• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 847 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 847 other followers

Văn Cao: nghệ sĩ đa tài – Phanxipăng

Chiều 15-7-2016, tại Hà Nội, Quốc hội phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch nước Việt Nam tiến hành lễ tiếp nhận Quốc ca là ca khúc Tiến quân ca do gia đình cố nhạc sĩ Văn Cao (1923 – 1995) hiến tặng, đồng thời truy tặng huân chương Hồ Chí Minh của Chủ tịch nước cho cố nhạc sĩ, và trao bằng khen của Thủ tướng cho bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân của nhạc sĩ Văn Cao. Tiếp tục đọc

Boris Pasternak – Nhà thơ Nga ( 1890 – 1960 ) Giải Nobel Văn học 1958 – Thân Trọng Sơn

Nhắc đến Boris Leonidovich Pasternak  (Борис Леонидович Пастернак) là nhắc đến tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago”, mà tác giả phải để ra hàng https://15879319071563618162.googlegroups.com/attach/420605a38558f767/image1.jpg?part=0.1&view=1&vt=ANaJVrHyqKFa8TfZLwEhAKHfbtQepeC5GZtfAJXD96Pqa1mKC9nHaVT536WqgHox6ZXWYwfjL8O-t19C9g-M4mNC_TQquDzenshIrQfZYhKhxn0qLMfVMF4chục năm mới hoàn thành và không thể nào công bố bằng ngôn ngữ của mình, trên quê hương của mình. Thật vậy, khi tác phẩm ra đời (năm 1955), dưới áp lực những lời công kích, phê phán của giới văn học và chính trị, không một nhà xuất bản nào nhận bản thảo. Phải chờ đến một năm sau, tác phẩm mới được xuất bản tại nước Ý, bản tiếng Nga và bản dịch tiếng Ý! Ngay sau đó, cuốn truyện được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác, xuất bản tại nhiều quốc gia khác ( tiếng Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan…)  Bản tiếng Anh đầu tiên do Max Hayward và Manya Harari dịch, xuất bản vào tháng 8 năm 1958, là bản dịch  tiếng Anh duy nhất được biết trong suốt 50 năm và trong hai năm 1958, 1959 đứng đầu danh sách  best-seller của báo The New York Times trong 26 tuần. Độc giả Việt Nam đã sớm đọc được từ năm 1974, với bản dịch của Nguyễn Hữu Hiệu,  nhan đề “Vĩnh biệt tình em”, do Tổ hợp Gió xuất bản tại Saigon.   Và sau đó là bản dịch của Lê Khánh Trường,  in trong “Boris Pasternak, Con người và tác phẩm”, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1988.  Mãi hai mươi tám năm sau khi tác giả qua đời, “Bác sĩ Zhivago” lần đầu tiên  mới được in tại Liên Xô! ( 1988 ).

Tiếp tục đọc

Tại sao người Do Thái thông minh? (Why Jews are intelligent?)

” Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này”. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không?

Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam .

Bài viết dưới đây được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là “Why Jews Are Intelligent” (tạm dịch là “Vì sao người Do Thái thông minh”).

Bài viết rất hay và có ý nghĩa.

Tiếp tục đọc

Ngày tết – Nói về hai mươi bốn loài hoa mai

https://i1.wp.com/saigonocean.com/trangAlbertDong/Info/InfoNewsHoaMai_files/image001.jpg
Trên đất nước Việt Nam, người ta thường biết đến hoa mai qua loại hoa mai vàng năm cánh đặc trưng xưa nay mà người ta còn gọi là mai rừng, mai tự nhiên hay mai thiên nhiên chỉ có năm cánh, hoa nhỏ và thân cao to có khi đạt đến chiều cao hơn chục mét, hương thơm thoang thoảng, lây lất mùi gỗ rất dễ chịu và mát, không nồng và đậm như một số loài hoa khác.

Câu Đối Trong Văn Học Việt Nam – Trần Bích San, TS. Trần Gia Thái

Dân tộc Việt Nam từ thượng cổ đã tổ chức thành xã hội và sinh sống ở vùng đất Bắc Kỳ và miền cực bắc Trung Kỳ ngày nay. Trong lúc nước ta còn ở trình độ bán khai thì bị Trung Hoa đô hộ hơn một nghìn năm (từ 207 TTL đến 939 STL). Với chủ trương đồng hoá của người Tàu tất nhiên chúng ta không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng sâu xa về chính trị, xã hội, tôn giáo, luân lý, phong tục, và nhất là phương diện văn học.

Tiếp tục đọc

Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn – Martina Thucnhi Nguyễn

Martina Thucnhi Nguyễn sinh trưởng tại Texas, Hoa Kỳ và có thời gian về Việt Nam nghiên cứu. Cô nhận bằng Tiến sỹ Lịch sử từ Đại học California-Berkeley và đang chỉnh sửa luận văn “Nhóm Tự Lực Văn Đoàn: Chủ nghĩa Hiện đại Thực dân ở Việt Nam 1932-1941” để xuất bản.).

Một bộ sưu tập số hóa đầy đủ nhất từ trước tới nay của báo Phong Hóa và báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn đã được công bố cuối tuần qua, nhằm ngày 22/9, đúng ngày cách đây 80 năm nhóm nhà văn và nhà báo đề cao tự do cá nhân ra đời.

Có thể được xem là nhóm trí thức quan trọng nhất trong thập niên 1930 ở Bắc Kỳ, Tự Lực văn đoàn nổi tiếng với việc xuất bản tờ báo châm biếm đầu tiên ở Việt Nam, hiện đại hóa văn học Việt Nam và theo đuổi những cải cách mà trong đó bác bỏ sự phù hợp của Khổng giáo.

Tiếp tục đọc

Người Phụ Nữ Trẻ Việt Nam Hôm Nay Mong Muốn Gì ?

Chào mừng Ngày Quốc Tế Phụ Nữ  8 /3 / 2012

….Dùng phương pháp dự án, để tìm trả lời cho câu hỏi: ” Người phụ nữ Việt Nam hôm nay mong muốn gì?”, ta đã chi tiết câu hỏi trên qua 5 câu hỏi nhỏ: Tìm hiểu xem họ lưu tâm đến những vấn đề gì? Họ nhận định thế nào về tình huống hiện tại của mình? Họ phân tích thế nào về những nguyên nhân có thể làm trì trệ sự thành công của mình? Họ định hướng tương lai thế nào? Và họ có chương trình gì, phương pháp nào để thành đạt hướng tiến tương lai của mình?
Photobucket Tiếp tục đọc

Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương – Nguyễn Hưng Quốc

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, tôi nghĩ đến Nguyễn Khuyến. Và cũng nghĩ đến một người khác nữa: Hồ Xuân Hương.Photobucket

Nguyễn Du được xem là ông Hoàng của thơ Việt Nam, còn Hồ Xuân Hương lại được tôn vinh là “bà Chúa thơ Nôm”. Giữa “ông hoàng” và “bà chúa” dường như có một điểm chung: mối tình kéo dài ba năm.

Trước khi nói về mối tình của họ, xin nói một chút về Hồ Xuân Hương. Cho đến nay, hầu như giới phê bình và nghiên cứu đều đồng ý với nhau một điểm: Đó là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất và cũng là nhà thơ độc đáo nhất của Việt Nam. Về điểm thứ nhất, tôi rất tâm đắc với bảng xếp hạng của Xuân Diệu:
Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm (nếu bà thực sự là tác giả của bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành), Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Tú Xương là năm nhà thơ lớn nhất trong văn học cổ điển Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Ngày Xuân Nói Chuyện Đôi Đũa – Lê Quốc

Từ giã quê hương ra đi, những gì ta mang theo, nếu có, nhứt định không phải là đôi đũa. Vậy mà ngày đầu tiên đặt chưn đến đảo cũng như sau nầy.. trong những bữa ăn, đôi đũa vẫn xuất hiện bên cạnh ta, đi theo ta suốt một đời.. Nó hiển nhiên đến đổi không còn ai biết nó từ đâu đến, tại sao có? Trong những bữa cơm nghèo nàn, muối dưa đạm bạc hay những yến tiệc linh đình, mỹ vị cao lương, người Việt ta vẫn phải dùng đến đôi đũa. Không thể dùng tay để bốc thức ăn như con người 5000 năm trước đây của nửa phần trái đất nầy.

Tiếp tục đọc

Biên Cương Nước Việt ( phần cuối ) – Trần Ðại-Sỹ

Động Đình Hồ – Cội nguồn của tộc Việt

Biên Cương Nước Việt – Trần Đại-Sỹ

Phương Pháp Nghiên Cứu : 

Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc Việt, tôi đã dùng phương pháp y khoa nhiều nhất, và phương pháp khoa học mới đây. Tôi đã được giáo sư Tarentino về khoa Antomie của Ý và giáo sư Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp đỡ.

Tiếp tục đọc

Động Đình Hồ – Cội nguồn của tộc Việt

Hồ Động Đình ở đâu?

Ở miền Nam sông Dương Tử, hồ Động Đình họp thành bởi nhiều hồ lớn. Mỗi năm vào mùa lũ nước sông Dương Tử chảy vào hồ, làm tăng diện tích hồ từ 2.800 km² đến 20.000 km². Quân Sơn, một đảo nằm giữa hồ có 72 đỉnh núi, rộng 1 km nổi tiếng với các loại trà thơm, hoa lá quý hiếm tươi tốt quanh năm. Cảnh đẹp thần tiên, nhiều truyện tích rất u linh chích quái, liêu trai chí dị. Từ hàng ngàn năm, nhắc đến Tiêu Tương Hồ Nam, là nhắc đến tiên cảnh Động Đình Hồ, đến “Bát cảnh Tiêu Tương” của vùng Giang Nam [Việt].

Tiếp tục đọc

Ngôn Ngữ Là Văn Hóa ( Nguyễn Hưng Quốc)

Việc phát hiện kích thước văn hoá trong việc dạy và học ngôn ngữ đã trình bày trong bài Kích thước văn hóa trong việc giảng dạy ngôn ngữ bao gồm ba nội dung chính: Thứ nhất, ngôn ngữ, tự bản chất, là văn hóa; thứ hai, giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác bao giờ cũng là một thao tác liên văn hóa; và thứ ba, dạy và học một ngôn ngữ là dạy và học ngôn ngữ đồng thời cũng là dạy và học văn hóa; cả hai được tiến hành hầu như cùng một lúc.

Trong bài này, tôi xin bàn đến nội dung thứ nhất trước. Tiếp tục đọc

Nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp (Nguyễn Hưng Quốc)

Vấn đề cuối cùng trong văn hóa giao tiếp của người Việt là vấn đề lịch sự.
https://i1.wp.com/pppre.s3.amazonaws.com/3374793288e5880f/a/0d9694757627404b9acfc8ef558c2880.jpg

Văn hóa giao tiếp của người Việt ( Nguyễn Hưng Quốc)

Quan hệ liên cá nhân trong giao tiếp
Liên quan đến việc giảng dạy văn hóa qua ngôn ngữ (ở đây cụ thể là tiếng Việt), tôi đã bàn đến mấy khía cạnh chính trong văn hóa giao tiếp: mức độ hoạt ngôn; các hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ và mức độ nghi thức hóa. Bài này xin bàn tiếp về khía cạnh thứ tư: các quan hệ liên cá nhân (inter-personal relationships).

Xứ Bình Định- Anh Bình Định

Bình Định xưa là đất thuộc Việt Thường Thị và nền văn hóa Sa Huỳnh, sau đó người Chàm đã tới chiếm lĩnh vùng đất này.

Đến đời nhà Tần xứ này là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, năm Vĩnh Hoà 2 (137) người trong quận làm chức Công Tào tên là Khu Liên đã giết viên huyện lệnh chiếm đất và tự phong là Lâm Ấp vương.

Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp. Tiếp tục đọc

Đồng Tháp – Nghĩa Tình Nam Bộ

Đồng Tháp là một tỉnh nằm ở miềnTây Nam bộ  có nền nông nghiệp phát triển, là vựa  lúa lớn thứ ba của Việt Nam, là tỉnh có chỉ số tăng trưởng GDP  cao và chỉ số về cạnh tranh kinh tế đứng thứ 1 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và thứ 4 cả nước trong năm 2009. Mời đọc tiếp để biết thêm về một Đồng Tháp sâu nặng nghĩa tình Nam bộ.

Về Địa Danh Mang Tên Thảo Mộc

Ở Việt Nam có rất nhiều địa danh mang tên thảo mộc. Trong khuôn khổ bài viết nầy chúng tôi chỉ đề cập đến Gò Vấp, Củ Chi, Trảng Bàng, Giồng Trôm, Thốt Nốt và Bạc Liêu mà thôi. Tiếp tục đọc

Tháp Bà Nha Trang Và Lược Sử Chiêm Thành (Trần Văn Ký)

Nói đến Nhatrang, “phố biển hiền hòa”, “miền thùy dương cát trắng”, nằm cách Huế khoảng 624 cây số về phía nam và cách Sàigòn khoảng 442 cây số về phía bắc; không ai lại quên nhắc đến một thắng cảnh độc đáo và cũng là một thánh tích quan trọng, đó là Tháp Bà Nhatrang hay Tháp Po Nagar. Tiếp tục đọc

Dấu “Hỏi Ngã” trong văn chương Việt Nam

Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam. Tiếp tục đọc

Người lớn tuổi sử dụng Computer tốt cho trí nhớ, không có hại

Nghiên cứu cho thấy người cao niên sẽ cải thiện trí nhớ nếu chịu khó lên mạng Internet

Theo kết quả nghiên cứu được trình bày tại cuộc hội thảo thường niên của Hội Society for Neuroscience thì người cao niên có thể cải thiện tình trạng minh mẫn và tránh được bệnh hay quên ngắn hạn của tuổi già nếu chịu khó làm việc tìm tòi trên Internet. Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam- Việt Nam

Ông Ích Khiêm (1840-1890)

Ông Ích Khiêm sinh năm 1840 làng Phong Lệ, phủ Ðiện Bàn tỉnh Quảng Nam. Nguồn gốc dòng dõi họ Ong sống vùng cao nguyên, đời Tự Ðức (1847-1883), thi đỗ cử nhân, vua cho bỏ chữ trùng một bên, thành chữ Ông, từ đó có dòng họ Ông Ích tại Quảng Nam. Sau khi thi đậu được bổ dụng làm quan chức Tiễu phủ sứ. Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam- Việt Nam

Quảng Nam Vĩ Nam Sơn-Tẩu Vi Chủ:  Đỗ Đăng Tuyển

Làng Ô Gia, là nột trong những thôn xã thuộc phạm vi huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam, được khai sinh giữa hai dòng thuỷ lưu sông Thu Bồn và sông Vu Gia . Phong cảnh địa lý thôn trang rất hữu tình, trải dài dưới bóng Trường Sơn hùng vĩ với những cánh đồng ruộng lúa bạt ngàn, những nương dâu, rẫy bắp thẳng cánh cò bay bao la bát ngát. Tiếp tục đọc

Danh Nhân Quảng Nam – Việt Nam

Nhà cách mạng phong trào Duy Tân: Lê Ðình Dương
(1894-1919)

Đông dương Y SĨ LÊ ĐÌNH DƯƠNG, tuổi giáp Ngọ, sanh năm 1894 tại chánh quán làng Đông Mỹ (Na Kham), tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi, Phù Kỳ), huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thứ nam của cụ Đông Các Đại Học Sĩ, Binh Bộ Thượng Thơ, Hà An Tổng Đốc Lê Đình Đỉnh (Triều Tự Đức) và Cụ bà kế thất Chánh Phẩm Phu nhân PHAN THỊ HIỆU . Tiếp tục đọc

Tìm Hiểu Nội Dung và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ (tt) (Túy Phượng)

Đệ Bát: 
Nhân Ngưu Câu Vong (Quên Trâu Lẫn Người)

Tựa của Từ Viễn:

Phàm tình thoát lạc, thánh ý giai không.Hữu Phật xứ bất dụng ngao du, vô Phật xứ tất tu tẩu quá.Lưỡng đầu bất trước, thiên nhãn nan khuy. Bách điểm hàm hoa, nhất trường ma (?) la (?).

Diễn ý:

Trong tâm bỏ hết cái mê của người phàm, xóa sạch cái ngộ của bậc thánh. Không cần đến chơi nơi chỗ có Phật, còn như qua chỗ không có Phật thì phải nhanh chân tránh xa. Không dựa hai đầu dù phàm hay thánh cho nên dù có ngàn mắt như Quan Âm cũng khó thấy mình.Để cho muôn chim ngậm hoa đến cúng dường là một quang cảnh đáng hỗ thẹn.

Phụ chú:

Nhân ngưu câu vong: Con người còn sót lại từ chương 7 Đáo gia vong ngưu (hay Vong ngưu tồn nhân) nay cũng biến mất vì nếu trâu mất đi rồi, người chỉ là vô dụng. Thập Ngưu Quyết viết là “Nhân ngưu bất kiến).

Phàm tình thoát lạc, thánh ý giai không: Phàm tình và thánh ý đều là hai cái hố mà người đi tu dễ sa xuống. Sách Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, quyển 3, chương nói về thiền sư Phong Huyệt (Diên Chiểu), có câu đại ý: “Phàm lời nói câu chữ (ngôn cú) nếu không rơi vào phàm tình thì cũng rơi vào thánh ý. Đó là căn bệnh trầm kha của người đi học (học giả đại bệnh). Các vị tiên hiền thương cho họ nên mới tìm phương tiện cứu giúp. Giống như dùng cái đồ để chêm (tiết) mà đẩy cái đồ để chêm ra.” Truyền Đăng Lục, chương 14 phần nói về Long Đàm (Sùng Tín), có viết câu nói Thiên Hoàng (Đạo Ngô) tặng cho ông: “Tính nhiệm tiêu dao. Duyên tùy phóng khoáng. Đản phàm tận tâm.Thắng giải biệt vô”. Thoát lạc ý nói “tâm thân thoát lạc” như trong câu “bì phu thoát lạc, nhất chân thực hữu”. Nói chung, câu này khuyên giờ đây, phải lột bỏ tất cả, ngay cả một sự chân thực. Tiếp tục đọc

Tìm Hiểu Nội Dung và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ (Túy Phượng)

Các phần trước đã giới thiệu trên Ban Mai Hồng

1. Mở đầu

2. Ngày 20- 5: Đệ Nhất

3. Ngày 25-5 : Đệ Nhị- Đệ Tứ

Đệ Ngũ: Mục Ngưu (Chăn Trâu)

Tựa của Từ Viễn:

Tiền tư tài khởi, hậu niệm tương tùy.Do giác cố dĩ thành chân, tại mê cố nhi vi vọng. Bất do cảnh hữu, duy tự tâm sinh. Tỵ sách lao khiên, bất dung nghĩ nghị. 

Diễn ý:

Vừa khi một niệm vừa chợt dậy lên thì đã có bao nhiêu niệm khác nối tiếp theo. Nhờ lòng mình đã thức tỉnh mới thấy được cái tâm chân thực xưa nay, chứ còn như mê muội sẽ sanh ra ảo tưởng. Điều đó không phải lỗi của đối tượng. Ảo tưởng chỉ sinh ra từ lòng mình. Chỉ còn cách nắm dây thừng xỏ mũi trâu mà kéo, không cho chống báng bình phẩm gì hết.

Tiếp tục đọc

Tìm Hiểu Nội Dung Và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ (tt)

Đệ Nhị: Kiến Tích (Thấy Dấu)
             

Tựa của Từ Viễn:

Ỷ kinh giải nghĩa, duyệt giáo tri tung. Minh chúng khí vi nhất kim,thể vạn vật vi tự kỷ. Chính tà bất biện, chân ngụy hề phân.Vị nhập tư môn, quyền vi kiến tích.

Diễn ý:

Dựa vào kinh điển sẽ hiểu ý nghĩa, đọc lời dạy dỗ thì tìm ra dấu vết.Hãy thấy rõ rằng bao nhiêu khí cụ khác nhau đều được làm ra từ một chất kim (vàng), phải coi mình cùng với vạn vật như một. Nếu không phân biệt lời dạy dỗ để biết chuyện nào đúng chuyện nào sai, làm sao có thể phán đoán cái gì thật, cái gì giả. Khi còn chưa len vào bên trong cánh cửa của Phật pháp, thì chưa thực sự thấy được dấu đạo) 

Phụ chú:

Kiến tích: Trong kinh điển có nhiều chuyện nói về “đắc đạo tích” (tìm được dấu đạo) như Nhị Nhập Tứ Hạnh Luận, của Đạt Ma, đoạn 74. Tăng Triệu gọi giáo điển là giáo tích. Trong thiền lục đời Đường cũng có nhiều chuyện tương tự. Chương này cho ta thấy là bàn chân chỉ có một nhưng dấu chân thì rất nhiều. Để biết trên con đường này nhiều người đã đi qua. Nó như muốn báo trước câu nói trong chương 10 Nhập triền thùy thủ: “Phụ tiền hiền chi đồ triệt” (Quay lưng lại vết xe của hiền nhân trong quá khứ). Trang Tử trong biên Thiên Vận có nhắc lời Lão Tử dạy Khổng Tử: “Lục Kinh là dấu vết của cái dép mục của tiên vương chứ không phải là chính là đôi dép”.  Tiếp tục đọc

Tìm Hiểu Nội Dung Và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ ( tt)

Thập Ngưu Đồ
do hòa thượng Khuếch Am, trụ trì Đỉnh Châu Lương Sơn
Yanagida Seizan

Sau đây là văn bản Thập Ngưu Đồ do Hòa thượng Khuếch Am Sư Viễn廓庵師遠 soạn, bắt đầu với lời tựa của Từ Viễn viết chung cho toàn bộ và riêng cho mỗi bức tranh. Về Từ Viễn慈遠, có thuyết cho là học trò của Khuếch Am nhưng không ai rõ hành trạng của ông. Tuy nhiên, những lời tựa này rất cần thiết trong việc tìm hiểu thêm về Thập Ngưu Đồ.

Tựa tổng quát của Từ Viễn

Nguyên văn: 

Trụ Đỉnh Châu Lương Sơn Khuếch Am Hòa Thượng Thập Ngưu Đồ. Tiếp tục đọc

Tìm Hiểu Nội Dung Và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ( Nguyễn Nam Trân)

Nguyên tác: Yanagida Seizan

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

Phóng Ngưu Đồ


“Tìm hiểu nội dung và xuất xứ Thập Ngưu Đồ” là tựa đề đặt tạm cho phần đầu tác phẩm “Thập Ngưu Đồ: Hiện tượng luận về bản ngã” của hai tác giả  Yanagida Seizan và Ueda Shizuteru.

Tranh thả trâu của Sesshuu

(Tuyết Chu, 1420-1506) – Bản Thảo – 2009

Tiếp tục đọc

Thập Mục Ngưu Đồ ( Túy Phượng)

Trâu Dầm Bùn, 15 x 20 acrylics Trần thị LaiHồng VIII-08

MƯỜI TRANH CHĂN TRÂU   –  Trần thị Lai Hồng

Thập Mục Ngưu Đồ

Dẫn Nhập : Tranh Chăn Trâu – Mục Ngưu Đồ – có từ thời Lão Tử xa xưa nhưng mãi đến thế kỷ thứ XII  đời nhà Tống (960-1279) mới xuất hiện tại các thiền viện và ngay sau đó được coi là tiêu biểu Thiền Trung Quốc nói riêng và Thiền Đông phương nói chung, và được phổ biến rộng rãi từ Đông sang Tây, mặc dầu có nhiều khuynh hướng khác nhau. Tiếp tục đọc

Tại sao đa số hoa ở Miền Nam nở vào mùa Xuân? (tt), Túy Phượng

Cây cũng biết “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”

Loài tre (bamboo) mọc thành bụi, ít khi thấy ra hoa, mà một khi ra hoa thì cả bụi cây chết sau đó. “Tre già măng mọc”, nhiều thế hệ vẫn “cắm dùi” tại một chỗ, nên con người lợi dụng đặc tính không di động này của tre để trồng thành hàng rào, làm ranh giới làng mạc hay vườn nhà. Vì qua nhiều thế hệ, có thể vài chục năm, đất trở nên già cổi, không còn thích hợp để sinh tồn, khóm tre quyết định ra hoa, kết trái thật nhiều rồi nguyên cả bụi tre hay rừng tre đồng loạt chết cùng lúc. Hạt tre theo gió, nước mưa, phát tán đến nơi khác có đất màu mở hơn, và tái tạo rừng tre mới. Nơi rừng tre cũ, cây chết và cháy rừng, đất tái tạo lại phì nhiêu hơn nhờ tro cháy của chính thân xác mình. Tre con mọc lại từ hạt hay từ căn hành tái tạo lại rừng tre mới. Làm sao rừng tre biết lúc nào cần phải “hy sinh đời bố”?

Cây có biết đọc lịch không?

Như vậy, cây biết đọc lịch để tới ngày tháng nào đó nó tự phát động tạo khối-sơ-khởi, rồi tạo nụ hoa, nở ra hoa, kết trái, già chín và hạt rụng theo đúng “kế hoạch” của chủng loại nó. Làm sao cây biết lịch, làm sao nó biết hể tới tháng 5 dl là có mưa, và mưa suốt 5-6 tháng trời? Mà mùa mưa thì có thể đến sớm hơn hay trễ hơn, tùy năm.

Tiếp tục đọc

Tại sao đa số hoa ở Miền Nam nở vào mùa Xuân? (Túy Phượng)

* TS Trần-Đăng Hồng, nguyên giảng viên Đại Học Nông Nghiệp Cần Thơ (Việt Nam), giảng viên và nghiên cứu tại Department of Agriculture, The University of Reading, UK. Ông đã đóng góp 6 quyển sách do International Plant Genetic Resources Institute (IPGRI, Rome) xuất bản và hơn 80 bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa thực vật học.

Trong thực tế mùa nào cũng có hoa. Có như vậy các loài ong và chim hút mật sống nhờ hoa mới có thể tồn tại. Nhờ hoa nở quanh năm nên phong cảnh thiên nhiên có đầy màu sắc suốt bốn mùa. Mỗi loài thực vật nở hoa vào những thời điểm khác nhau. Hoa có thứ đẹp, có thứ không, có thứ mùi thơm, cũng có thứ mùi khó ngửi. Khi nói đến hoa, mọi người thường chỉ nói đến hoa đẹp, có màu sặc sở. Vì vậy, vào mùa Xuân người ta thường nói đến hoa lan, hoa đào, hoa mai, các loại hoa chưng ngày tết như cúc, vạn thọ, v.v. Để nhớ kỹ niệm thời học trò, ai cũng nghĩ đến hoa phượng đỏ sân trường trong dịp hè. Hè cũng là mùa của hoa ô môi đỏ rực dọc bờ sông, hoa sim nở tím đồi núi, sen nở hồng trong các ao hồ. Trong dịp Trung Thu, các bạn già ngồi nhìn trăng, vừa nhẩm trà vừa thưởng thức bánh, hứng thú lại ngâm thơ để đón chờ hoa quỳnh nở. Mùa Thu cũng là mùa hoa cúc. Tiếp tục đọc

Nam Kỳ Lục Tỉnh- Đất Nước và Con Người (4)(Túy Phượng)

Sông nước bao la, kinh rạch chằng chịt và đồng ruộng cò bay thẳng cánh lại là những yếu tố quy định cá tánh của dân Miền Nam.  Trái với dân cư vùng châu thổ sông Hồng bị bao vây bởi một hệ thống đê điều, làng mạc được thiết lập từ lâu đời bị bao bọc bởi những hàng rào, lũy tre, thân tộc liên kết chặt chẽ nhau qua các thế hệ, làng xã ở Miền Nam thường thiết lập ven sông, chạy dài theo kinh rạch, không có lũy tre, hàng rào ngăn cách, dòng họ thân tộc chưa phát triển chằng chịt như ở miền Trung, miền Bắc.

Ông Nguyễn Văn Trung đã viết: Do đó về phương diện xã hội, miền Nam không có hiện tượng chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, bị chà đạp ép bức mà vẫn chịu trận. Trái lại, giai cấp điền chủ ở Miền Nam không thể áp bức hay áp bức dễ dàng nông dân như ở Bắc Kỳ vì nếu  không chịu nổi và nếu muốn, vợ chồng chị Dậu chỉ việc xuống ghe thuyền đi tìm một miền đất hứa khác. Đầm lầy, ruộng hoang còn thiếu gì sẵn sàng đón nhận người đến vỡ đất lập nghiệp. Tiếp tục đọc

Nam Kỳ Lục Tỉnh- Đất Nước và Con Người (3)( Túy Phượng)

Bàn về bản chất của người Nam Kỳ

Bàn về bản chất của người Nam Kỳ, tôi xin mượn hai tài liệu xưa.  Trong Gia Định Thành thống chí của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng năm 1820 có đoạn:

Vùng Gia Định nước Việt Nam đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. nhà nào tục nấy…..Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…. Tiếp tục đọc

Giai Thoại Về Một Bài Hát Ru Xứ Quảng

Trong kho tàng văn nghệ dân gian Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng có không ít câu hò, lời hát được nhiều người, nhiều vùng đất biết đến. Nhưng liệu mấy ai biết xuất xứ từ đâu, và không dễ biết tác giả là ai, bởi đặc trưng của Văn nghệ dân gian là truyền khẩu. Do vậy, không ai nghĩ đến việc phải đi tìm tác giả của một câu ca dao, một bài vè hoặc một câu hát ru, bởi việc ấy là quá khó. Ấy vậy mà tình cờ tôi được một nữ lão nghệ nhân của một đội hát hò khoan ứng đáp trong lúc say chuyện đã kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện về những câu hát ứng tác của những nghệ nhân xưa mà chính bà ta là chứng nhân, là người trong cuộc. Có lẽ tôi là người hiếm hoi được cái may mắn ấy. Cái may mắn được biết hoàn cảnh ra đời bài hát ru gan ruột của Đất Quảng đã tồn tại qua nhiều thế hệ người, đã quá phổ biến trong dân gian, bài hát mà các nghệ nhân cho rằng mẫu mực trong thể loại hát sinh tử, một trong những nội dung trong loại hình hát Hò khoan, một loại hình sinh hoạt Văn nghệ dân gian miền sông nước nhiều thập niên trước, là món ăn tinh thần không thể thiếu ở nông thôn xứ Quảng ngày xưa mà cho đến nay còn và có quá nhiều người thuộc.

Thời ấy, những nghệ nhân hát hò khoan ứng đáp giỏi, nổi danh khắp vùng thường được mời đi Hát ở nhiều nơi, có khi ra đến tỉnh bạn. Trong giới “ngôi sao” ngày đó hẳn không thể thiếu tên tuổi ông giáo Lương, dân khắp vùng chẳng ai không nghe tên biết tiếng. (Có lẽ lúc ấy ông cũng là một ông giáo làng nên người ta mới gọi thế.) Ông tên thật là Phạm Đình Lương, quê ở thôn Cẩm Sa, huyện Điện Bàn ( một địa danh thuộc xã Điện Nam, huyện Điện Bàn bây giờ ).

Theo bà lão nghệ nhân thì ông rất giỏi ứng biến, sáng tạo trong hát đối đáp, nhiều tình huống đối phương ra vế đối quá khó, tưởng chừng đội nhà sẽ thua cuộc nhưng nhờ tài năng của ông đã chuyển bại thành thắng, buộc đối thủ phải tâm phục, khẩu phục.

Một bận, nhân dịp rảnh rỗi, ông ghé thăm nhà một người cháu trong tộc tên là Phạm Đình Tỳ (Hai Tỳ). Thời điểm này vợ ông Hai Tỳ vừa mới mất trong một cơn bạo bệnh, để lại một gia cảnh bời bời, con cái nheo nhóc với 3 đứa trẻ thơ mà đứa bé nhất hãy còn nằm nôi. Vừa đến đầu ngõ ông đã nghe tiếng trẻ khóc thét lên trong cơn khát sữa, mặc cho người cha ru nôi hò hụi khản cả cổ, vã cả mồ hôi mà tiếng khóc càng lúc càng như xé ruột khiến người nghe như lửa đốt trong lòng.

Vào nhà, chứng kiến cảnh gà trống nuôi con, nhà cửa nhếch nhác, bừa bộn do thiếu vắng bàn tay người phụ nữ. Cảm thương người cháu tội nghiệp phải vất vả trăm bề, xót xa cho cháu bé còn đỏ hỏn phải sớm lìa mẹ, chịu phận cút côi. Cảnh tình ấy như một động lực thúc đẩy, một chất xúc tác cực mạnh khơi dậy mạch nguồn sáng tạo trong con người nghệ sỹ công chúng Phạm Đình Lương. Cầm lòng chẳng đặng, ông bèn bước lại giành lấy tao nôi, vừa ru cháu, vừa ứng tác hát luôn:

” Nơi chín suối em vào miền hạc lộ

Cảnh dương trần anh gánh cõi trần ai

Đêm năm canh nước mắt láng lai

Tay anh bồng con dại, miệng anh nhai hột (1) ngọc trời

Phần cha không sữa con ơi

Nhai cơm suốn(2) nước, con ăn chơi cho cha nhờ

Con còn non sữa(3) ấu thơ

Tay cha ru, miệng cha hát ầu  ơ năm canh trường

Bồng con mà để trên giường

Con ơi, con hỡi không biết thương cha rày !

Cha ru con đà mỏi hai tay

Hay là con nhớ mẹ đêm ngày con khóc luôn

Vừa ru, cha vừa hát, vừa hun(4)

Thấy con thêm đau ruột, lệ cha tuôn hai hàng

Ngó  vô trong cảnh gia đàng

Nhơn sầu, cảnh dị(5) , hoa tàn, nhuỵ khô

Một mình quày(6) quả ra vô

Bải nước trầu còn đó, mẹ  con đi mô không thấy về

Hay là em ly biệt phu thê

Em hẹn hò non nước, bỏ  bê chốn dương trần(7)

Em đi đâu bỏ nợ bỏ nần

Bỏ  con thơ kêu khóc, khổ  chín mười phần em ơi !

Ngắn hơi kêu chẳng thấu trời

Trên dương gian, dưới âm phủ  đôi nơi khó tìm…”

Bài hát miêu tả tâm trạng, gia cảnh người cháu rất thực, rất xúc động, nhưng tôi có cảm giác như độ dài của nó không phải chỉ chừng ấy. Khi tôi nêu nghi vấn này thì người nghệ nhân cao tuổi ấy quả quyết rằng bài hát chỉ có thế. Để bảo vệ cho lập luận của mình, bà lý giải : “Tôi là cháu bà con bên ngoại với ông hai Tỳ, là người nhà và có mặt ngay lúc ông giáo Lương đến nhà, tôi chứng kiến từ đầu chí cuối và vẫn nhớ như in, lúc đó tôi đã 14 tuổi rồi còn gì ! sở dĩ bài hát kết thúc đột ngột là vì sao chú biết không ?”

Khi thấy tôi háo hức muốn biết thực hư thế nào, bà thư thả như để thử tài suy đoán của tôi rồi tiếp :“Khi hát tới đó thì đứa bé đã nín khóc và ngủ say nên ông chỉ nhè nhẹ đưa nôi chứ không tiếp tục hát nữa. Do đó bài hát chỉ có chừng đó thôi “.

Quái lạ, Không hiểu vì lẽ gì, do giọng ru truyền cảm  hay một tác động mang yếu tố tâm linh thiêng liêng nào đó mà đứa bé cảm nhận được chăng ? Tôi băn khoăn mãi, bài hát chỉ vỏn vẹn có 24 câu mà đủ thời gian cho đứa bé ngủ say hay sao ?! Sau này khi đi sâu vào tìm hiểu về nhạc tính trong dân ca tôi mới biết là trong hát ru, một chữ, một câu hát thường được kéo dài ra bằng những từ đệm, những nguyên âm như  A…à… …ơi…ớ …ơ… và cái đuôi rall nhẹ ở âm tiết cuối mỗi câu. Hơn nữa, những luyến láy, những khoảng lặng, những tái câu, tái đoạn v.v…được sử dụng thường xuyên, cho nên 24 câu ngắn ngủi trở thành bản trường ca đủ thời lượng trải dài trong không gian êm ả của tiếng hát ru. Và khi tôi hỏi lý do làm sao để một bài hát “ngẫu hứng đột xuất ” không văn bản như thế lại được người ta nhớ và được phổ biến, lưu truyền, thì được bà cho biết : “Khi thấy ông giáo bước đến cầm tao nôi, ông Hai Tỳ biết sẽ được nghe những câu hát mới do tài kiến tại của ông Lương, cho nên ông bảo người con lớn đem giấy bút ra cùng ông ngồi chép lại tại chỗ từng câu”.

Quả nhiên, việc làm của cha con người cháu bất hạnh ấy không uổng phí. Một tác phẩm xuất thần gây rung động lòng người nhờ vậy đã không bị đi vào quên lãng. Và theo quy luật, cái gì thuộc về nghệ thuật, về văn hóa một khi đã thẩm thấu được thì tất nhiên sẽ tồn tại. Đúng là như thế, bài hát “sinh tử” này từ lâu tôi đã được nghe mẹ tôi hát, nghe nhiều người hát trên cả mọi vùng đất ở tỉnh Quảng Nam, và không biết nó còn bay xa đến tận đâu. Bài hát mà dù đã nghìn vạn lần nghe, mà mỗi lần như thế tôi đều thấy lòng  trĩu xuống, rưng rức khôn nguôi. Bài hát đã đi vào công chúng, sống ở đó và góp phần cảm hóa, thanh lọc tâm hồn bao thế hệ người, làm phong phú thêm đời sống tình cảm con người, làm giàu có thêm cái nền đạo đức của xã hội, góp một hạt ngọc thô mà vô cùng quý giá cho nền văn học dân gian của dân tộc.

Một chi tiết thú vị khác được bà Huệ cho biết là một trong 3 người con của ông Hai Tỳ thuở ấy hiện nay đang sinh sống tại Thành phố Đà Nẵng ( quận 3 cũ ) nay là quận Ngũ Hành Sơn. Thêm một minh cứ để xác nhận rằng câu chuyện trên là có cơ sở. Biết đâu người ấy chính là đứa bé nằm nôi khát sữa năm xưa ? hay chính là người đã cùng cha chép lại bài hát ấy cũng không chừng. Đúng hay không, độ tin cậy là bao nhiêu ? liệu còn phát lộ thêm những hạt ngọc, những xâu chuỗi ngọc nào nữa? những câu hỏi đó chỉ các nhà folklore, những nhà chuyên môn, chuyên trách mới có thể trả lời.

Câu chuyện thú vị không ngờ, một giai thoại trong đời sống văn nghệ dân gian hiếm có không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Người kể chuyện: Bà Nguyễn Thị Huệ hiện nay đã hơn tám mươi tuổi, đang sống cùng con cháu tại khối 8 phường Thanh Hà thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, vẫn còn say mê hát hò khoan và đang là một thành viên của Đội Hò khoan ứng đáp của thành Phố. Một nhân chứng sống.

Quả là có cơ duyên nên trong một lần cao hứng hiếm hoi của người nghệ nhân già, tôi được nghe bà kể chuyện. Và thật đáng tiếc nếu một ngày nào đó, những nghệ nhân cao tuổi như bà Huệ lần lượt ra đi mà không kịp để lại cho con cháu bao điều còn nằm sâu trong ký ức, những báu vật vô giá mà chúng ta luôn miệt mài truy vấn khảo tìm. Và tôi cảm thấy mình mắc nợ, là có lỗi với tất cả, nếu không làm một cái gì đó trong khả năng có thể, chẳng hạn như ghi lại thật trung thực tình tiết câu chuyện, về bài hát ru có số phận kỳ lạ này.

Thiết nghĩ, cho dù là văn chương truyền miệng, nhưng khi đã có những cứ liệu thuyết phục thì việc trả lại tên cho người đã sáng tạo ra bài hát ru mẫu mực giàu tính nhân văn ấy là việc làm chính đáng lắm chứ ? Tại sao không ? !

.

Phạm Phù Sa

( Hội An – Quảng Nam)

Chú  thích :

(1)     hột: hạt cơm (thổ ngữ Q Nam )

(2)     mớm thức ăn đã nhai nhuyễn từ miệng cha sang miệng con

(3)     còn lâu nữa mới đủ tuổi cai sữa

(4)     hun : Hôn (thổ ngữ Q Nam )

(5)     người buồn sầu áo não, cảnh quạnh quẽ đổi thay

(6)     vội vã, hấp tấp, luôn vất vả bận rộn

(7)     có dị bản :

Hay là phu đã lìa thê

Em dạo chơi non nước, bỏ  bê chốn dương trần.

Trăm = 100 ? ba mươi sáu = 36 ?

Chùa Trăm Gian

Trong số những ngôi chùa cổ ít được các sách nói tới có chùa Trăm Gian thuộc tỉnh Hà Tây.

Chùa tọa lạc ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, trên một quả đồi cao khoảng 50m, xung quanh có nhiều cây cổ thụ. Chùa có tên chữ là Quảng Nghiêm Tưï , được lập từ đời Lý Cao Tông, niên hiệu Trinh Phù thứ 10 (1185).

Đến đời Trần, có hòa thượng Bình An, quê ở Bối Khê tu ở đây được người đời gọi là Đức Thánh Bối. Chùa gọi là Trăm Gian vì có 100 gian theo cách tính 4 cột là một gian.

Ở sân chùa có gác chuông hai tầng tám mái được dựng vào năm Quý Dậu, niên hiệu Chính Hòa, đời Lê Hy Tông (1693), là một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao..

Chùa còn giữ được nhiều di vật, đồ tế khí và tượng quý.

Đây là ngôi chùa đẹp về mặt kiến trúc và khung cảnh thiên nhiên, nên ca dao đã có câu:

Đình So, quán Giá, chùa Thầy,
Đẹp thì có đẹp, chưa tày Trăm Gian(1)

” Trăm gian “, cái tên rất bình dân, dường như muốn nói lên vẻ “bề thế ” của ngôi chùa. Nhưng có đúng là chùa có tới 100 gian theo cách tính 4 cột là một gian như Võ Văn Tường giới thiệu không ?

Nhìn tấm ảnh chụp chùa và gác chuông thì khó mà tưởng tượng được rằng chùa Trăm Gian có nhiều gian và cột đến thế .

Chúng ta hãy tạm rời chùa Trăm Gian, đi thăm một ngôi chùa khác, chùa Ninh Phúc ( tỉnh Hà Bắc ), và thử so sánh kiến trúc của hai chùa, để tạm rút ra một kết luận.

Chùa Ninh Phúc thuộc làng Bút Tháp là ” một ngôi cổ tự còn lại ở miền Bắc Việt Nam, đứng vào hàng quy mô dài lớn nhất hiện nay và nổi tiếng về những tác phẩm điêu khắc và kiến trúc (… ). Phần chính của chùa nằm trong một khuôn viên chữ nhật ngang 40m, dài 80m (…). Chín tòa chùa sắp hàng hai bên hành lang dài như hai dãy phố, cộng tất cả 112 gian “(2).

Chăm chú đếm trên bức họa đồ của chùa thì thấy mỗi dãy hành lang có được 27 gian. Mỗi gian gồm ” 4 cột “. Nhưng chỉ có cột đứng ở góc mới hoàn toàn là của một gian, các cột khác, tuỳ theo vị trí, được đếm nhiều lần. Nếu trừ ra hai dãy hành lang, tất cả phần còn lại của chùa Ninh Phúc, gồm 9 tòa chùa cộng với tam quan, gác chuông, bảo tháp, chỉ còn 58 gian.

Chùa Trăm Gian có mấy toà ? Tấm ảnh chụp mặt trước của chùa chỉ cho thấy một tòa, với một hàng cột gồm 8 cái. Chùa Trăm Gian bé hơn chùa Ninh Phúc, chúng ta cứ giả thử là chùa được xây theo kiểu “nội công ngoại quốc “, tức là có hai tòa ngang và một tòa dọc. Chùa không có hành lang ” dài như hai dãy phố “, thì làm thế nào để dựng được 100 gian trong 3 tòa ? Ngược lại, nếu chùa có 100 gian thật thì trong lòng chùa sẽ chi chít cột, giống như bàn đinh của thầy phù thuỷ. Không dễ gì tìm ra chỗ để đặt bàn thờ và đón tiếp khách thập phương đến lễ Phật !

*

Tôi mang thắc mắc của mình đi dò hỏi xung quanh. Một bác lớn tuổi, đã có lần đến thăm chùa Trăm Gian, cười nói : ” Làm gì tới ! Nhiều thì người ta gọi là trăm cho gọn, cho to ! “.

Trăm gian chỉ có nghĩa là có nhiều gian thôi.

Tiếng ” trăm ” ( tiếng hán việt là bách ) hay được dùng một cách khái quát để chỉ số nhiều. Trăm không phải là một số đếm chính xác. Trăm không có nghĩa là một trăm ( 100 ).

Xưa kia, nhiều làng lập hội ” bách nghệ ” ( trăm nghề ). Những người làm cùng nghề ( thợ mộc, thợ nề … ) tập họp thành hội, hàng năm tổ chức lễ thánh sư ( ông tổ của nghề ), ăn uống vui chơi. Ai ở trong hội gặp khó khăn, túng bấn thì hội sẽ giúp đỡ. Hội bách nghệ thật ra chỉ quy tụ vài nghề. Chưa nghe nói có làng nào chuyên làm quá hai, ba chục nghề khác nhau.

Hàng năm nhiều làng quê miền Bắc mở hội, tổ chức nhiều trò chơi. Các trò chơi, tuy chỉ có độ mươi, mười lăm trò nhưng cũng được gọi là “bách hí ” (trăm trò vui).

Ngày nay ta có nhiều ” trăm ” và ” bách ” lắm.

Ta có 3 trường đại học Bách khoa ( trăm môn ). Người Pháp khiêm tốn hơn, họ chỉ có trường Đa khoa (Polytechnique ) thôi.

Tại các thành phố lớn, những lúc nhàn tản, người ta đi bách bộ ( trăm bước ), ngắm nhìn các cửa hàng bách hoá ( trăm món hàng ). Nếu kể hết các mặt hàng lặt vặt, từ cái kim, cuộn chỉ, cục phấn, thì đôi khi cũng lên đến 100 thật đấy.

Những hôm trời nóng bức ai chả thích đi dạo vườn bách thú (trăm giống thú vật ), bách thảo ( trăm thứ cây ), hay vào công viên ngắm ” trăm hoa đua nở ” để quên đi ” trăm cay nghìn đắng ” của cuộc sống hàng ngày.

Tục ngữ, thành ngữ cũng thích dùng chữ ” trăm ” :

Trăm hay không bằng tay quen.
Trăm voi không được bát nước xáo.
Trăm bó đuốc cũng vớ được con ếch.

” Trăm ” và ” bách ” được dùng từ bao giờ ? Chắc chắn là từ lâu lắm rồi. Từ cái ngày người Tàu gọi vài chục học giả nổi tiếng thời Xuân Thu là ” Bách gia chư tử “. Cũng có thể là từ ngày bà Âu Cơ đẻ ra ” trăm trứng “.

Còn một con số khác cũng thường gặp trong văn học là số ba mươi sáu ( 36 ). Một con số thật chính xác nhưng nghĩa thì lại mù mờ!

Nổi tiếng nhất là ” Hà Nội băm sáu phố phường “. Nhiều người trong chúng ta đã được đọc tập bút ký nổi tiếng của Thạch Lam, viết năm 1943, mang tựa đề này. Trước Thạch Lam đã có bài thơ nói về phố phường Hà Nội như sau (3) :

Rủ nhau chơi khắp Long thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,
Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,
Hàng Hòm,hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi đến phố hàng Da,
Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long Thành,
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.

Thơ và văn đều nói ” Hà Nội 36 phố phường “. Hà Nội ngày xưa chỉ có 36 phố thôi à ? Điều đó có đúng không ? Chắc là sai !

Chỉ cần đọc câu ca dao:

Hà Nội băm sáu phố phường
Hàng Gạo, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh.

cũng đã thấy hai phố, hàng Gạo và hàng Đường, không có tên trong bài thơ. Và còn rất nhiều phố nổi tiếng khác như hàng Lọng, hàng Quạt, hàng Đẫy, hàng Trống, hàng Bột, hàng Kèn, hàng Bún … cũng bị bỏ quên.

Trong công trình nghiên cứu lịch sử của ” Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội “, cụ Hoàng Đạo Thúy đã đưa ra một loạt tên của 63 phố (4). Có thể vẫn chưa đủ vì danh sách của cụ còn thiếu phố Trường Thi (nơi tổ chức các kỳ thi ) và phố Trường Tiền ( nơi có sở đúc tiền ngày xưa ). Như vậy, có thể nói rằng thành phố Hà Nội cổ phải có từ 65 phố trở lên.

Nhưng tại sao lại nói là ” Hà Nội băm sáu phố phường ” ? Con số 36 mang ý nghĩa gì ?

Đào Duy Anh nhận xét rằng ba mươi sáu là ” số nhiều hữu hạn chỉ toàn bộ ” (5). Theo Hoàng Xuân Hãn thì ” số ba mươi sáu là một phương-số mà người Á Âu đều coi là có đặc tính huyền bí ” (6).

Có thể vì vậy mà tác giả của bài thơ đã cố ý chỉ kể tên 36 phố, để làm tăng vẻ đẹp, nét thơ mộng của thành phố Hà Nội năm xưa ?

Chúng ta còn gặp con số 36 ở nhiều chỗ khác.
Giáng Kiều khuyên Tú Uyên (truyện Bích Câu kì ngộ) nên chọn cảnh tiên giới, xa lánh trần gian:

Vẩn vơ trong áng phồn hoa
Ba mươi sáu động, ai là chủ nhân?

Toàn bộ cõi tiên ở trên núi gồm ba mươi sáu động. Núi nào, ở đâu, không ai biết được.

Trong một tình huống khác, nàng Kiều cũng gặp con số vu vơ này:

Thừa cơ lẻn bước ra đi
Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn ?

Sở Khanh dùng lời người xưa “tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách” ( trong 36 chước, chạy là hay hơn cả) để dụ dỗ Kiều trốn khỏi lầu Ngưng Bích. Đố ai kể rõ được 36 chước là những chước gì, hay ho như thế nào?

Bát Giới học được 36 phép biến hóa. Nhưng Tề Thiên còn giỏi gấp đôi Bát Giới, học được 72 ( hai lần 36) phép thần thông ( Tây du kí ). Cả hai vị đều chưa thi thố hết tài năng nên chúng ta đành chịu, ngồi chờ các đòn phép mới lạ khác.

Yêu nhau tam tứ ( 3,4 ) núi cũng trèo
Thất bát ( 7,8 ) sông cũng lội, tam thập lục ( 36 ) đèo cũng qua.

Trai gái khi đã yêu nhau thì khó khăn tới đâu cũng sẵn sàng vượt qua.

Dân ca quan họ Bắc Ninh có bài ” Ba mươi sáu thứ chim “:

Trên rừng ba mươi sáu thứ chim
Thứ chim chèo bẻo, thứ chim chích chòe
Người trồng tre cho tôi biết thứ tre

Thoạt nghe hát chúng ta sốt ruột chờ đợi nhiều giống chim quý trên rừng. Nhưng bài ca chỉ đưa ra hai thứ chim quen thuộc của đồng quê, rồi nói qua chuyện khác. Chúng ta tò mò, sốt ruột vì con số 36.

Làng Đồng Kỵ, tỉnh Hà Bắc, hàng năm mở hội từ mùng 4 tới mùng 6 tháng giêng. Ngoài những trò chơi, thi đốt pháo, hội làng còn có rước hình sinh thực khí từ đền về đình. Hai lễ vật tượng hình sinh thực khí của đàn ông và đàn bà được làm bằng gỗ ( gọi là nõn ) và mo cau ( gọi là nường ). Đám rước tới trước sân đình thì cử hành “vũ điệu âm dương”, lồng hai vật vào nhau ba lần. Lễ xong thì tung hai sinh thực khí lên trời cho dân làng tranh nhau chụp bắt.

Tục lệ này đã gợi ý cho câu ca dao rất trần tục:

Ba mươi sáu cái nõn nường
Cái gối đầu giường là ba mươi bảy

Con số 36 thật là mờ mờ ảo ảo.

*

Một vài trích dẫn kể trên cho thấy rằng trong văn học, ngôn ngữ dân gian Việt Nam, ” trăm ” và ” ba mươi sáu ” thường được dùng để chỉ số nhiều một cách khái quát, không chính xác. Chúng không phải là những số đếm của toán, của thống kê …

Chùa Trăm Gian không chắc có tới 100 gian và Hà Nội ngày xưa có nhiều hơn ” băm sáu phố phường “.

Nguyễn Dư

Tham Khảo

(1) Võ Văn Tường, Việt Nam danh lam cổ tự, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993, trang 90 và 396 .
(2) Nguyễn Bá Lăng: Chùa xưa tích cuõ, NXB Lá Bối, San Jose ( Hoa Kỳ), 1988, trang 147-173.
(3) Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1978, trang 186.
(4) Hoàng Đạo Thúy: Thăng Long, Đông đô, Hà Nội, NXB Hội Văn Nghệ Hà Nội, 1971, trang 56.
(5) Đào Duy Anh: Từ điển truyện Kiều, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1989.
(6) Hoàng Xuân Hãn: Bích Câu kì ngộ, NXB Đại Học, Huế, 1964.

Blog Chuyên Anh

An Imprint of My English Tribe for National Advanced English Exams

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Banmaihong's Blog

Nơi Đây Nắng Ban Mai Hồng Reo Vui

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: