấn sát biên giới Hoa Việt thông qua cửa ải Nam Quan , nơi trấn đóng của lính thú đời xưa lo gìn giữ biên cương. Phố Kỳ Lừa có chợ Kỳ Lừa, đọc trại từ tiếng Thổ “háng Khau-lừ” có nghĩa là “chợ đồi con lừa” là nơi sinh hoạt, buôn bán sầm uất của xứ Lạng thời bấy giờ. Động Tam Thanh là một hang động đẹp nổi tiếng ở Lạng Sơn, trong đó có một ngôi chùa cổ. Trên hòn núi đá gần khu động Tam Thanh có một tảng đá thiên nhiên nhô ra, chênh vênh trông giống như hình tượng một thiếu phụ đứng nhìn về phía biên cương, mòn mỏi chờ chồng chinh chiến trở về: Người ta gọi đó là nàng Tô Thị, đứng chờ chồng lâu ngày đã hoá thành đá. Cũng có truyền thuyết cho rằng “đó là người con gái họ Tô, bồng con đợi chồng lâu ngày đến nỗi hóa đá, thành hòn núi Vọng Phu” (Trần Gia Phụng – Những Câu Chuyện Việt Sử).
Nàng Tô Thị chính là hình ảnh của người phụ nữ trung trinh, những hiền phụ Việt Nam, luôn luôn giữ lòng chung thủy, là nguồn an ủi của những người lính thú xa nhà, đồng thời cũng là hình ảnh những chinh phụ vô danh Việt Nam, lo toan việc nhà, thờ mẹ nuôi con trong khi chồng chinh chiến phương xa.

Nguyễn Thị Bắc (?-1930)

Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang là hai chị em ruột, quê ở Bắc Giang, tục gọi là Cô Bắc, Cô Giang, đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, chi bộ Bắc Giang. Cô Bắc cùng với Cô Giang làm liên lạc và tuyên truyền, hoạt động rất tích cực. Năm 1930, sau khi cuôc khởi nghĩa Yên Bái do Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học lãnh đạo bị thất bại, Cô Bắc bị Pháp bắt và đưa ra xét xử trước Hội đồng đề hình Pháp. Cô đã hiên ngang chỉ trích chế độ Thực dân Pháp tại Đông Dương và nói: “Các ông hãy về Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d’Arc đi” (Jeanne d’Arc là một nữ anh hùng Pháp), khiến người Pháp phải kiêng nể tinh thần bất khuất của người Phụ nữ Việt Nam.

Nguyễn Thị Giang (?-1930)

Cô Giang là vị hôn thê của lãnh tụ Nguyễn Thái Học, Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cô là một đảng viên rất đắc lực, đã cùng với cô Bắc hoat động tuyên truyền liên lạc giữa các cơ sở đảng ở Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Vĩnh Yên. Năm 1929, Cô Giang gặp Nguyễn Thái Học và hai người cùng chí hướng đã yêu nhau.
Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học và 12 đồng đội bị Pháp đưa lên máy chém ở Yên Bái, Cô Giang đã đến tận pháp trường để chứng kiến cái chết anh dũng của người yêu và 12 đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau đó Cô về nhà trọ viết thư tuyệt mệnh gửi song thân và gửi hương hồn Nguyễn Thái Học, trong dó có câu: “Anh đã là người yêu nước, không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước. Anh giữ lấy linh hồn cao cả để về dưới suối vàng chiêu binh rèn súng đánh đuổi quân thù.” Cô Giang còn làm một bài thơ lục bát, tỏ rõ ý chí hy sinh vì nước, sau đó đã dùng súng lục tự tử để bảo toàn danh tiết.

Trước khí tiết hiên ngang bất khuất của Cô giang và Cô Bắc, người đời sau ai ai cũng ngậm ngùi thương tiếc.

Túy-Phượng sưu tầm

Bát đẩu chi tài

Xưa khi còn nhỏ bé ngô nghê tôi đã từng thích lắm những giai thoại về Cao Bá Quát, nào mỉa tao đàn, nào lỡm Tự Đức…chuyện nào chuyện nấy rõ khéo tạc một họ Cao càn rỡ cậy tài ngông cuồng xuất tính, thú ơi là thú! Một vài cái truyện làm lưng vốn đủ để sai lũ bạn chăn trâu làm tay làm chân cho mình để lão đây rỗi rãi mà hề hà kể chuyện cho nghe!

Khoái nhất là câu Quát ngạo: Chữ nghĩa trong thiên hạ có bốn bồ thì riêng ta chiếm hai bồ, anh ta (Bá Đạt) và bạn ta gom một bồ, còn một bồ thì chia đều trong thiên hạ!

Ấy là chuyện khi xưa ta bé. Rồi lớn lên, nghiệp thi thư như là vốn dĩ, là vẽ tiếp một hành trình vốn manh nha từ hồi chăn trâu cắt cỏ; và cũng như nhiên rằng thần tượng thưở ấu thơ hãy cứ là bóng hình tiền nhân tôi dõi theo ngưỡng mộ. Duy khác hơn một điều: Ngưỡng mộ và cung kính.

Là một thi nhân lấy cho mình tự hiệu Cúc Đường ( nhà của người quân tử), Mẫn Hiên ( hiên nhà ưu tư), một tiền nhân rất biết sửa mình!

Là một con người tự khiêm tự biết mình lắm. Khi đọc tập thơ “yên đài anh ngữ” của Bùi Ngọc Quỹ, Cao Bá Quát tự nhắc mình chỉ là “sâu đo nọ những đòi đo thế giới”.

Là người cha rất mực yêu con, đêm nằm mộng thấy con gái (đã mất) mà nước mắt dầm dề (mộng vong nữ)

Là vị quân sư khi về dưới cờ nghĩa Lê Duy Cự đã đề lên cờ soái một chữ “nhân” tỏ cái lòng vì dân mà hưng quân điếu phạt.

Tôi ngờ ngợ, vẫn là bậc tiền nhân mà tôi tôn thờ kính ngưỡng, mà nay sao khác xưa nhiều quá!

Không là một tài năng lỗi lạc chỉ phẫn hận sinh bất phùng thời mà “càn rỡ cậy tài ngông cuồng xuất tính”. Vậy tiếng chẳng lành cho hạnh ấy từ đâu? Lại dò về cái án tru di, mới hay lời kết án ấy là từ Cao Bá Nhạ, cháu gọi Cao Bá Quát bằng chú, cũng là nhà thơ danh tiếng bấy giờ, khi tù tội, đã trần tình với vua Tự Đức mà nặng tay kết án chú mình!

Sinh tử quan đầu, có lẽ cũng nên nhẹ tay trong vòng khuyên điểm về phẩm hạnh của Cao Bá Nhạ. Song cũng cần tỉnh táo tránh nhẹ dạ dễ tin lời sàm mà hoen ố phẩm hạnh của Cao Chu Thần.

Riêng cái án “bốn bồ chữ” thì loay hoay lần dò, giờ tôi mới hiểu.

Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quí Đôn, thiên Văn nghệ có chép:

“Văn chương hay tuyệt được người ta gọi là Bát đẩu chi tài (tài được tám đấu)

Lời này vốn của Tạ Linh Vận. Vận thường nói: “Tài hoa trong thiên hạ cộng chung được một thạch (một thạch có mười đấu). Tử Kiến(tức Tào Thực, con trai Tào Tháo, một nhân vật chính trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, người viết chú thích) riêng chiếm tám đấu, tôi được một đấu, những người khác thì chia nhau một đấu”.

Từ đây mà suy ra, người trong thiên hạ xưa thường dùng khái niệm “đấu” để đong “tài”. Rủi xui sao lại vận đúng vào Cao Bá Quát.

Từ đôi chút tìm tòi của mình về phẩm hạnh của Cao Chu Thần, tôi quyết Cao danh sĩ chẳng hạ mình mà tự khen mình lố đến thế đâu, vậy sự tình do đâu?

Tạm gửi một giả thuyết: Một bạn tri âm nào vì yêu Quát mà tâm sự cùng bạn văn, rồi người này truyền tai người khác, đến truyền khẩu trong dân gian chăng?

Hay vì Cao sống cùng thời với vua Tự Đức, một vị vua nổi tiếng hay chữ, thường được các văn nhân nịnh bợ mà tán tụng, Tự Đức trái lại, rất phục tài Cao, đến nõi ban lời khen tặng:

“Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

Thơ đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường”

Ghen với lời ban tặng ấy mà những người cùng thời cố tình đơm đặt để chuyện đến tai vua, hòng ra đòn âm hiểm độc với Quát chăng?

Song nhát dao trí mạng đã ra rồi, chỉ tiếc người đời sau ngễnh ngãng cứ tin là thật!

Tôi trước mộ tài, sau càng phục đức của một nhân cách văn nhân tầm cỡ, nên khôn nguôi canh cánh, nên mạo muội gửi đôi lời chia sẻ, không dám làm trạng sư vụng, kẻo chốn miên viễn thời gian danh sĩ Cao Chu Thần lại ngậm ngùi, lại tự thán: Chốn nhân gian lại thêm một thằng lầm lỗi!

.

Tháng giêng Tân Mão

Nguyễn Tấn Ái

Đến Buenos Aires nhảy tango với Evita

Buenos Aires, Argentina, người ta vẫn còn rất ngưỡng mộ và kính trọng Evita Peron. Bà đã mang báu vật của Argentina phân phát cho người nghèo và mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ nước này. Đến thăm Buenos Aires, thế nào bạn cũng gặp Evita ở mọi góc phố, kể cả khi… nhảy tango.

Tango với người Argentina cũng giống như bánh mì baquette đối với người Pháp. Người ta không thể tưởng tượng được đất nước Nam Mỹ này mà không có điệu nhảy tango nóng bỏng.

 

1030
Montevideo, một trong những trung tâm của tango

 

1030 2
Tango không thể thiếu trong cuộc sống của người Argentina

Họ gặp nhau năm 1944 và một năm sau thì cưới. Năm 1946, khi Peron thật sự lên nắm chính quyền ở Argentina, Evita đã được ủy quyền phụ trách Bộ Lao động và xã hội. Những người nghèo thì yêu quý, ngưỡng mộ và kính trọng cô, còn người giàu có thì khinh bỉ và ghét cô đến thậm tệ. Hàng mấy chục năm họ là những người có quyền và có tiền, còn từ khi Peron lên nắm quyền họ mất tất cả và vợ ông ta lại đem chia chác của cải đất nước cho những người nghèo khó.

Sau hơn 50 năm kể từ ngày Evita mất, Buenos Aires vẫn còn bị chia rẽ.

Du lịch ăn theo tiếng tăm của Evita

Ngành du lịch đã phát hiện khả năng hái ra tiền với cái tên Evita. Có vô số tour dẫn khách tới Casa Rosada, nơi từ bancông của ngôi nhà Evita đã có những bài phát biểu hùng hồn. Qua đại lộ Avenida 9 de Julio nơi năm 1951 hàng triệu người đã được chứng kiến sự kiện Evita công bố sẽ ra tranh cử chức phó tổng thống. Rồi đến công viên nhỏ ở cạnh đại lộ Avenida del Libertador nơi tượng Evita bằng đồng được dựng trước cửa thư viện quốc gia…

Ngay gần đó trước đây vài năm Bảo tàng Evita đã được khai trương tại ngôi nhà Calle Lafinur. Từ năm 1948, ngôi nhà này đã thuộc một tổ chức phi lợi nhuận của Eva Peron. Một thời gian dài đây là chốn ra vào của những người phụ nữ nghèo khổ cũng như những trẻ mồ côi.

Ngày nay, tại đây người ta trưng bày các hiện vật liên quan đến Evita cũng như những video chiếu về cuộc đời và sự nghiệp của bà, quay đi quay lại lễ tang hoành tráng năm 1952 khi hàng trăm ngàn người đổ về Buenos Aires dự lễ tang Eva Peron.

 

1030 3
Cội nguồn của tango là ở trên đường phố của Buenos Aires

Đây là một biến đổi lớn, bởi cho đến những năm 1980, chính quyền quân đội ở Argentina vẫn cấm tiệt việc bán và trưng bày ảnh cũng như bất kỳ kỷ vật nào có liên quan đến Evita.

Năm 1955, quân đội Argentina đã bắt chồng bà – tổng thống Juan Domingo Peron – phải rời khỏi đất nước của mình. Vì sợ mộ của Evita trở thành nơi hành hương, chính quyền quân đội sau khi lật đổ Juan Domingo Perón đã chuyển hài cốt của bà sang châu Âu chôn tại nghĩa trang Cimitero Monumentale ở Milano (Ý). Mãi đến năm 1974, hài cốt bà mới được đưa về Argentina. Từ năm 1976, bà đã nằm tại nghĩa trang Recoleta ở Buenos Aires.

Evita có biệt tài ăn nói hơn người, lời nói ăn sâu vào tâm trí người nghe. Sinh năm 1919, là con ngoài gia thú của một địa chủ với một cô hầu bếp ở Los Toldos, Eva María Duarte đã trốn khỏi sự tẻ nhạt của quê hương mình khi mới 15 tuổi. Cô mong đổi đời và muốn leo lên những bậc thang vinh quang nhất.

Đi theo ca sĩ tango Agustín Magaldi, cô đến Buenos Aires. Tại đây cô đã làm vũ nữ tango ở nhiều nhà hàng, trên những sân khấu hạng xoàng và kiêm cả nghề diễn viên trong những bộ phim tẻ ngắt. Sau đó cô làm việc cho một nhà đài và đã gặp tướng Perón – lúc này đang đứng đằng sau vụ bạo động vừa diễn ra.

 

1030 4
Evita Peron – Ảnh: mrdowling.com

Họ gặp nhau năm 1944 và một năm sau thì cưới. Năm 1946, khi Peron thật sự lên nắm chính quyền ở Argentina, Evita đã được ủy quyền phụ trách Bộ Lao động và xã hội. Những người nghèo thì yêu quý, ngưỡng mộ và kính trọng cô, còn người giàu có thì khinh bỉ và ghét cô đến thậm tệ. Hàng mấy chục năm họ là những người có quyền và có tiền, còn từ khi Peron lên nắm quyền họ mất tất cả và vợ ông ta lại đem chia chác của cải đất nước cho những người nghèo khó.

Sau hơn 50 năm kể từ ngày Evita mất, Buenos Aires vẫn còn bị chia rẽ.

Du lịch ăn theo tiếng tăm của Evita

Ngành du lịch đã phát hiện khả năng hái ra tiền với cái tên Evita. Có vô số tour dẫn khách tới Casa Rosada, nơi từ bancông của ngôi nhà Evita đã có những bài phát biểu hùng hồn. Qua đại lộ Avenida 9 de Julio nơi năm 1951 hàng triệu người đã được chứng kiến sự kiện Evita công bố sẽ ra tranh cử chức phó tổng thống. Rồi đến công viên nhỏ ở cạnh đại lộ Avenida del Libertador nơi tượng Evita bằng đồng được dựng trước cửa thư viện quốc gia…

Ngay gần đó trước đây vài năm Bảo tàng Evita đã được khai trương tại ngôi nhà Calle Lafinur. Từ năm 1948, ngôi nhà này đã thuộc một tổ chức phi lợi nhuận của Eva Peron. Một thời gian dài đây là chốn ra vào của những người phụ nữ nghèo khổ cũng như những trẻ mồ côi.

Ngày nay, tại đây người ta trưng bày các hiện vật liên quan đến Evita cũng như những video chiếu về cuộc đời và sự nghiệp của bà, quay đi quay lại lễ tang hoành tráng năm 1952 khi hàng trăm ngàn người đổ về Buenos Aires dự lễ tang Eva Peron.

 

1030 5
Buenos Aires với hơn 11 triệu dân và những quảng trường rộng lớn

 

1030 7
Du khách tới đây được thưởng thức nhạc và tango

 

1030 8
Nghệ sĩ đường phố

Và cũng không ở đâu người ta có thể gần hơn với huyền thoại – với một Evita vĩnh hằng như trong nghĩa trang Recoleta. Ngày ngày trước khu mộ của gia đình Duartes có hàng trăm người đến viếng.

Ngôi mộ của Evita bằng đá cẩm thạch đen bóng loáng giống như phần lớn những ngôi mộ ở đây. Với người dân thường, Evita vẫn chiếm một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống, nhưng với giới thượng lưu thì đó là điều quá chướng tai gai mắt.

1030 9
Nghĩa trang Recoleta

 

1030 10
Mộ của Evita

Còn nữa, ở Buenos Aires người ta kể rất nhiều những câu chuyện huyền thoại về Evita – chuyện tốt nhiều nhưng chuyện xấu cũng không ít. Và những câu chuyện lạ lùng cũng không hiếm như việc danh ca và diễn viên người Mỹ Madonna đã bị tổng thống Argentina cấm không cho đứng trên bancông của Casa Rosa khi đóng phim Evita, do đạo diễn Alan Parker thực hiện năm 1996 với lý do tránh sự phật lòng của người dân đất nước này!

(Theo báo Di Welt, Đức)

Nguồn: Tuổi Trẻ On line

 

Từ Tấm Gương Người Xưa, Nghĩ Về Y Đức Thời Nay

Hải Thượng Lãn Ông

.

Trong lịch sử y học nước nhà, tên tuổi của Lê Hữu Trác được nhắc đến như một bậc đại danh y tài năng xuất chúng, hết lòng thương yêu người bệnh.

Ông xứng đáng là một tấm gương, một nhân cách cao thượng, một nhà tư tưởng, nhà thơ nhà văn nổi tiếng của dân tộc thế kỷ XVIII.

Biểu tượng của y đức

Di sản mà ông để lại cho hậu thế thật đồ sộ và quí giá, không chỉ là bộ sách “Hải thượng y tông tâm lĩnh” – cuốn sách gối đầu giường của bao thế hệ thầy thuốc mà còn là những lời giáo huấn và tấm gương ngời sáng về đạo đức của người thầy thuốc.

Đại danh y Lê Hữu Trác có tên khác là Lê Hữu Huân, sau lấy hiệu là Hải Thượng Lãn Ông sinh ngày 17/11 năm Canh Ngọ (27/12/1720). Quê nội của ông là làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Quê mẹ ông ở xã Sơn Quang, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Ông chủ yếu sống và hoạt động y học tại quê mẹ.

Toàn bộ con người Lê Hữu Trác toát lên một nhân cách người Thầy thuốc vĩ đại. Nhân cách ấy thể hiện ở động lực, khát vọng mạnh mẽ là không ngừng học hỏi, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm để giúp đời, giúp người. Mọi suy nghĩ, hành động của Lê Hữu Trác được soi rọi bằng ánh sáng của tình cảm yêu thương con người. Tình yêu thương ấy lớn đến mức quên mình, sẵn sàng xả thân cứu người như một bậc thánh nhân.

Chuyện kể rằng Lê Hữu Trác chữa cho một cậu bé con nhà thuyền chài nghèo bị mắc bệnh đậu mùa rất nặng, người bốc lên mùi xú uế, mỗi khi khám bệnh phải bỏ quần áo trên bờ, nhét bông vào hai lỗ mũi cho giảm bớt mùi khó chịu. Thế mà ông vẫn đi lại thăm khám, bốc thuốc chữa bệnh ròng rã hàng tháng trời. Đến khi cậu bé khỏi bệnh, không những ông không nhận một đồng thù lao nào mà còn cho gia đình cậu bé gạo, củi, dầu, đèn…

Có lần một nhà quyền quí mời ông chữa bệnh, thấy ông đến muộn mới hỏi thì được biết trên đường đi, ông ghé vào chữa bệnh cho một người nghèo. Bị trách, ông đáp vì bệnh của người quyền quí là bệnh nhẹ, có thể chữa sau, còn người nghèo kia mắc bệnh nặng nên không thể trì hoãn.

Năm 1782, được chúa Trịnh Sâm mời ra để chữa bệnh cho Thế tử Trịnh Cán, trước cảnh phủ chúa xa hoa lộng lẫy, ông không hề mảy may động tâm mà chỉ mong sao sớm được trở về quê mẹ để sống cuộc sống tự do thanh thản. Lãn Ông tâm sự:

“Thiện tâm cốt ở cứu người

Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu

Biết vui nghèo cũng hơn giàu

Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn…”

Trong bộ sách đồ sộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển, Lê Hữu Trác dành hẳn một chương (phần “Y huấn cách ngôn”) để nói về đạo đức của người thầy thuốc. Bậc đại danh y đã vạch trần, cảnh báo, phê phán một cách nghiêm khắc những biểu hiện thiếu y đức của thầy thuốc. Phải chăng ở thời ông, y đức cũng có những biểu hiện suy đồi? Ông đã nêu ra 8 tội người thầy thuốc cần tránh.

Trăn trở về y đức thời nay

Những lời di huấn của bậc đại danh y đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự, nhiều thầy thuốc đã học tập và làm theo những lời di huấn quý báu đó, nhưng cũng còn không ít thầy thuốc chưa thông cảm với nỗi đau của người bệnh, chưa coi “trị bệnh cứu người” là mục tiêu theo đuổi trong suốt cuộc đời người thầy thuốc.

Tình trạng bác sỹ, nhân viên y tế nhận “phong bì” của bệnh nhân, từ đó đã nảy sinh sự đối xử thiếu công tâm của người thầy thuốc. Công luận đã lên tiếng về tình trạng này, nhưng hiện tượng suy thóai đạo đức đó chưa được đẩy lùi triệt để trong ngành y.

Một số ý kiến cho rằng nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ việc lương bác sỹ thấp, không đủ sống, viện phí thấp… nên buộc phải nhận tiền từ bệnh nhân, dù không muốn. Một cán bộ của ngành y tế cho rằng vì cơ chế “hai giá”, chênh lệch lớn giữa chi phí khám bệnh nhà nước và tư nhân nên người dân sẵn sàng lót tay thêm một ít để được phục vụ trước.

Thậm chí có người còn cho rằng bệnh nhân và người nhà đã tự đưa phong bì “làm hư bác sỹ”, vì bác sỹ có đòi hỏi đâu, không đưa thì thôi. Thực ra đó chỉ là những cách nói nguỵ biện.

Lý do quan trọng nhất là sự suy thoái về y đức, nằm trong sự suy thoái của đạo đức xã hội nói chung. Cho dù lương bác sỹ còn thấp, nhưng không thể chấp nhận việc bác sỹ nhận tiền riêng của bệnh nhân, để từ đó có sự phân biệt đối xử, nhất là đối với bệnh nhân nghèo; điều đó hòan tòan trái với lương tâm và y đức người thầy thuốc.

Một số bác sỹ, nhân viên y tế có thái độ đối xử thiếu lịch sự, thậm chí quát mắng bệnh nhân, kể cả đối với người già, nhưng khi bị phê phán thì cho rằng do “áp lực công việc”.

Hiện nay, nhiều học sinh giỏi đăng kí thi vào các trường đại học, học viện y khoa. Điểm chuẩn của một số trường Y ở mức cao kỉ lục. Đó là tín hiệu đáng mừng. Nhưng không biết những học sinh thi vào nghề y đó có bao nhiêu em vì lý tưởng chữa bệnh cứu người cao đẹp, bao nhiêu em chọn nghề này vì mong muốn có thu nhập cao? Nếu không có động cơ đúng đắn ngay từ khi chọn thi vào ngành y, thì điều đó tất yếu dẫn đến sự suy thóai về y đức khi hành nghề.

Chúng tôi không dám phủ nhận sạch trơn những đóng góp to lớn của ngành y nói chung và các thầy thuốc nói riêng. Xã hội ta ngày nay vẫn còn những tấm gương thầy thuốc giữ trọn y đức và rất đáng biểu dương, khen thưởng để nêu gương sáng cho các đồng nghiệp. Tuy nhiên, cũng cần nhìn thẳng vào sự thật để thấy được tình trạng suy thoái y đức hiện nay đã đến mức đáng quan ngại và cần được khắc phục kịp thời bằng những biện pháp đồng bộ và thiết thực.

Hiện nay các bệnh viện đều treo khẩu hiệu “Thầy thuốc như mẹ hiền” cùng “12 điều y đức” của Bộ Y tế. Ảnh và tượng đài Lê Hữu Trác cũng được treo, dựng ở nhiều nơi. Nhưng y đức xem ra vẫn chưa thực sự được thấm nhuần, mà nạn nhân không ai khác là những người nghèo không may mắc bệnh. Nhân ngày 27-2, nhắc lại tấm gương y đức của bậc đại danh y, hi vọng y đức nước nhà sẽ được vun đắp tốt đẹp hơn.

Trần Quang Đại

Dân Trí

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: