• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 910 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 910 người theo dõi

Vẻ Đẹp Huyền Bí ( Hoàng Nguyên )

Mời xem những hình ảnh về thủ phủ của Tây Nguyên.  Daklak hiện ra với thiên nhiên đẹp hoang dã và huyền bí như tựa đề bài được tác giả sưu tầm ảnh và đã post trên hoangnguyen835blog .  Bài do anh Bùi Phương chuyển đến.

Buôn Ma Thuột xưa – Những bức ảnh chưa từng được công bố

Mời xem Buôn Ma Thuột, hay Ban Mê Thuột xưa : những bức ảnh chưa từng công bố. Ngọc Lý từ phương xa sưu tầm trên Internet và  tặng chị Huỳnh Huệ, các tác giả và các bạn Ban Mai Hồng.

Collector trên ảnh : Thanh Sơn

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột

Từ ngày 10 đến 15/3/2011, tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dak Lak sẽ diễn ra Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột 2011.
Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột 2011

Đây là lễ hội mang tầm quốc gia định kỳ 2 năm một lần do UBND tỉnh Dak Lak phối hợp với các bộ, ngành trung ương và các tỉnh Tây Nguyên tổ chức.

Theo Ban tổ chức cho biết, điểm nhấn của Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 3 – 2011 sẽ là những sân khấu mở với không gian sinh hoạt, giao lưu, biểu diễn nghệ thuật được tổ chức tại nhiều địa điểm trên địa bàn Dak Lak.
Các hoạt động của Lễ hội đều được cà phê hóa, tạo nên một thế giới cà phê nhiều màu sắc.
Trong chương trình lễ hội, Bảo tàng cà phê thế giới lần đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam với hơn 10.000 hiện vật cùng các hiện vật bảo tàng văn hóa Tây Nguyên sẽ được chính thức khai trương tại “Làng cà phê Trung Nguyên”, và trưng bày tại Bảo tàng tỉnh.
Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột 2011 – một hoạt động văn hóa xúc tiến thương mại nhằm quảng bá sâu rộng cho cà phê Buôn Ma Thuột và cà phê Việt Nam.
Lễ khai mạc Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột 2011 sẽ được THTT trên kênh VTV1 và VTV4 vào 20h00 ngày 12/3/2011. Mời quý vị và các bạn đón xem!
THƯỞNG THỨC CÀ PHÊ BAN MÊ THUỘT
Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Đầu tư và Du lịch Đắk Lắk phối hợp với UBND Thành phố Buôn Ma Thuột chọn 20 quán cà phê đăng ký phục vụ cho Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần 3 – năm 2011 với số lượng 10.000 vé, mỗi vé cà phê miễn phí chỉ sử dụng cho 1 lần uống với mệnh giá 10.000 đồng/ly. Được biết, UBND tỉnh hỗ trợ 50% kinh phí và các quán cà phê chịu 50% kinh phí. Thời gian áp dụng từ ngày 10 – 15/3/2011.

Đặc  biệt những quán cà phê được chọn lần này có diện tích rộng rãi, thoáng mát, cung cách phục vụ chu đáo, tận tình và nằm tại các điểm thuận lợi cho những du khách quan tâm đến thức uống đầy quyến rũ.

Danh sách 20 quán cà phê miễn phí phục vụ Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần 3 – năm 2011:

1. Thung Lũng Hồng: 153/61 Phan Chu Trinh – TP.Buôn Ma Thuột
2. Bo bo: 30A Lê thị Hồng Gấm – TP. Buôn Ma Thuột
3. KơNia: 08 – 12 Hai Bà Trưng – TP. Buôn Ma Thuột
4. Hoa Mộc Lan: 122A Nguyễn Tri Phương – TP. Buôn Ma Thuột
5. Hoa Đá: 153 Nguyễn Công Trứ – TP. Buôn Ma Thuột
6. Sunrise 1: 08 Hai Bà Trưng – TP. Buôn Ma Thuột
7. Lộc Vừng: 52 Lê Duẩn – TP. Buôn Ma Thuột
8. Sunrise 2: 419 Phan Chu Trinh – TP. Buôn Ma Thuột
9. An Thái: 219 Đinh Tiên Hoàng – TP. Buôn Ma Thuột
10. Mê Khúc: 45 – 47 Đinh Tiên Hoàng – TP. Buôn Ma Thuột
11. Công Viên Phù Đổng: 17 Phù Đổng – TP. Buôn Ma Thuột
12. Cà phê Ly’s: 151 – 153 Lê Thánh Tông – TP. Buôn Ma Thuột
13. Vị Đắng 1: 115 Y Ngông – TP. Buôn Ma Thuột
14. Vị Đắng 2: 21B Mai Hắc Đế – TP. Buôn Ma Thuột
15. Không Gian Xưa: Y Ngông – TP. Buôn Ma Thuột
16. BonJour: 41 – Lý Thái Tổ – TP. Buôn Ma Thuột
17. Vy: 29 Ybil Alêo – TP. Buôn Ma Thuột
18. Hoa Đất: A13 Trần Hưng Đạo – TP. Buôn Ma Thuột
19. Cà phê MC: 20 Ngô Quyền – TP. Buôn Ma Thuột
20. Biệt Điện 02 Ngô Quyền – TP Buôn Ma Thuột

Nguồn :  http://lehoicaphe.vn/home


Giai Thoại Về Một Bài Hát Ru Xứ Quảng

Trong kho tàng văn nghệ dân gian Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng có không ít câu hò, lời hát được nhiều người, nhiều vùng đất biết đến. Nhưng liệu mấy ai biết xuất xứ từ đâu, và không dễ biết tác giả là ai, bởi đặc trưng của Văn nghệ dân gian là truyền khẩu. Do vậy, không ai nghĩ đến việc phải đi tìm tác giả của một câu ca dao, một bài vè hoặc một câu hát ru, bởi việc ấy là quá khó. Ấy vậy mà tình cờ tôi được một nữ lão nghệ nhân của một đội hát hò khoan ứng đáp trong lúc say chuyện đã kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện về những câu hát ứng tác của những nghệ nhân xưa mà chính bà ta là chứng nhân, là người trong cuộc. Có lẽ tôi là người hiếm hoi được cái may mắn ấy. Cái may mắn được biết hoàn cảnh ra đời bài hát ru gan ruột của Đất Quảng đã tồn tại qua nhiều thế hệ người, đã quá phổ biến trong dân gian, bài hát mà các nghệ nhân cho rằng mẫu mực trong thể loại hát sinh tử, một trong những nội dung trong loại hình hát Hò khoan, một loại hình sinh hoạt Văn nghệ dân gian miền sông nước nhiều thập niên trước, là món ăn tinh thần không thể thiếu ở nông thôn xứ Quảng ngày xưa mà cho đến nay còn và có quá nhiều người thuộc.

Thời ấy, những nghệ nhân hát hò khoan ứng đáp giỏi, nổi danh khắp vùng thường được mời đi Hát ở nhiều nơi, có khi ra đến tỉnh bạn. Trong giới “ngôi sao” ngày đó hẳn không thể thiếu tên tuổi ông giáo Lương, dân khắp vùng chẳng ai không nghe tên biết tiếng. (Có lẽ lúc ấy ông cũng là một ông giáo làng nên người ta mới gọi thế.) Ông tên thật là Phạm Đình Lương, quê ở thôn Cẩm Sa, huyện Điện Bàn ( một địa danh thuộc xã Điện Nam, huyện Điện Bàn bây giờ ).

Theo bà lão nghệ nhân thì ông rất giỏi ứng biến, sáng tạo trong hát đối đáp, nhiều tình huống đối phương ra vế đối quá khó, tưởng chừng đội nhà sẽ thua cuộc nhưng nhờ tài năng của ông đã chuyển bại thành thắng, buộc đối thủ phải tâm phục, khẩu phục.

Một bận, nhân dịp rảnh rỗi, ông ghé thăm nhà một người cháu trong tộc tên là Phạm Đình Tỳ (Hai Tỳ). Thời điểm này vợ ông Hai Tỳ vừa mới mất trong một cơn bạo bệnh, để lại một gia cảnh bời bời, con cái nheo nhóc với 3 đứa trẻ thơ mà đứa bé nhất hãy còn nằm nôi. Vừa đến đầu ngõ ông đã nghe tiếng trẻ khóc thét lên trong cơn khát sữa, mặc cho người cha ru nôi hò hụi khản cả cổ, vã cả mồ hôi mà tiếng khóc càng lúc càng như xé ruột khiến người nghe như lửa đốt trong lòng.

Vào nhà, chứng kiến cảnh gà trống nuôi con, nhà cửa nhếch nhác, bừa bộn do thiếu vắng bàn tay người phụ nữ. Cảm thương người cháu tội nghiệp phải vất vả trăm bề, xót xa cho cháu bé còn đỏ hỏn phải sớm lìa mẹ, chịu phận cút côi. Cảnh tình ấy như một động lực thúc đẩy, một chất xúc tác cực mạnh khơi dậy mạch nguồn sáng tạo trong con người nghệ sỹ công chúng Phạm Đình Lương. Cầm lòng chẳng đặng, ông bèn bước lại giành lấy tao nôi, vừa ru cháu, vừa ứng tác hát luôn:

” Nơi chín suối em vào miền hạc lộ

Cảnh dương trần anh gánh cõi trần ai

Đêm năm canh nước mắt láng lai

Tay anh bồng con dại, miệng anh nhai hột (1) ngọc trời

Phần cha không sữa con ơi

Nhai cơm suốn(2) nước, con ăn chơi cho cha nhờ

Con còn non sữa(3) ấu thơ

Tay cha ru, miệng cha hát ầu  ơ năm canh trường

Bồng con mà để trên giường

Con ơi, con hỡi không biết thương cha rày !

Cha ru con đà mỏi hai tay

Hay là con nhớ mẹ đêm ngày con khóc luôn

Vừa ru, cha vừa hát, vừa hun(4)

Thấy con thêm đau ruột, lệ cha tuôn hai hàng

Ngó  vô trong cảnh gia đàng

Nhơn sầu, cảnh dị(5) , hoa tàn, nhuỵ khô

Một mình quày(6) quả ra vô

Bải nước trầu còn đó, mẹ  con đi mô không thấy về

Hay là em ly biệt phu thê

Em hẹn hò non nước, bỏ  bê chốn dương trần(7)

Em đi đâu bỏ nợ bỏ nần

Bỏ  con thơ kêu khóc, khổ  chín mười phần em ơi !

Ngắn hơi kêu chẳng thấu trời

Trên dương gian, dưới âm phủ  đôi nơi khó tìm…”

Bài hát miêu tả tâm trạng, gia cảnh người cháu rất thực, rất xúc động, nhưng tôi có cảm giác như độ dài của nó không phải chỉ chừng ấy. Khi tôi nêu nghi vấn này thì người nghệ nhân cao tuổi ấy quả quyết rằng bài hát chỉ có thế. Để bảo vệ cho lập luận của mình, bà lý giải : “Tôi là cháu bà con bên ngoại với ông hai Tỳ, là người nhà và có mặt ngay lúc ông giáo Lương đến nhà, tôi chứng kiến từ đầu chí cuối và vẫn nhớ như in, lúc đó tôi đã 14 tuổi rồi còn gì ! sở dĩ bài hát kết thúc đột ngột là vì sao chú biết không ?”

Khi thấy tôi háo hức muốn biết thực hư thế nào, bà thư thả như để thử tài suy đoán của tôi rồi tiếp :“Khi hát tới đó thì đứa bé đã nín khóc và ngủ say nên ông chỉ nhè nhẹ đưa nôi chứ không tiếp tục hát nữa. Do đó bài hát chỉ có chừng đó thôi “.

Quái lạ, Không hiểu vì lẽ gì, do giọng ru truyền cảm  hay một tác động mang yếu tố tâm linh thiêng liêng nào đó mà đứa bé cảm nhận được chăng ? Tôi băn khoăn mãi, bài hát chỉ vỏn vẹn có 24 câu mà đủ thời gian cho đứa bé ngủ say hay sao ?! Sau này khi đi sâu vào tìm hiểu về nhạc tính trong dân ca tôi mới biết là trong hát ru, một chữ, một câu hát thường được kéo dài ra bằng những từ đệm, những nguyên âm như  A…à… …ơi…ớ …ơ… và cái đuôi rall nhẹ ở âm tiết cuối mỗi câu. Hơn nữa, những luyến láy, những khoảng lặng, những tái câu, tái đoạn v.v…được sử dụng thường xuyên, cho nên 24 câu ngắn ngủi trở thành bản trường ca đủ thời lượng trải dài trong không gian êm ả của tiếng hát ru. Và khi tôi hỏi lý do làm sao để một bài hát “ngẫu hứng đột xuất ” không văn bản như thế lại được người ta nhớ và được phổ biến, lưu truyền, thì được bà cho biết : “Khi thấy ông giáo bước đến cầm tao nôi, ông Hai Tỳ biết sẽ được nghe những câu hát mới do tài kiến tại của ông Lương, cho nên ông bảo người con lớn đem giấy bút ra cùng ông ngồi chép lại tại chỗ từng câu”.

Quả nhiên, việc làm của cha con người cháu bất hạnh ấy không uổng phí. Một tác phẩm xuất thần gây rung động lòng người nhờ vậy đã không bị đi vào quên lãng. Và theo quy luật, cái gì thuộc về nghệ thuật, về văn hóa một khi đã thẩm thấu được thì tất nhiên sẽ tồn tại. Đúng là như thế, bài hát “sinh tử” này từ lâu tôi đã được nghe mẹ tôi hát, nghe nhiều người hát trên cả mọi vùng đất ở tỉnh Quảng Nam, và không biết nó còn bay xa đến tận đâu. Bài hát mà dù đã nghìn vạn lần nghe, mà mỗi lần như thế tôi đều thấy lòng  trĩu xuống, rưng rức khôn nguôi. Bài hát đã đi vào công chúng, sống ở đó và góp phần cảm hóa, thanh lọc tâm hồn bao thế hệ người, làm phong phú thêm đời sống tình cảm con người, làm giàu có thêm cái nền đạo đức của xã hội, góp một hạt ngọc thô mà vô cùng quý giá cho nền văn học dân gian của dân tộc.

Một chi tiết thú vị khác được bà Huệ cho biết là một trong 3 người con của ông Hai Tỳ thuở ấy hiện nay đang sinh sống tại Thành phố Đà Nẵng ( quận 3 cũ ) nay là quận Ngũ Hành Sơn. Thêm một minh cứ để xác nhận rằng câu chuyện trên là có cơ sở. Biết đâu người ấy chính là đứa bé nằm nôi khát sữa năm xưa ? hay chính là người đã cùng cha chép lại bài hát ấy cũng không chừng. Đúng hay không, độ tin cậy là bao nhiêu ? liệu còn phát lộ thêm những hạt ngọc, những xâu chuỗi ngọc nào nữa? những câu hỏi đó chỉ các nhà folklore, những nhà chuyên môn, chuyên trách mới có thể trả lời.

Câu chuyện thú vị không ngờ, một giai thoại trong đời sống văn nghệ dân gian hiếm có không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Người kể chuyện: Bà Nguyễn Thị Huệ hiện nay đã hơn tám mươi tuổi, đang sống cùng con cháu tại khối 8 phường Thanh Hà thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, vẫn còn say mê hát hò khoan và đang là một thành viên của Đội Hò khoan ứng đáp của thành Phố. Một nhân chứng sống.

Quả là có cơ duyên nên trong một lần cao hứng hiếm hoi của người nghệ nhân già, tôi được nghe bà kể chuyện. Và thật đáng tiếc nếu một ngày nào đó, những nghệ nhân cao tuổi như bà Huệ lần lượt ra đi mà không kịp để lại cho con cháu bao điều còn nằm sâu trong ký ức, những báu vật vô giá mà chúng ta luôn miệt mài truy vấn khảo tìm. Và tôi cảm thấy mình mắc nợ, là có lỗi với tất cả, nếu không làm một cái gì đó trong khả năng có thể, chẳng hạn như ghi lại thật trung thực tình tiết câu chuyện, về bài hát ru có số phận kỳ lạ này.

Thiết nghĩ, cho dù là văn chương truyền miệng, nhưng khi đã có những cứ liệu thuyết phục thì việc trả lại tên cho người đã sáng tạo ra bài hát ru mẫu mực giàu tính nhân văn ấy là việc làm chính đáng lắm chứ ? Tại sao không ? !

.

Phạm Phù Sa

( Hội An – Quảng Nam)

Chú  thích :

(1)     hột: hạt cơm (thổ ngữ Q Nam )

(2)     mớm thức ăn đã nhai nhuyễn từ miệng cha sang miệng con

(3)     còn lâu nữa mới đủ tuổi cai sữa

(4)     hun : Hôn (thổ ngữ Q Nam )

(5)     người buồn sầu áo não, cảnh quạnh quẽ đổi thay

(6)     vội vã, hấp tấp, luôn vất vả bận rộn

(7)     có dị bản :

Hay là phu đã lìa thê

Em dạo chơi non nước, bỏ  bê chốn dương trần.

Lịch sử hình thành Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là “bản hoặc làng của Ama Thuột”, nó xuất phát từ tên gọi buôn của Ama Thuột – tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng, để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê Đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam do tù trưởng Ama Thuột cai quản. Khi đó, thủ phủ của vùng đất cao nguyên Đắk Lắk được đặt tại Bản Đôn (huyện Buôn Đôn bây giờ). Năm 1890, Bourgeois – một tên thực dân nổi tiếng nham hiểm, sau khi thu phục được Khumjunop, một tù trưởng, một vua săn voi nổi tiếng ở Bản Đôn đã tiếp tục tìm mọi cách để mua chuộc tù trưởng Ama Thuột nhằm đặt tiền đề cho việc xây dựng một thủ phủ mới ở đây. Với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, 14 năm sau, tức ngày 22 tháng 11 năm 1904, theo đề nghị của Hội đồng tối cao Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập Đại lý hành chính Buôn Ma Thuột, thuộc quyền giám sát và quản trị của Khâm sứ Trung Kỳ và Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh Đarlac (tên gọi tỉnh Đắk Lắk bây giờ) thay cho Bản Đôn.

Bản đồ Buôn Ma Thuột năm 1905.

Các công sứ người Pháp, đặc biệt là Sabatier muốn duy trì việc biệt lập Tây Nguyên, nhưng do nhu cầu thiết lập cơ sở chính trị, hành chính xã hội đòi hỏi sự có mặt của các công chức, vì thế bên cạnh người Pháp, người Êđê, người Kinh đã dần có mặt ngày càng đông, nhất là sau khi có Nghị định ngày 02-07-1923 của toàn quyền Đông Dương về việc thành lập tỉnh Đắk Lắk.

Bản đồ Buôn Ma Thuột năm 1918

Sau đó, thực dân Pháp đẩy mạnh việc xây dựng Buôn Ma Thuột để thực hiện chính sách thống trị lâu dài. Trong nội thị đã xây cất các công sở của Pháp, bệnh viện, nhà tù, trường học, cửa hàng, khách sạn, chợ, nhà máy, rạp hát, sân vận động, bể bơi, nhà kho, nhà để xe. Khu dân cư của người Việt và người Âu xen kẽ với với một số buôn làng của người Ê Đê. Đường sá đã có ngã tư, ngã sáu. Các đường nội tỉnh và ngoại tỉnh được hình thành, sân bay Monfleur được xây dựng. Ngày 05 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột tọa lạc trên các làng Buôn Ma Thuột và Buôn Sô. Vì chính sách hạn chế của thực dân Pháp, chỉ có ít người Kinh sinh sống tại BMT, trong làng Lạc Giao. Người dân hàng năm phải đi “xâu người” và “xâu voi”, đàn ông 18 – 60 tuổi phải xâu 20 ngày, mỗi voi cũng chịu 20 ngày xâu trong một năm.


Bản đồ Buôn Ma Thuột năm 1930

Ngày 28/8/1945, tổng khởi nghĩa diễn ra ở Đắk Lắk, Uỷ ban Cách mạng lâm thời tỉnh đã ra mắt và tuyên bố xoá bỏ chế độ thống trị của Nhật, Pháp; hệ thống chính quyền cách mạng được thành lập. Liên hoan đoàn kết các dân tộc Dak Lak được tổ chức tại Biệt điện Bảo Đại bàn về vấn đề đoàn kết các dân tộc anh em trong xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến đánh bất ngờ vào Thành phố Buôn Ma Thuột, giải phóng Thành phố và cũng là thời khắc mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước.

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đến giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, thị xã Buôn Ma Thuột được Nhà nước quyết định nâng lên Thành phố Buôn Ma Thuột (theo Nghị định 08-NĐ/CP ngày 21/01/1995).

Đến năm 2005, Thành phố Buôn Ma Thuột lại tự hào được nâng cấp thành đô thị loại II (Quyết định 38/2005/QĐ-TTg ngày 28/02/2005) và ngày 07/9/2006 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1181/QĐ-TTg, theo đó Buôn Ma Thuột sẽ:

– Là đô thị hạt nhân vùng Tây Nguyên, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội toàn vùng; là trung tâm giáo dục đào tạo, y tế, dịch vụ, du lịch, thể dục thể thao cấp vùng;

– Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật của tỉnh Đắk Lắk;

– Là đầu mối giao thông liên vùng, tạo điều kiện phát triển giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa Tây nguyên với các vùng trong cả nước và quốc tế;

– Có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng.”

(Trích Quyết định số 1181/QĐ-TTg ngày 07/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ)

Như vậy, qua hơn 100 năm hình thành và phát triển, mặc dù có nhiều lần thay đổi về cấp hành chính nhưng Buôn Ma Thuột vẫn luôn là thủ phủ, lỵ sở của tỉnh Đắk Lắk. Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của Thành phố. Buôn Ma Thuột xưa cũng như nay vẫn luôn là trung tâm kinh tế, chính trị xã hội không những của tỉnh Đắk Lắk mà còn cả khu vực Tây Nguyên.

Lịch sử văn hóa

Nói đến văn hóa truyền thống ở Daklak, trước hết phải nói đến nền văn hóa mang đậm nét đặc trưng của cư dân bản địa, từ bao đời nay đã tạo dựng nên một nền văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng, với những di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể độc đáo và đồ sộ. Nói đến các di sản văn hóa dân tộc, không quên các di sản văn hoá vật thể nổi tiếng như đàn đá, nhạc cụ, cồng chiêng, kiến trúc nhà dài, kiến trúc nhà mồ, công cụ lao động dệt cẩm thổ. tạc tượng…cùng các di sản văn hoá phi vật thể như luật tục, các lễ hội, các tập tục và các sinh họat văn hóa, sinh họat cộng đồng. Đồ sộ và phong phú hơn cả là kho tàng văn học dân gian với những bản sử thi (Dân tộc Eđê gọi là Khan, dân tộc Mnông gọi là át Nrông), thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, lời nói vần…đậm đà bản sắc dân tộc lưu truyền qua bao thế hệ. Ngòai ra dân tộc Ê đê còn có cả chữ viết mà sau này được phiên âm sử dụng phổ biến từ thời Pháp, Mỹ cho đến nay. Điểm nổi bậc của Văn hoá bản địa Daklak là: Văn hoá lễ hội nhà dài, văn hoá cồng chiêng, văn hoá mẫu hệ, văn hoá ẩm thực, văn hoá sử thi, văn hoá luật tục, văn hoá cộng đồng …độc đáo, phong phú giàu bản sắc dân tộc. Trước đây cũng như hiện nay, quan hệ xã hội cơ bản của đồng bào các dân tộc vẫn còn mang đậm tính huyết thống và tính cộng đồng bền chặt. Nói chung, đồng bào các dân tộc Ê đê cũng như M’nông, Gia Rai đều có một đặc điểm lớn, đó là sự tồn tại bền vững của những mối quan hệ xã hội cổ truyền tốt đẹp được hình thành qua các thời kỳ lịch sử lâu dài. Tinh thần cộng đồng, dân chủ, bình đẳng, tương thân tương ái… Bên cạnh đó, tinh thần thượng võ, nhân ái, yêu thiên nhiên, yêu chuộng hòa bình, cần cù sáng tạo cũng là những đặc trưng nổi bật của đồng bào các dân tộc. Nổi bật hơn cả là ý chí đấu tranh bất khuất chống chọi với thiên nhiên và truyền thống đấu tranh bảo vệ buôn làng, bảo vệ quê hương đất nước. Truyền thống đó đã được phát huy cao độ trong những năm nhân dân Daklak đứng lên theo Đảng làm cách mạng, chiến đấu chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược. Điểm tô thêm nền văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa, DakLak còn có sự du nhập nền văn hóa của các dân tộc thiểu số phía Bắc và nền văn hóa của người Kinh với đủ sắc thái của ba miền Trung – Nam – Bắc. Tất cả đều được gìn giữ và phát triển, hòa quyện trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, nói đến văn hóa ở Daklak cũng không thể không nói đến các danh thắng, các di tích lịch sử văn hóa mang dấu ấn của lịch sử. Trên địa bàn Daklak đã tìm thấy một số di chỉ khảo cổ học mang dấu tích của người tiền sử. Đó là các di chỉ ở Drai Si (huyện Cư Mgar), xã Ea Tiêu, Quảng Điền (huyện Krông Ana), hồ Lak (huyện Lak), xã Ea Păn, xã Xuân Phú (huyện Ea Kar). Qua các di chỉ trên, đã tìm thấy những công cụ, khí cụ, đồ trang sức bằng đá; đồ gốm và bàn dập, bàn mài hoa văn trên gốm. Nguyên liệu chế tác đều lấy từ đá bazan và đá biến chất, vốn là đặc trưng của Tây Nguyên. Kiểu dáng và kỹ thuật chế tác có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Biển Hồ (Gia Lai) và văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Thời đại đồ đồng cũng đã phát hiện được 7 chiếc trống đồng ở huyện Ea Súp, Ea HLeo, Krông Pac Ea Kar và TP Buôn Ma Thuột. Đặc biệt trên mảnh đất này còn có những dấu tích của người Chăm để lại, đó là tháp Yang Prong (Thần vĩ đại) ở xã Chư MLanh (huyện Ea Súp), những Rasungbatau (thùng lớn đựng nước) ở Buôn Ma Thuôt, khu mộ cổ thuộc địa phận xã Ea Ktur và xã Cư Ewy (huyện Krông Ana), giếng Chăm ở xã Yang Mao, khu phế tích ở xã Hòa Thành (huyện Krông Bông). Trong đó, tháp Yang Prong được xây dựng vào cuối thế kỷ XIII dưới thời vua Sinhavarman III (Chế Mân), thờ thần Sinva. Đây là tháp Chăm cổ duy nhất còn lại ở Tây Nguyên.Thời kỳ hiện đại, chúng ta có hàng chục di tích nổi tiếng như: nhà tù Buôn Ma Thuột, Đình Lạc Giao – nơi biểu hiện cho sự hiện diện của nền văn minh lúa nước của cộng đồng người Việt ở Daklak, Đồn điền CADA, Biệt điện Bảo Đại – dấu ấn của triều đại phong kến cuối cùng của Việt Nam, hang đá Dak Tuôr và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa khác.

Buôn Ma Thuột ngày nay.

Ngã 6 BanMê

Việt Nam Highland Travel. 

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d người thích bài này: