• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 908 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 908 người theo dõi

Đắk Lắk: Hơn 12 tấn nông sản hỗ trợ người dân TP.HCM trong ngày đầu kêu gọi

Chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử tỉnh Đắk Lắk đóng rau củ quả chuyển đến người dân TP.HCM

Chư tôn đức Tăng Ni, Phật tử tỉnh Đắk Lắk đóng rau củ quả chuyển đến người dân TP.HCM

Hưởng ứng lời kêu gọi của Thường trực Ủy ban MTTQVN tỉnh Đắk Lắk, ngày 8-7, Hòa Thượng Thích Châu Quang Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk đã ấn ký công văn số 98/CV-BTS vận động rau củ quả, thực phẩm ủng hộ bà con đang cách ly tại TP.HCM Tiếp tục đọc

Nguồn gốc và ý nghĩa của ngày lễ Giáng sinh

Hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết đến ngày lễ giáng sinh hay ngắn gọn hơn là ngày Noel nhưng ít ai biết đến nó xuất phát tù đâu và nguồn gốc của nó như nào hôm nay mình viết bài này để nói rõ hơn cho mọi người hiểu Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Noel, Christmas hay Xmas là một ngày lễ kỷ niệm Chúa Giêsu sinh ra đời, theo phần lớn các tín hữu Kitô giáo. Họ tin là Giêsu được sinh tại Bethlehem (Bêlem) thuộc xứ Judea (Giuđêa) nước Do Thái (ngày nay là 1 thành phố của Palestine), lúc bấy giờ thuộc Đế quốc La Mã, khoảng giữa năm 7 TCN và năm 2
Ngày lễ được cử hành chính thức vào ngày 25 tháng 12 nhưng thường được mừng từ tối ngày 24 tháng 12 bởi theo lịch Do Thái, thời điểm tính bắt đầu một ngày là lúc hoàng hôn chứ không phải nửa đêm. Lễ chính thức ngày 25 tháng 12 được gọi là “lễ chính ngày”, còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là “lễ vọng” và thường thu hút nhiều người tham dự hơn.

Tiếp tục đọc

Phiếm bình về bài thơ Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ – Nguyễn Đại Hoàng

MÂY NÚI ĐÃ NGÀN NĂM … 

 

        Bài Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ là một tuyệt tác!

            4 câu và 20 chữ đủ làm cho tên tuổi Giả Đảo đứng vững vài ngàn năm nữa. Thế nhưng cái hay của bài thơ đâu phải vì độ ngắn của nó. Hoặc có thể nó ngắn nhưng không nhỏ! Nó rất lớn!
            Bài thơ có vẻ như một loại vật chất được tinh lọc và nén rất chặt thành ra hình dạng biểu kiến là rất gọn gàng. Và khi được thả vào một môi trường thích hợp nó lại nở bừng và có khuynh hướng tìm về nguyên trạng như nó vốn có. Đó có thể coi như một sự đàn hồi của thơ!

Bài Thơ Tứ Tuyệt Vô Đề

https://banmaihong.files.wordpress.com/2017/09/1096b-tuesy_sach450.jpg

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ ( Ảnh Hoa Vô Ưu )

 

BÀI TỨ TUYỆT XƯA

 Các bạn thơ chắc ai cũng biết bài tứ tuyệt rất nổi tiếng của TRƯƠNG KẾ (nhà thơ Trung Quốc, thời Đường Túc Tông). Đây là bài thơ.

 Phong kiều dạ bạc

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Tiếp tục đọc

Ba Giao Khúc Đường Thi Cho Xuân – Doãn Lê

 1- TÌNH XUÂN

 Dìu dặt tình xuân lắng phím đàn

Tơ lòng  xao xuyến chuyển mùa sang 

Trinh nguyên- mai nở hồn kim mã

Thanh bạch- đào khoe dáng ngọc đàng

Tiếp tục đọc

Hoàng Hôn – Sunsets

Xem PPS Cảnh Hoàng Hôn do Adriana thiết kế trên nền  nhạc hòa tấu piano bài “Two Candles For Two Hearts” của Ernesto Cortazar, chắc các bạn sẽ cảm thấy có  chút u hoài trước cảnh sắc trầm lắng của chiều tà. Và chợt những câu thơ Đường   về một buổi chiều vàng với bóng hoàng hôn  mở ra trong tâm trí bạn, cùng với hồi ức của những ngày chúng ta đi học hay tha phương xa  nhà nơi đất khách quê người :

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn

Tiếp tục đọc

Lữ Dạ Thu Hoài (Đổ Phủ- Đinh Đức Dược)

Tế thảo vi phong ngạn

Nguy tường độc dạ chu

Tinh thùy bình dã khoát

Nguyệt dũng đại giang lưu

Danh khởi văn chương trứ Tiếp tục đọc

Tảo Thu Độc Dạ ( Bạch Cư Dị – Đinh Đức Dược dịch)

Tảo Thu Độc Dạ

Tỉnh ngô lương diệp động

Lân chữ thu thanh phát

 Độc hướng thiềm hạ miên

 Giác lai bán sàn nguyệt. Tiếp tục đọc

Đăng Sơn ( Đinh Đức Dược dịch)

Chung nhật hôn hôn túy mộng gian

 Hốt văn xuân tận cượng đăng san

 Nhân qua trúc viện phùng tăng toại

 Hựu đắc phù sinh bán nhật nhàn. Tiếp tục đọc

Mục Túc Phong Ký Gia Nhân ( Đinh Đức Dược)

Mục Túc phong biên phùng lập xuân

Hồ lô hà thượng lệ triêm cân

Khuê trung chỉ thị không tương ức

Bất kiến sa trường sầu sát nhân!.

Sầm Tham  

Tiếp tục đọc

Văn Xuân GiangTình – Ký Hữu Nhân ( Đinh Đức Dược)

Vãn nhật đê hà ỷ

Tình sơn viễn họa mi

Xuân thanh hà bạn thảo

Bất thị vọng hương thì. Tiếp tục đọc

Đường thi xướng họa – Bài họa kết (Phạm Phù Sa)

Thân gởi chị Huỳnh Huệ và Ban Mai Hồng.

 Thật cảm động khi trang Ban Mai Hồng đã đăng tải giới thiệu mảng thơ đường luật về Đản sanh. Chưa vội nói về nội dung, cũng đủ thấy trang BMH dung nạp và giới thiệu những gì thuộc về văn hoá và nghệ thuật chính thống, phù hợp với tiêu chí , phương châm hành động của mình, mà đối tượng chính là học sinh, sinh viên. Chị đã mạnh dạn đưa lên một thể thơ mà dường như lớp trẻ bây giờ rất rất hiếm người đọc, chưa nói đến ưa thích, thưởng thức, thẩm định… Tiếp tục đọc

Đường thi xướng họa – Cảm Niệm Đản Sanh (Phù Sa…- Doãn Lê và các thi hữu)

Thân gởi chị Huỳnh Huệ và Ban Biên Tập cùng các Cộng tác viên, bạn đọc BMH.

Mùa đản sanh sắp đến. Thượng toạ Thích Hạnh Niệm-trụ trì chùa Pháp Bảo  Hội An- Q. Nam có sáng tác bài thơ luật Đường “Cảm niệm Đản sanh”. Phạm Phù Sa xin phép phụng hoạ hoà cùng thi hữu gần xa, được thầy chấp thuận.Xin gởi đến Ban Mai Hồng để  giới thiệu bài thơ, và nếu được sự hưởng ứng của anh chị em hưởng ứng hoạ thơ thì thật là diễm phúc.

Thầy Thích Hạnh NiệmPhó Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Tỉnh Quảng Nam. Khi làm thơ Thầy  lấy bút hiệu Kim Tâm. Thầy đã xuất bản nhiều tập thơ cả đạo lẫn đời, phát hành sang tận Mỹ- Úc…Hiện thầy đang là chủ nhiệm tập san HƯƠNG SEN của Thành Hội Phật Giáo Thành phố Hội An, mỗi năm phát hành 3 số vào các ngày đại lễ và Tết NguyênĐán . Chùa Pháp Bảo là nơi đặt văn phòng của Ban BiênTập  và tổ chức các sinh hoạt của Hương Sen.

Kính mời anh chị em cộng tác.

Tiếp tục đọc

Xướng Họa Thơ Đường – Một Thú Vui Tao Nhã (Doãn Lê)

https://banmaihong.files.wordpress.com/2011/05/thoduong.jpg?w=300

Hoạ thơ là thú vui tao nhã của các cụ, cả xưa lẫn nay, trong những lúc trà dư tửu hậu, nhất là vào dịp xuân về. Thơ xướng hoạ có nhiều loại, nhưng được ưa chuộng nhất là thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú, cũng có khi là thơ cổ phong. Thời gian sau này có người xướng hoạ thơ lục bát, nhưng xem chừng thể thơ này không thích hợp nên thấy rất ít phổ biến. Ở đây xin  hạn chế bài viết trong khuôn khổ xướng hoạ thơ Đường luật.    Tiếp tục đọc

Thể Thơ Đường luật – Thất ngôn bát cú

Thi hào Bạch Cư Dị (sinh năm 772- đời Đường)

Thơ Ðường Luật phổ biến trên thi đàn Việt Nam xưa, xuất xứ từ đời Ðường (618-907) bên Tàu, có luật lệ nhất định, thường gọi là Thơ Luật để phân biệt với Thơ Cổ Phong xuất hiện trước đời Ðường không có luật lệ nhất định.

        Thơ Luật có 4 thể: Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt, Thất Ngôn Bát Cú. Thất Ngôn Bát Cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng lại được các Cụ ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, trào phúng, xướng họa, thù tạc, chúc mừng quan hôn, khai bút đầu Xuân… Lúc đầu làm bằng chữ Hán, đến đời Trần, Hàn Thuyên là người đầu tiên làm bằng chữ Nôm, nên Ðường luật còn gọi là Hàn Luật. Từ đó thể Thất Ngôn Bát Cú trở thành độc tôn trên thi đàn, ngay trong các kỳ thi cũng bắt thí sinh làm một bài. Sau đây xin trình bày khái quát về bố cục và luật lệ căn bản của thể thơ này:

Tiếp tục đọc

Chuyện Tình của Hải Thượng Lãn Ông

Một người thầy thuốc tài ba đức độ như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, ông tổ của ngành y Việt Nam, tác giả bộ Y Tông Tâm Lĩnh 66 cuốn, người suốt đời tận tụy chữa bệnh cho mọi người nhưng chỉ mong sao không còn ai bệnh tật để mình được làm một “ông lười” (Lãn Ông) chẳng thú vị sao?

Nhưng thú vị hơn là chuyện tình đầu của ông, được ghi lại khá chi tiết trong Thượng kinh ký sự (*), tập ký viết năm 1783, trên 200 năm về trước:

“Một ngày kia, có hai lão ni đến chỗ tôi ngụ, nói rằng: chùa Huê Cầu đúc chuông lớn, công quả chưa thành, chúng tôi đến đây khuyến hóa”. Thế rồi một lão ni tự giới thiệu mình là trụ trì chùa núi An Tử, còn lão ni kia thì giới thiệu mình là con gái quan tả thừa ty Sơn Nam, quê ở Huê Cầu. “Tôi nghe nói giật mình như tỉnh giấc mơ”, Lãn Ông viết. Sau đó ông tìm cách “hỏi nhỏ một tiểu ni cô trong bọn tòng hành mới hay đây chính là người cũ của mình”. Rõ ràng một lão ni tìm đến một quan nhân (lúc này Lãn Ông đang làm quan thầy thuốc trong triều) để “khuyến hóa” mà lại xưng rõ cái “lý lịch cá nhân” của mình ra như thế hẳn phải có lý do gì đó. Và đúng vậy, chỉ mới nghe qua địa danh Sơn Nam, Huê Cầu thôi đã đủ làm cho Lãn Ông choáng váng… Chuyện đúc chuông, khuyến hóa chẳng qua chỉ là một cái cớ để bà có dịp gặp lại ông.

Tưởng tượng coi, lão ni – người tình cũ của Lãn Ông – đã phải trần tình, năn nỉ, thuyết phục sư bà trụ trì ra sao để sư bà động lòng tạo cơ hội cho hai người gặp lại nhau, chịu cùng xuống núi một phen? Tuy biết khá rõ rồi, nhưng vốn thận trọng, Lãn Ông mới “trắc nghiệm” lại lần nữa, vì biết đâu chỉ là tình cờ trùng hợp, ông bèn kể rõ họ tên quê quán… “Lúc đó chỉ thấy ni cô chùa Huê Cầu mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng, bảo sư bà trụ trì rằng: Thôi, chúng ta đi đi thôi”. Một lão ni nghiêm trang cẩn mật, tuổi tác già nua mà “mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng” rồi còn hối thúc sư bà mau “đi đi thôi” trong một tâm trạng như là dỗi hờn thì thật đáng kinh ngạc. Lãn Ông lúng túng, tìm cách “lưu họ lại không được mới mang ra một ít hương tiền để cúng” rồi hỏi: “Hai lão ni trọ tại nơi nào?”. Họ đáp: “Chưa có nơi nào”, rồi vội vàng từ biệt ra đi. Lãn Ông đâu dễ chịu ngồi yên, ông “vội gọi một tên người nhà linh lợi bảo đi theo sau họ, mà không cho họ biết…”.

Lãn Ông nhớ lại mối tình xưa. Lỗi tại ông. Ông đã nộp đủ lễ Vấn danh, lễ Nạp thái, vậy mà rồi vì một lý do riêng, ông hồi cư về Hương Sơn quê mẹ và xa luôn người vợ sắp cưới của mình để bà phải mỏi mòn trông đợi đến hôm nay mới bất ngờ gặp lại.

Rồi người thiếu phụ đó ra sao? Lãn Ông có dọ hỏi thì biết bà “thề chung thân ở vậy”. Nhiều người hỏi cưới, bà cương quyết từ chối. Sau cùng, bà vào chùa tu. Lãn Ông viết tiếp: “Tôi nghe biết vậy thì tâm thần kinh loạn, than rằng: vì ta bất cẩn trong việc này. Có thủy mà không có chung, khiến cho người mang hận, mà ta mang tiếng là người bạc bẽo. Ta bối rối không biết cách nào để gỡ cái mối ra, mới vội vàng đến Huê Cầu mà tìm hiểu sự việc”. Quả thật, bà đã từ hôn nhiều người chỉ vì lòng bà chỉ có Lãn Ông thôi. Bà thà đi tu chớ không lấy ai khác nữa!

Bà nói: “Đã có người hỏi mình làm vợ thì mình (coi như) đã có chồng rồi, chẳng qua vô phận mà chồng bỏ…”. Trách chi Lãn Ông không tan nát cõi lòng, “tâm thần kinh loạn”. Để chuộc lỗi mình, ông xin bà cho ông được coi bà như “cô em gái nhỏ”, bảo dưỡng bà suốt đời từ đây. Vì bà đã đi tu nên ông đề nghị cất cho bà một cái chùa nhỏ, trong một cảnh vườn vắng vẻ yên tĩnh: “Mùa đông cũng như mùa hè, lạnh ấm đều sẽ do ta lo liệu, một là để báo ân, hai là để chuộc lỗi…”. Bà cố cầm giọt lệ: “Quan nhân có hậu tình, còn tôi chẳng gặp chồng, cái thân cô khổ cũng là do số mệnh vậy, đâu có dám trách ai… Nay tôi được biết tấm lòng tốt này cũng an ủi cảnh linh lạc vậy”.

Và bà từ chối. Và Lãn Ông làm thơ.

Phải, bởi vì đâu có thứ thuốc nào sắc ba chén còn bảy phân mà chữa được cái bệnh của ông bây giờ! Ông viết: Tôi lấy làm thương tình, mới giãi lòng trong một bài thơ như sau:

“Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa

Kim nhật tương khan khổ tự ta

Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ

Song mâu xuân tận kiến hình hoa

Thử sinh nguyện tác can huynh muội

Tái thế ưng đồ tốn thất gia/Ngã bất phụ nhân nhân phụ ngã

Túng nhiên như thứ nại chi hà?”

Dịch:

“Vô tâm nên nỗi lụy người ta

Trông mặt nhau đây luống xót xa

Gượng cười khôn giấu đôi hàng lệ

Tóc bạc che mờ nửa mặt hoa

Kiếp này hãy kết làm huynh muội

Kiếp khác xin hoàn nghĩa thất gia

Ai nỡ phụ ai, ai nỡ phụ

Dở dang, dang dở biết ru mà?”

(Ngô Tất Tố dịch)

Cảm động vì bài thơ “giãi lòng” đó mà bà đã tha thứ cho ông. Lãn Ông viết: “Từ đó thời thường qua lại hỏi thăm nhau”.

Tuổi hạc ngày càng cao, bà chỉ xin ông mua gỗ ở Nghệ An đóng cho bà một cỗ quan tài. Vâng, phải đúng gỗ ở Nghệ An bà mới chịu, vì đây là vùng Hương Sơn quê mẹ Lãn Ông. Có lẽ bà nghĩ lúc sống đã không được nên duyên chồng vợ thì lúc chết ít ra cũng được nằm trong một cỗ quan tài do ông đóng riêng cho bà từ thứ gỗ của quê hương ông vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

(*) Thượng kinh ký sự, Hải Thượng Lãn Ông.

(NXB Văn học, 1993. Bản dịch của Ứng Nhạc Vũ Văn Đình).

Túy-Phượng sưu tầm




Trăng xuân trong Thơ Trần Nhân Tông

Mặt trăng xuất hiện theo một tần số cao trong thơ cổ, đặc biệt là thơ Đường và thường xuất hiện qua một mẫu số chung. Nhà thơ nhìn trăng trên trời rồi quay xuống đất hướng về một người quen, một người thương ở xa mà nhắn nhủ: hai chúng ta cùng chia nhau vầng trăng này. Tình huống đó có thể được trình bày thành một hình tam giác mà đỉnh là mặt trăng tạo thành điểm hội tụ liên kết giữa hai con người, mỗi người ở một góc của cạnh đáy tam giác. Và thông thường trăng xuất hiện trong thơ là trăng rằm, hay ít nhất thì cũng là trăng tròn, trăng gần đạt đến độ viên mãn. Ngoài ra, trăng thường là trăng thu, khi trăng dường như sáng nhất trên bầu trời. Tất nhiên mỗi thi nhân có thể có một cách nhìn trăng khác nhau.

Trăng Vương Duy là trăng bình thản, cô đơn:

Thâm lâm nhân bất tri,
Minh nguyệt lai tương chiếu.
(Trúc lý quán)

Ở trong rừng sâu không ai biết,
Chỉ có vừng trăng đến soi sáng nhau
(Quán Trúc lý)

Trăng Lý Bạch là trăng khắc khoải, thuơng tâm:

Ngã ký sầu tâm dữ minh nguyệt,
Tùy quân trực đáo Dạ lang tê.
(Văn Vương Xương Linh thiên Long tiêu)

Tôi gửi lòng buồn cho vầng trăng sáng,
Theo bạn đến thẳng vùng tây Dạ lang
(Nghe Vương Xương Linh đổi đi Long tiêu)

Trăng Đỗ Mục là trăng bàng bạc, nhạt nhoà:

Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
(Bạc Tần hoài)

Khói lồng nước lạnh, trăng lồng bãi cát,
Đêm đậu thuyền ở bến Tần hoài gần tiệm rượu
(Đậu thuyền ở bến Tần hoài)

Trăng Lý Hạ là trăng mê sảng, ma hiện:

Lão thố hàn thiền khấp thiên sắc,
Vân lâu bán khai bích tà bạch.
(Mộng thiên)

Thỏ già cóc lạnh khóc ướt trời,
Lầu mây hé mở, vách nghiêng trắng
(Mơ trời)

Trăng Lý Thương Ẩn là trăng Hằng nga hay Thường nga:

Thường nga ưng hối thâu linh dược,
Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm.
(Thường nga)

Thường nga hối hận trót lấy trộm thuốc tiên,
Để tấm lòng đêm đêm giữa bể biếc trời xanh
(Thường nga)1

Nhưng nhìn chung, cái đẹp của trăng trong thi ca cũng là cái đẹp của giọt lệ chia ly, của lời than tuyệt vọng, của tiếng hờn lưu lạc. Trăng được mời gọi làm chứng nhân của nội tâm sầu muộn, đắng cay.


Các bài thơ của vua Trần Nhân Tông còn truyền lại cho chúng ta có vẻ nhìn trăng theo những cách thế khác.

Nhà Vua nhiều khi ngắm trăng vào mùa Xuân:

Địa tịch đài du cổ,
Thời lai xuân vị thâm (…)
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.
(Đăng Bảo đài sơn)

Đất hẻo lánh, đài cổ kính,
Theo thời tiết mùa xuân về chưa lâu (…)
Tựa lan can nâng ngang sáo ngọc,
Ánh trăng sáng chan hoà trước ngực
(Lên núi Bảo đài)

Nhất thiên như thủy nguyệt như trù,
Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường.
(Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ)

Trời trong như nước, trăng sáng như ban ngày,
Bóng hoa tràn cửa sổ, mộng đêm xuân triền miên
(Đêm mười một tháng hai)

Cá tam đông bạch chi tiền diện,
Tá nhất biện hương xuân thượng đầu (…)
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ,
Quế lãnh thiềm hàn chỉ má hưu!
(Tảo mai)

Cành hoa trắng xoá suốt ba tháng đông,
Sang đầu xuân chỉ còn loáng thoáng vài cánh thơm nhẹ(…)
Hằng Nga mà biết được vẻ thanh nhã của hoa,
Thì có ưa gì cây quế nơi cung thiềm lạnh lẽo
(Hoa mai sớm)

(…) Trai đường giảng hậu tăng qui viện,
Giang quán canh sơ nguyệt thượng kiều.
Tam thập tiên cung hoành dạ tháp,
Bát thiên hương sát động xuân triều.
(Thiên trường phủ)

(…) Trên trai đường giảng kinh xong các sư về viện,
Quán bên sông mới canh đầu trăng đã lên cầu.
Ba mươi cung tiên đặt giường ngủ la liệt,
Tám nghìn tháp thơm khua động sóng triều xuân
(Phủ Thiên trường)

Trăng trong thơ nhà vua thực sáng (minh nguyệt, nguyệt như trù). Tuy trăng vốn thường xuyên đổi hình, luân phiên tròn rồi khuyết, từ trăng non qua trăng treo, nhưng vành trăng đầy đặn với hình tròn viên mãn là biểu tượng cho sự gần gụi trong tâm tư giữa những người ruột thịt hay quen biết. Hơn nữa, khuôn trăng tròn vành vạnh ươm hy vọng cho một ngày hàn huyên tái ngộ của những kẻ đang tạm thời xa nhau hôm nay, giờ này, giờ thời lai xuân vị thâm.

Cũng cùng một động tác dựa vào (ỷ ) nhưng người thiếu phụ thương nhớ chồng trong thơ Đỗ Phủ vào một đêm trăng vừa cô đơn vừa sầu não:

Kim dạ Phu châu nguyệt,
Khuê trung chỉ độc khan (…)
Hà thì ỷ hư hoảng,
Song chiếu lệ ngân can?
(Nguyệt dạ)

Đêm nay vầng trăng ở Phu châu,
Người trong phòng the chỉ nhìn một mình (…)
Bao giờ tựa rèm cửa sổ trống,
Trăng chiếu cả hai cho khô ngấn lệ?
(Đêm trăng)

còn hoàng đế của chúng ta thì thung dung tự tại trong âm điệu tiêu dao không vang nốt nhạc:

Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.

(Tựa lan can nâng ngang sáo ngọc,
Ánh trăng sáng chan hoà trước ngực)

Trăng nhỏ lệ cô đơn trong thơ Đỗ Phủ, trăng vui vầy đầm ấm trong thơ Nhân Tông. Cùng dưới ánh trăng, nhưng thiếu phụ Trung hoa chia động từ ỷ theo cách giả thiết, còn hoàng đế Việt nam thì chia động từ ỷ theo cách trực thuyết.

Nhà vua ngắm trăng trên núi Bảo đài trong rặng Yên tử. Cảnh vật xung quanh yên tĩnh, khuất vắng (địa tịch); không thấy bóng dáng quần thần tháp tùng, không thấy đội ngũ ngự lâm hộ vệ; chỉ có một cảnh đền đài trang nghiêm cổ kính (đài du cổ ). Trong toàn cảnh không bóng người đó, riêng có ánh trăng đến cùng thi nhân, nhân vật trung tâm của thi phẩm. Trăng sáng nhưng sáng một cách im lặng lạ lùng. Cho nên ( và bởi vì) nghệ sĩ cũng chỉ hoành ngọc địch chứ không thổi sáo ngọc. Hoàng đế tôn trọng ánh trăng, cảm nhận đặc tính vô cơ của nó. Còn ánh trăng thì cũng hoà vào nội tâm của thi sĩ (mãn hung khâm ). Trăng vô cơ trong thơ vua Trần vì trăng không có hình hài, không mang thể chất, khác với trăng hữu cơ, trăng kết nên dáng người trong thơ Lý Bạch, bài Nguyệt hạ độc chước (Dưới trăng uống rượu một mình), kỳ nhất:

Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân.

(Nâng chén mời trăng sáng,
Đối bóng thành ba người)

Cũng là cảnh và tình cô quạnh đơn chiếc dưới trăng nhưng hai hồn thơ vận dụng hai tứ thơ khác nhau.
Đọc ngược bài thơ lên hai câu năm và sáu:

Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm ngữ tâm.

(Muôn việc tựa nước tuôn nước,
Trăm năm lòng lại nhủ lòng)

chúng ta thấy hình thành một trục thời gian bên cạnh khung không gian. Tiếp thu ánh trăng, vua Trần Nhân Tông liên tưởng đến những chuyện đã đi qua, những điều trăm năm cũ. Ở đây, trăng không còn chỉ là phương tiện nối kết hai hay những tâm hồn đồng điệu vào một thời điểm nhất định, mà còn giữ vai trò tạo cách thế đối thoại cho những sự kiện thuộc hiện tại và quá khứ. Người đọc cảm nhận một hình tượng cách tân thi vị. Ý thơ tuy thực quen mà thành ra khá lạ.
Trong những bài thơ khác của Trần Nhân Tông được trích dẫn, trăng thường ý tứ chiếu kín đáo lên cảnh vật riêng tây hiu quạnh, gần như hẻo lánh bí mật, xa cách xóm làng, thành thị, kể cả khi thi nhân ngắm trăng giữa trung tâm đền đài lầu gác. Ngay trong trường hợp có con người hoạt động thì họ cũng lặng lẽ, thậm chí họ còn tìm cách lánh mặt, không hiện diện nữa, họ rút lui khỏi cảnh trăng:

Trai đường giảng hậu tăng qui viện
(Trên trai đường giảng kinh xong các sư về viện)

Những vị sư được mô tả có thái độ âm thầm, điềm tĩnh, hiền hoà, yên lặng. Họ di chuyển nhưng di chuyển nhẹ nhàng, êm ả, trầm mặc. Thực ra họ không bất động mà họ vô vi. Họ hoà mình vào bức tranh trăng, họ như được thể hiện bằng những nét vẽ tĩnh vật. Bởi vì họ vốn là những cao tăng tu hạnh thâm sâu, đối với mọi việc đều không hề động niệm. Nhưng nếu người lặng lẽ thì cảnh lại xao xuyến. Trăng chủ động di chuyển:

Giang quán canh sơ nguyệt thượng kiều
(Quán bên sông mới canh đầu trăng đã lên cầu)

Trăng của vua Trần theo sát thời gian vũ trụ, trăng đúng hẹn đúng giờ. Đó là mảnh trăng đồng điệu với thiên thể ban đêm trong Truyện Kiều.2 Các ngọn tháp lay chuyển trong/theo sóng triều xuân:

Bát thiên hương sát động xuân triều
(Tám nghìn tháp thơm khua động sóng triều xuân)

Ánh trăng không tác động đến nhân thân, không ảnh hưởng vào nhân thể, mà làm ngoại cảnh lung linh, mà khiến vũ trụ rung động. Đến những cánh hoa cũng linh hoạt hẳn lên, chúng rung rinh, chúng gia bội bóng ảnh, chúng trở thành thiên hình vạn trạng trong ánh sáng trăng ngà:

Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường
(Bóng hoa tràn cửa sổ, mộng đêm xuân triền miên)

Tác động quang học đó là hiệu quả ánh trăng sáng như ban ngày trên một bầu trời trong như nước:

Nhất thiên như thủy nguyệt như trù
(Trời trong như nước, trăng sáng như ban ngày)

Nguồn năng lượng ánh sáng từ mặt trăng và cảnh trí quang đãng trong suốt của nền trời tương hợp tương đồng chứ không tương phản tương khắc. Ảnh hưởng tương tác đó giữa hai thành tố vũ trụ học càng tăng thêm bầu khí tượng cách ly, nó vốn là état d’âme của nhà vua khi nhìn hành tinh vằng vặc giữa trời. Xây dựng ngôn ngữ thiên nhiên để nói lên sát na tâm cảnh, đó là cung cách hoàng đế thi sĩ bộc bạch hồn thơ khi lòng mình có điều khó thổ lộ. Ngôn ngữ thường dụng vốn có những hạn chế. Khi tâm hồn như muốn tràn ra khỏi thể chất để hoà lẫn vào ngoại giới thì ngôn ngữ loài người trở thành bất lực. Nhà thơ phải mượn thiên nhiên để phụ giúp mình nói hết tấc nôi, từ đó có ngôn ngữ thiên nhiên trong thi pháp. Chúng ta gặp những tình huống tương tự trong thơ Vương Duy mô tả trăng:

Không sơn tân vũ hậu,
Thiên khí vãn lai thu.
Minh nguyệt tùng gian chiếu,
Thanh tuyền thạch thượng lưu.
(Sơn cư thu mính)

Núi trống hiện ra sau khi mưa dứt,
Khí hậu buổi chiều ra vẻ thu về.
Trăng sáng rọi qua rừng thông,
Suối trong chảy trên ghềnh đá
(Trên núi trong đêm thu)

Thủ pháp hỗ tương mà thuận nghịch đặt thanh tuyền đối với minh nguyệt làm tăng khí quyển mát mẻ trong sáng của thi phẩm. Huống chi núi lại trống (không sơn). Tất cả chỉ có ánh trăng. Một ánh trăng trong veo như nước lọc, theo thơ vua Trần:

Dạ quang như thủy khát cầm sầu.
(Tảo mai)

Ánh đêm như nước khiến chim khát (nước) buồn rầu
(Hoa mai sớm )

Ngôn ngữ thiên nhiên loại trừ mọi giao tiếp giữa người với người theo định nghĩa và từ nguyên tắc. Chỉ có một mảnh tình riêng ta với ta. Trần Nhân Tông và Vương Ma Cật gần gụi đấy nhưng cũng xa cách đấy, tuy rằng cả hai đều thành công trong cố gắng phản ảnh khách quan vẻ đẹp phong cảnh thiên nhiên.

Trong bài Tảo mai, vua Trần lại dùng hoán dụ vay mượn từ thế giới loài cây, loài vật và cả loài người để mô tả trăng xuân:

Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ,
Quế lãnh thiềm hàn chỉ má hưu!
(Hằng Nga mà biết được vẻ thanh nhã của hoa,
Thì có ưa gì cây quế nơi cung thiềm lạnh lẽo)

Những hoán dụ đó là thiềm thừ, nguyệt quế và Hằng Nga, các sinh vật sống trong cung Quảng. Nhất là cây quế, nó xuất hiện khá nhiều lần trong thơ Lý Trần mô tả trăng, chứ chẳng riêng gì trong thơ Trần Nhân Tông. Nguyễn Sưởng còn có nguyên cả một bài Nguyệt trung quế (Cây quế trong trăng). Nhưng cây quế và chú cóc, nếu là những biểu tượng của mặt trăng theo huyền thoại truyền thuyết thì đó cũng là những loài cây loài vật quen thuộc của thực vật chí và động vật chí Việt nam. Thi sĩ gia độ thi vị cho bài thơ qua xoá nhoà ranh giới giữa hiện thực và ảo tưởng. Bóng ảnh cây quế, dáng hình chú cóc huyền hoặc trên vành trăng ráp ghép vào gốc cành cây quế thực vật, gắn bó với điệu ngồi loài cóc sinh học nơi mặt đất. Huống chi thiềm cung là điển tích quen thuộc để chỉ vành trăng, và không chỉ riêng trong thi ca Lý-Trần:

Thiềm cung bóng đã tà tà,
Khuyên rằng mau trở lại nhà với con.
(Trinh thử)

hoặc:

Chim về xao xác lá cây,
Rừng đông đã thấy tròn xoay bóng thiềm.
(Mai đình mộng ký)

Mặt khác, Hằng Nga vốn là một mỹ nhân, một nàng tiên. Vua Trần Nhân Tông tạo ra một tình huống so sánh ghen tương gián tiếp giữa người đẹp cung trăng và hoa mai trần tục, cả hai dường như muốn tranh đua nhau về vẻ đẹp vật chất và tinh thần qua dáng tiên và cánh hoa. Từ đó, Hằng Nga không còn là người tiên của thượng giới, Hằng Nga trở thành một phụ nữ của trần gian, cũng biết ghét bỏ, ganh tị. Dường như bà vợ Hậu Nghệ hối hận vì sự lầm lẫn của mình đã lấy trộm thuốc tiên của Tây Vương Mẫu để rồi phải bay lên cung trăng sống cùng cây quế chú cóc. Cứ mỗi độ xuân về nơi trần thế thì hoa mai lại nở, Hằng Nga đâu có được diễm phúc thưởng ngoạn vẻ đẹp của hoa! Đưa Hằng Nga trở về mặt đất, gán cho nàng hình hài tính nết một phụ nữ nhân gian, thi sĩ phác hoạ nên một hình ảnh pha trộn hiện thực với ảo huyền. Hai câu thơ thật ra không nhắm mô tả chính mặt trăng, mà qua thủ pháp cách điệu của tâm hồn thi sĩ, Hằng Nga quay lại cõi trần để trở thành một thiếu phụ thưởng mai. Nhưng do gốc nguồn huyền thoại, nàng vẫn mang trọn vẹn hào quang thần bí.

Thật ra vua Trần Nhân Tông cũng thể hiện những biểu cảm phức tạp của thế giới nội tâm thông qua cảnh trăng sáng mùa thu, như trong bài

Nguyệt
Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.

Trăng
Đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường,
Móc rơi trên sân thu, khí đêm hư.
Tỉnh giấc không biết tiếng chày ở nơi nao,
Trên chùm hoa mộc trăng vừa mọc

Bài thơ có những ý thơ quen thuộc như thụy khởi, châm thanh. Tuy nhiên nó cũng có những nét mới mẻ. Phong cảnh trăng sáng thuộc về đất trời, nhưng nó phản ảnh vào tâm cảm nhạy bén. Chúng ta có những cảm giác chủ quan, những cảm tưởng thoáng qua; nhưng không phải vì vậy mà sự cảm nhận và mô tả sơ sài, nông cạn. Trái lại chúng ta thấy có sự tham gia của thị giác (ánh đèn, sáng trăng), của thính giác (tiếng giọt sương rơi, tiếng chày nện vải), khứu giác (hương thơm của hoa mộc), và có lẽ cả xúc giác (khí đêm hư). Dạ khí hư chắc đã được cảm nhận khi áp suất không khí trên làn da không còn ở mức bình thường, khi hiệu ứng Torricelli giảm thiểu. Ánh sáng, màu sắc, đường nét chấm phá, cảm xúc tinh tế được nghệ sĩ dồn sức biểu đạt thành những ấn tượng mạnh mẽ và trực cảm về đối tượng mô tả là cảnh trăng, về khoảnh khắc tâm cảnh là tấc lòng xúc động. Dường như nhà vua có thiên hướng chấp nhận rằng cái giá trị hiện thực duy nhất tuy chỉ là thoáng qua, không dễ nắm bắt được, nhưng có thể nhờ hệ thần kinh cảm giác diễn đạt; để qua đó tự phác hoạ chân dung thành một kiểu mẫu con người giải bày suy ngẫm về nhân sinh từ một cái tôi tự phát hầu như vô thức.

Bây giờ xin trở lại điểm xuất phát. Nói chung, qua những bài thơ mô tả trăng mùa xuân, Trần Nhân Tông có thiên hướng mượn trăng làm yếu tố tạo hình hoạ cảnh cho không-thời-gian thi vị. Trong cảnh trăng xuân đó, nhà vua thưởng thức ánh nguyệt một mình. Tuy nhiên ánh trăng xuân trên quê hương Việt nam không lạnh như trong thơ Đường và cũng không tĩnh như trong thơ Đường. Mặt trăng mùa xuân di chuyển, ánh trăng mùa xuân sáng ấm (nguyệt thượng kiều, nguyệt như trù). Và cảnh trăng vừa có đường nét, màu sắc, vừa có hương thơm, âm thanh. Âm thanh, đường nét, màu sắc, hương thơm cùng nhau góp phần tạo sức lôi cuốn cho quá trình biểu hiện tình cảm của thi phẩm. Nhà thơ sắp đặt, kết hợp các yếu tố ngoại văn học qua trật tự riêng tây, nhờ tài năng cá nhân và sáng tạo ra những thi phẩm chúng không còn là màu sắc, đường nét, âm thanh, hương hoa mà chỉ còn là sự sống, là nỗi lòng làm rung động giới thưởng ngoạn. Các bài thơ về trăng xuân của Trần Nhân Tông không đi sâu vào lĩnh vực nhân sinh triết học. Thơ nhà vua trữ tình chứ không suy lý. Vành trăng mùa xuân xuất hiện là để nói thay con người, bằng ngôn ngữ thiên nhiên xây dựng trên ngôn ngữ nhân loại. Ngôn ngữ thiên nhiên được hồn thơ vận dụng một mặt để giao tiếp với nội tâm của mình, mặt khác để ký thác thông tin gửi cho người khác.

Trăng xuân trong thơ Trần Nhân Tông không yếu đuối bi luỵ. Và nhà thơ thưởng trăng xuân tuy chỉ một mình nhưng không cô quạnh đơn độc.

1. Trong thơ Lý Thương Ẩn, trăng rất hay được gọi là Hằng Nga hoặc Thường Nga.  Có thể kể thêm các bài Thu Nguyệt (Trăng Thu), Nguyệt Tịch (Chiều Trăng), Sương Nguyệt (Trăng trong sương), Miệt (Bít Tất), Hằng Nga (Hằng Nga) v.v..

2. Truyện Kiều mô tả vị trí, độ sáng, sắc màu của trăng rất chính xác, tùy theo đêm mới bắt đầu hay đêm sắp tàn.

Khi vầng dương gác núi thì Gương Nga chênh chếch dòm song.
Khi nửa đêm thì Vầng trăng vằng vặc giữa trời.
Khi bình minh xuất hiện thì Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân.

(Trần Văn Tích)

Túy-Phượng sưu tầm.

Hương Xuân Trong Cõi Thơ Thiền

Chư pháp tùng bản lai
Thường tự tịch diệt tướng
Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng.”

(Ý Kinh Pháp Hoa)

Không gì tuyệt đẹp hơn hình ảnh của mùa xuân, khi hoa đào hoa mai hé nở, khi những mầm xanh đang e ấp chờ đợi trăng nước tháng ngày và sự chuyển giao của đất trời để vẫy vùng sự sống. Vẻ đẹp của mùa xuân đã thêu dệt nên những vần thơ rạng ngời hương sắc qua cảm hứng của kim cổ thi nhân; song song với cảnh sắc huy hoàng đó, các thi nhân cũng đã gợi lên vô vàn hình ảnh xuân thì của các cô gái nõn nà hay những mảnh tình xuân phơi phới được thì thầm trong cõi thi ca lung linh sắc màu xuân biếc. Đi vào cõi thơ xuân, bên cạnh những thinh sắc lộng lẫy của trời xuân, chúng ta có thể nhận ra sự nồng nàn, nỗi khát khao vòi või và hụt hẫng khôn nguôi của các thi nhân đối với xuân, bởi vì mùa xuân cứ đến và đi, hững hờ như nước xuôi cầu, và thi nhân thì cứ muốn lưu giữ lại bóng dáng yêu kiều thuở nao của nàng xuân vô thường đó, rồi nức nở… Vượt lên trên những khát vọng về tình sắc mong manh của xuân, các thiền sĩ đã tạo nên một cõi xuân thi với gam màu riêng biệt qua bút pháp thanh tao tiêu nhã và bằng cảm quan siêu thoát trong đời sống bọt bèo hư ảo. Cứ mỗi mùa xuân về lật từng trang thơ thiền, chúng ta có cảm tưởng như đang sống trong cõi xuân huyền nhiệm, rưng rưng đâu đây hoa vàng sắc biếc trong cuộc đời đầy giá buốt xa xăm.

Mở đầu tông phong trong cõi Thiền xuân này là bài thơ Cáo Tật Thị Chúng nổi tiếng của Thiền sư Mãn Giác (1052-1096)- vị cao tăng thời Lý. Bài thơ chỉ có vỏn vẹn ba mươi bốn chữ trong sáu câu nhưng đã bao hàm toàn bộ tư tưởng tinh hoa của Thiền học cũng như tính thể của nguồn thơ,

春去百花落  春到百花開

事逐眼前過

老從頭上來

莫謂春殘花落盡

庭前昨夜一枝梅

Nếu vẻ đẹp của Đường thi là nỗi xuyến xao vời vợi về hai nàng xuân, một trở về một biền biệt như:   

Hoa đào (vn) cưi ct gió đông
Mà nay chng thy bóng hng nơi nao”
(Nhân din bt tri hà x kh
Đào hoa y cu tiếu đông phong).(Đề Đô Thành Nam Trang-Thôi Hộ )

thì vẻ đẹp của Thiền thi trong thơ của Thiền sư Mãn Giác là linh thể bất diệt ngay trong đêm tối diệt sinh, và được phát họa sinh động qua hai câu kết bằng một cành mai vàng nở giữa đêm khuya trước khi xuân đã tàn hoa đã rụng nhưng nào ai hay biết:

Đng nói xuân tàn hoa rng hết
Đêm qua sân trưc mt cành mai.
(Mc v xuân tàn hoa lc tn
Đình tin tc d nht chi mai.)

Mặc dầu chất xuân trong Thiền thi của Thiền sư Mãn Giác không tạo ra nỗi khắc khoải mông lung nghìn đời của nhân thế hoặc không muốn gây nên cảm giác chơi vơi cho người yêu thơ, nhưng bài thơ này đã có một bước bộc phá mới và thôi thúc chúng ta đi tìm sự bí ẩn đã tạo nên vẻ đẹp thanh thoát ly kỳ về nó. Bí ẩn này có thể tạm thời được biết như là cành tâm xuân luôn hiện hữu trong dòng đời buồn tẻ phù hư.

Có thể từ âm hưởng của cành mai Mãn Giác mà các thế hệ Thiền thi Việt nam về sau đều đã tạo nên những sắc phong của cõi tâm xuân thay vì mô tả khung cảnh hữu tình của bướm hoa mây nước:   

Xuân sang hoa bưm khéo quen thì,
B
ưm ling hoa cưi vn đúng kỳ,
Nên bi
ết bưm hoa đu huyn c,
Thây hoa m
c bưm đ lòng chi.”

(Xuân lai hoa đip thin tri thì,
Hoa đi
p ưng tu tin ng kỳ,
Hoa đi
p bn lai giai th huyn,
M
c tu hoa đip vn tâm trì).(Giác Hải thiền sư)

Với tư tưởng “nhậm vận” nên các Thiền sĩ chẳng thấy xuân còn hay mất để rồi ôm ấp những hoài niệm hay mơ về một tiếng pháo xưa khi mùa xuân qua đi:

“…Năm ba ngày na tin xuân đến,
Pháo trúc nhà ai m
t tiế
ng đùng.”(Nguyễn Khuyến)

Đối với Thi nhân, sự xoay vần của mùa xuân và nỗi khát khao về nó đã bắc nhịp cho thơ giao cảm được tiếng lòng của nhân thế; nhưng một lúc nào đó nhà thơ bỗng cảm thấy ê hề với những khát ái bất tận của chính mình trước sự hữu hạn của xác thân như một nghịch lý của tâm và cảnh:

Ngán ni xuân đi, xuân li li,
M
nh tình san s tí con con.”
(Hồ Xuân Hương)

Mảnh xuân vô thường kia cứ đi đi lại lại khiến cho tình đời thêm già nua và tẻ nhạt, vì vậy nhà thơ cứ mãi ao ức níu kéo hương sắc của xuân với thời gian không bến đợi:                                      

Tôi mun tt nng đi
Cho màu đ
ng nht mt;
Tôi mu
n buc gió li
Cho h
ương đng bay đi.
”(Vội Vàng-Xuân Diệu)

Trong khi đó thiền nhân đã có được những phút giây tương ngộ với mảnh chân xuân trong thời gian vô cùng và ý thức về chiếc bóng choàng trên cái sinh thức phiêu bồng vô hạn nên đâu có sắc màu để héo úa nhạt phai:

bao thiên niên k, nhìn mây nưc
git mình, thy bóng vn không phai.. (Lãng Mạn Khúc Du Xuân-CS Liên Hoa)

Chiếc “bóng không phai” là linh thể tối thượng không nhuốm sắc màu thời gian, không bị chi phối bởi bốn mùa mưa nắng rồi cuống lên vì lo sợ ngày xuân vun vút trôi qua “mau vi ch thi gian không đng đi.” (Xuân diệu). Không vồn vã rượt bắt mùa xuân, Thiền thi phác họa nhãn quan linh động với cái nhìn thiền quán về lẽ sắc-không khi mùa xuân đến:

Tui tr chưa tưng rõ sc – không
Xuân v
hoa bưm rn tơ lòng
Chúa Xuân nay b
ta khai phá
Chi
ếu tri giưng thin, ngm cánh h
ng.”
(Niên thi
ếu hà tng liu sc, không
Nh
t Xuân tâm s bách hoa trung
Nh
ư kim khám phá Đông Hoàng din
Thi
n bn b đoàn khán try hng.) (Phật Hoàng Trần Nhân Tông)

Trên căn bản quán chiếu, thơ thiền không bị lôi kéo vào thiên kiến vui buồn thương tiếc của thế nhân với những nỗi chập chờn đơn lạnh nghìn đời của nhân thế khi ngày xuân không bao giờ trở lại như Đông Hồ đã tâm sự:

“Tưng bng hoa n thm ngày xuân
R
c r lòng cô hoa ái ân…
Cô bu
n, cô tiếc, cô ngùi ngm
Cô nh
ngày xuân nh tui thơ
. (Cô gái xuân)
Tuy nhiên một vài thi nhân tài hoa của làng thơ cũng không kém phần kiêu hãnh và ngang tàng khi ghép rượu đề thơ để tạm quên đi ngày tháng đất trời, để không còn bị câu thúc trước sự tàn nhẫn của thời gian đã làm đau thương trái tim của họ. Như Lý Bạch đã thổn thức: “Ði ch là gic mng ln, c gì mà bn lòng, cho nên ta ung rưu say lúy túy, khi tnh rưu mi hay ra xuân v, chim hót trong cành hoa, chng biết hôm nay là ngày nào, ri nhng cm xúc ct lên, ta nghiêng bình rưu trưc cnh sc huy hoàng, và hát khúc ch trăng sáng, khi khúc ca va dt thì tình cũng đã va quên.”

(X thế nhưc đi mng
H
vi lao kỳ sinh
S
dĩ chung nht túy
Ð
i nhiên nga tin doanh
Giác lai mi
n đình tin
Nh
t điu hoa gian minh
Tá v
n th hà nht?
Xuân phong ng
lưu oanh
C
m chi dc thám tc
Ð
i chi hoàn t khuynh
H
o ca đãi minh nguyt
Khúc t
n dĩ vong tình.) (Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn chí)

Tại sao những nhà thơ lớn đôi khi phải dùng đến men rượu như để thách thức và vượt qua những khổ lụy của đời thường? phải chăng trong cơn men say người ta mới cảm giác rằng trường đời là mộng mị? cho nên để đạt được tâm trạng sảng khoái này nhà thơ phải mượn bình rượu như một thú tiêu dao siêu thái trong cõi “siêu phàm nhập thánh?”  

”Thơ mt túi phm đ câu nguyt l
Rưu ba chung tiêu sái cuc yên hà.” (Nguyễn Công Trứ)

Trong cõi Thiền, vạn vật là đối tượng để cho người nhập đạo quán chiếu và trãi nghiệm; trong đời sống thường nhật cũng như trong thi ca, thiền không tạo ra những cảm giác khắc khoải chập chờn giữa mộng và thực thay vì nó điều phối sắc màu mùa xuân qua cái nhìn về thực tại một cách sinh động và hài hòa:

Trúc biếc hoa vàng đâu cnh khác
Trăng trong mây bc hin toàn chân.
(Thúy trúc hoàng hoa phi ngoi cnh
Bch vân minh nguyt l toàn chân.) (Thiền Lão Thiền Sư)

Hay

Trùng dương Cúc n dưi rào
Trên cành Oanh hót thanh tao du dàng.” (Thiền sư Viên Chiếu)

Xa hơn, thơ thiền vượt thoát yếu tố của định luật nhị nguyên được giới hạn giữa người và cảnh, giữa tâm và vật, giữa một và hai …: Sông xưa chy mãi làm đôi ng, ta biết xuân nhau có mt thì.(Cô Lái Đò-Nguyễn Bính). Thiền thi tiêu diêu trong vẻ đẹp thanh thoát của đóa xuân vô tướng mà nhà thơ đã cảm nghiệm và tương phùng trong cái nhìn vô sai biệt:

Ngưi trên lu hoa dưi sân
ưu ngi ngm khói trm xông
Hn nhiên ngưi vi hoa vô bit
Mt đóa hoa vàng cht n tung”
(Hoa ti trung đình, nhân ti lâu
Phn hương đc ta t vong ưu
Ch nhân d vt hn vô cnh
Hoa hưng qun phương xut nht đu.) (Thiền sư Huyền Quang-bản dịch của Nguyễn Lang)

Người với hoa không là hai, chỉ có sự nở tung của cành hoa hay là thực tướng nghìn đời hiển hiện trong giây phút thực tại mầu nhiệm; với lối diễn đạt này giúp cho người đọc thôi đi việc đuổi hình bắt bóng thay vì trực nhận ảo giác của chính mình trên cành xuân đó:

Hoa pháo đ thm này
Mơ xuân b kia
Đôi b đu như mng
Xuân – Thu đâu kìa? (Xuân cảm-Vĩnh Hảo)

Vì quá nao nức nên thi nhân không thể nhận diện được mùa xuân hiện hữu ngay tại đây trong phút giây hiện tại và không thể sống trọn vẹn ngay cả trong cuộc mộng du của chính mình:

Vì say sưa quá nên tôi đã
Đem đ hn xuân xung sui h! (Xuân-Nguyễn Bính)

Mùa xuân trong thơ thiền không có pha chế những sắc màu man mác, thương sầu lẫn lộn để thôi miên người đọc cùng thổn thức nhịp đập chung của trái tim nhân thế hoặc “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,” nhưng nó vẽ nên một phong thái dung nhiếp thực tại giữa người và cảnh hay đúng hơn là bản chất “tuỳ duyên” trong bối cảnh không-thời gian khác biệt: xuân nương du thảo địa, hạ hưởng lạc hạ kỳ…” Với điểm nhắm vào thực tại, Thiền thi dù vô tình hay cố ý cũng đã quên đi sắc màu thời gian quá khứ:

Sng ngày nay biết ngày nay
Còn Xuân Thu trưc ai hay làm gì!
n tri kim nht nguyt
Thùy thc cu Xuân Thu.) (Thiền Lão Thiền Sư)

Vì theo nhãn quan của thiền, quá khứ hay tương lai đều nằm trong khoảnh khắc ý thức; cuộc đời khác gì giấc mộng Trang Sinh, cho nên ý niệm về thời gian xa và gần trước hay sau cũng chỉ là ảo tưởng phủ choàng ảo tưởng; cho nên tự nghìn đời xuân chẳng có gì xa xôi cả:

“Ta gi xuân v, xuân bưm bay
Trang Sinh nm mng biết bao ngày
Thi gian dù có nghìn năm na
Xuân đến lâu ri ai có hay.(Gọi Xuân Về-Huyền Không)

Hay nói theo cách của thi sĩ Bùi Giáng:

Thưa rng ly bit mai sau
Là trùng ng gia hươ
ng màu Nguyên Xuân.”(Chào Nguyên Xuân)

Với lập trường “phản bổn hoàn nguyên” và tư tưởng lạc quan, các Thiền sĩ đã thổi chất xuân vào hồn thi ca Việt Nam một cách siêu thái. Ý niệm về bản thể tuyệt đối được lồng trên sắc màu xuân cảnh và tạo nên sự hài hòa giữa chủ thể và đối tượng qua nội dung và cấu trúc của mạch thơ. Chu du trong cõi thơ thiền, người mới vừa nhập môn có cảm thái bàng hoàng như chợt nghe tiếng pháo xuân nổ vang giữa mộng và thực, giữa tỉnh và say, nhưng sau phút giây ngơ ngác đó không ai không một lần ước ao tương ngộ cảnh giới bí huyền với lãng đãng đâu đây cành mai nở vàng trong đêm tối khi xuân đã âm thầm hờ hững ra đi.

.

Thích nữ Tịnh Quang

Chùa Huê Lam, Garden Grove 2011

( Thư viện Hoa Sen)

Phong đái Thiên sơn đạo sĩ bất ngộ

Phong đái Thiên sơn đạo sĩ bất ngộ

.

Khuyển phệ thủy thanh trung,
Đào hoa đới vũ nùng.
Thụ thâm thời kiến lộc,
Khê ngọ bất văn chung.
Dã trúc phân thanh ái,
Phi tuyền quải bích phong.
Vô nhân tri sở khứ,
Sầu ỷ lưỡng tam tùng.

.

Lý Bạch



Dịch nghĩa

.

Tiếng chó sủa hoà lẫn trong tiếng suối.

Trời mới mưa hoa đào tươi tốt.

Hươi nai thấp thoáng trong bụi rậm.

Tiếng chuông giữa trưa không còn nghe bên suối.

Trúc rừng trải một màu xanh.

Thác treo lơ lửng như bức tường.

Không có người để hỏi thăm đạo sĩ đi đâu.

Buồn nên đứng, ngồi tựa vài gốc thông.

.

Dịch thơ:

.

Thăm Đạo Sĩ Thiên Sơn Không Gặp

.

Suối reo trong tiếng chó vang.

Hoa đào mưa thấm lại càng tươi hơn.

Hươu nai bụi vắng chập chờn,

Giữa trưa bên suối đâu còn tiếng chuông.

Tre rừng xanh mượt phủ buông,

Thác treo lơ lửng bay tuôn vách dài.

Muốn tìm đạo sĩ hỏi ai!

Buồn buồn ngồi, đứng tựa vài gốc thông.

.

Nguyên Vũ

Đăng Tùng Giang Trạch Lâu Bắc Vọng Cố Viên

.

Đăng Tùng Giang Trạch Lâu Bắc  Vọng Cố Viên

Lệ tận giang lâu vọng bắc qui

Điền viên dĩ hãm bá trùng vi

Bình vô vạn lý hà nhân khứ

Lạc nhựt thiên sơn không điểu phi!

Cô chu dạng dạng hàn triều tiểu

Cực phố thương thương viễn thọ vi

Bạch oa, ngư phủ tùng tương đãi

Vị tảo sàm thương lại tức ky.

Lưu Trường Khanh

Dịch nghĩa

Lên Lầu Trạm Trùng Giang Trông Về Quê Phương Bắc

Lên lầu Trùng giang nhìn về phương bắc lệ đã cạn

Ruộng vườn bị trăm thứ áp bức tròng vào!

Đất bằng vạn dặm không người đến

Chiều xuống núi ngàn không có chim bay

Chiếc thuyền lẻ loi nhấp nhô trong sóng lạnh

Bến vắng cây đã mọc um tùm

Chim nước, ông chài cùng đợi và nghĩ

Chưa quét sạch giặc họa, thì không có cơ may về quê.

*********

Dịch thơ Lục Bát

Lầu sông mắt đẫm trông về

Ruộng vườn tròng ách trăm bề bủa vây!

Đồng không nhà trống ngút ngày

Núi ngàn chim chóc chiều bay đi rồi!

Ven bờ neo lạnh thuyền côi

Bến hoang cây mọc đơm chồi phất phơ!

Ngư Ông, chim nước cùng chờ

Chưa xua giặc họa, đâu giờ vê quê?

.

Nguyên Vũ

Trương Tiến Tửu

Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy

Thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi !
Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết?
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử thiên tôn không đối nguyệt
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,
Thiên kim tán tận hoàn phục lai.
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc,
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.
Sầm phu tử!
Đan Khâu sinh.!
Tương tiến tửu,
Bôi mạc đình!
Dữ quân ca nhất khúc,
Thỉnh quân vị ngã khuynh nhỉ thính.
Chung cổ soạn ngọc bất túc quý,
Đản nguyện trường túy bất nguyện tinh
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
Trần Vương, tích thời yến Bình Lạc,
Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước.
Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền,
Kính tu cô thủ đối quân chước.
Ngũ hoa mã,
Thiên kim cừu,
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

.

Lý Bạch

Dịch nghĩa

.

Cùng Mời Rượu

.

Anh  không thấy nước  sông Hoàng Hà,

Từ trời cao đến vội chảy về đông chẳng quay đầu lại

Anh không ngắm gương sáng trên nhà buồn cho tóc bạc,

Sáng như tơ xanh, chiều đã thành tuyết.

Người sống lúc đắc ý phải vui cho trọn,

Đừng để đáy ly không mặt trăng chiếu.

Trời sinh ta có tài tất có việc dùng.

Ngàn vàng tiêu hết, rồi sẽ có lại.

Giết trâu, mổ dê thả sức mà vui.

Dồn lại uống một lần 300 cốc.

Này : Phu Tử Sầm, Tiên sinh Đan.

Cùng mời nhau nâng, đừng dừng ly.

Vì các anh tôi ca một bài,

Mời anh vì tôi nghiêng tai mà nghe.

Trống chiêng vàng ngọc không đủ quí.

Chỉ nguyện cho say mãi không muốn tỉnh.

Người xưa thánh hiền đều mai một cả,

Chỉ có uống mới để tiếng muôn thuở.

Thời xưa, vua Trần mở tiệc ở Bình Lạc,

Dùng mười ngàn đấu rượu để mua vui.

Này chủ quán đừng sợ thiếu tiền mà ngại,

Xin mời cùng tôi cứ luân phiên rót.

Đây: Ngựa ngũ hoa, áo long cừu,

Bảo trẻ đem đi đổi lấy rượu ngon.

Cùng tôi để tiêu đi cái sầu vạn cổ.

.

Dịch Thơ

.

Anh không thấy nước Hoàng Hà,

Nguồn trời nôn chảy thẳng đà về đông,

Đổ xuôi nước chẳng ngược dòng.

Sao anh không ngắm gương trong trên nhà?

Tóc xanh buổi sáng mượt mà,

Về chiều bạc trắng như là tuyết rơi.

Hứng thì cứ trọn vui chơi,

Đừng cho chén ngọc cạn phơi trăng vàng.

Đã tài chi sá lo toan,

Của muôn tiêu hết sẽ hoàn lại ngay.

Trâu dê mổ để vui say,

Dồn ba trăm cốc uống ngay một lần.

Này: xin hai bác Đan, Sầm,

Mời nhau cứ cạn đừng phân nào dừng.

Tôi vì hai bác hát mừng,

Vì tôi yên lặng nghe từng khúc ca.

Trống, chiêng ngọc quí đâu mà,

Nguyện say, say mãi lọ là tỉnh chi?

Thánh hiền xưa cũng quên đi,

Riêng người uống rượu danh ghi đời đời.

Xưa Trần Vương, mở tiệc chơi,

Mười ngàn vò rượu mua vui chẳng phiền.

Quán ơi, đừng ngại thiếu tiền,

Cùng tôi, mời cứ luân phiên rót đầy.

Áo cừu, ngựa quí sẵn đây,

Bảo trẻ đem hết đổi ngay rượu đào.

Nâng lên ta cạn đi nào,

Cùng tôi tiêu hết nỗi sầu nghìn thu.

.

Nguyên Vũ dịch

Quá Tiền An Nhị Trương Minh Phủ Giao Cư

.

Tịch liêu đông quách ngoại

Bạch thủ nhất tiên sinh

Giải ấn cô cầm tại

Di gia ngũ liễu thành

Tịch dương lâm thủy điếu

Xuân vũ hướng điền canh

Chung nhật không lâm hạ

Hà nhân thức thử tình.

Lưu Trường Khanh

 

Dịch nghĩa

.

Qua Nơi Ở của Trương Minh  Cựu Tri Phủ

.

Ngoài thành đông vắng vẻ

Một vị tiên sinh đầu đã bạc

Từ quan về, còn lại cây đàn

Dời nhà tới năm gốc liễu làm thành

Chiều xuống ra sông câu

Có mưa xuân lo việc đồng áng

Suốt ngày chẳng thiết ra khỏi núi

Nỗi niềm này ai là người biết đâu ?

 

Dịch thơ

Phía đông quạnh quẽ ngoài thành

Bạc đầu có vị tiên sinh – gỡ gàn

Từ quan còn lại cây đàn

Dời nhà đến ở chung hàng liễu reo

Suối khe câu cá chiều chiều

Chờ mưa xuân đến cấy gieo thuận thời

Núi kia chẳng thiết ngày rời

Nỗi niềm trắc ẩn ai người biết đâu?

.

Nguyên Vũ

Viết ở Gốc Liễu Cầu Phần Quận Bình Dương

Đề Bình Dương Quận  Phần Kiều Dương Liễu Thụ

Thử địa tằng cư trú

Kim niên uyển tợ qui

Khả liên Phần thượng liễu

Tương kiến giả y y.

.

Sầm Tham


Dịch nghĩa

Viết ở Gốc Liễu Cầu Phần Quận Bình Dương

Đất này trước đây đã từng ở

Nay trở về thăm lại vườn xưa

Niềm yêu quí rặng liễu xanh ở cầu Phần

Nay nhìn lại mọi điều vẫn không thay đổi.

Dịch thơ:

Thưở xưa từng ở đất này

Nay về thăm lại – vẫn đây vườn mình

Cầu Phần bên rặng liễu xinh

Nhìn nhau chan chứa bao tình …ngày nao

.

Nguyên Vũ

Dịch Thuỷ Tống Biệt

Dịch Thuỷ Tống Biệt

Thử địa biệt Yên Đan

Tráng sĩ phát xung  quan

Tích thời nhân dĩ một

Kim nhật thuỷ do hàn.

.

Lạc Tân Vương

 

Dịch thơ ngũ ngôn

Trên Sông Dịch Tiễn  Biệt

.

Yên Đan tiễn đất nầy.

Tráng sĩ tóc xừng ngay

Người xưa chừ đã mất.

Sông lạnh còn ngày nay.

.

Dịch thơ lục bát

 

Đất nầy giã biệt Yên Đan

Nặng tình tráng sĩ, tức gan, tóc xừng.

Người xưa đã mất tích tung.

Ngày nay nước vẫn lạnh lùng chảy xuôi.

.

Nguyên Vũ

Không đề – Thơ đề trên vách

.

Vô Đề

Nhị cú tam niên đắc.

Ngâm thành  song lệ lưu

Tri âm như bất thức.

Qui ngoạ cố sơn thu.

.

Giả Đảo

Không  đề

.

Ba năm rút được hai câu thơ.

Ngâm lên đôi hàng lệ chảy !

Nếu tri âm mà không cảm được.

Quay về nằm lại với gió núi, mây thu ngày nào.

.

Dịch thơ

Không  đề

Ba năm thơ nén hai câu.

Ngâm lên đôi mắt rơi châu thành dòng !

Tri âm ví chẳng thấu lòng.

Quay về thu cảnh sơn phong ngày nào !

.

Nguyên Vũ

.

Bích thi

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
Đào hoa y cựu tiếu Đông phong.

.

Thôi Hộ

.

Thơ đề trên vách

.

Năm ngoái ngày này cũng tại cửa này.

Mặt người và hoa đào cùng hồng soi nhau.

Nay ngươi không biết ở nơi nao ?

Chỉ còn lại hoa đào năm cũ cười với gió đông.

Dịch thơ

.

Bên song năm ngoái ngày này.

Hoa đào cùng với má ai sánh hồng.

Nay người đâu xứ duỗi rong?

Còn hoa đào với gió đông cợt cười.

.

Nguyên Vũ

Ngắm trăng (Vọng Nguyệt)

Vọng Nguyệt

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung,

Bán tợ ngân câu, bán tợ cung.

Nhứt phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,

Bán trầm thuỷ để bán phù không.

.

Dã Tăng

.

Dịch nghĩa:

Ngắm Trăng

.

Mồng ba, mồng bốn trăng còn mờ,

Khi thì nhìn như cung uốn, khi như móc ngọc.

Một mảnh, mặt hồ đã chia làm hai,

Nửa chìm đáy nước, nửa nổi trên không.

 

Dịch thơ

.

Ngắm Trăng


Mồng ba, mồng bốn trăng mờ,

Khi như cung uốn, lúc trơ móc dài.

Hồ chia một mảnh làm hai,

Nửa in đáy nước, nửa cài tầng không.

.

Nguyên Vũ

 

****

Lời Giới Thiệu Thiên Gia Thi

Giao du đã lâu, nhiều lần trò chuyện cùng Nguyên Vũ, tôi phải gồng đủ mười thành công lực Hán Nôm còm cõi mà nghe anh bình thơ Đường. Càng lúc ta càng nhận ra nơi anh một ý chí hừng hực và một kiến văn quảng bác. Cuối cùng anh đã khẳng định chắc chắn nhận thức của tôi bằng tập  “Thiên Gia Thi” này.

Tôi là người  dạy văn nên cũng ý thức thế nào là công việc dịch. Vì tôi hiểu, dịch không chỉ là phiên mà còn là tác. Không chỉ thay áo ngoại mặc áo nội mà phải làm sống dậy cả cái thần hồn của con người phương xa vốn không quen thuỷ…thổ xứ mình nên còi cọc ngay từ khi nhập tịch. Với tôi, muốn thẩm định một bài thơ dịch trước hết phải tách nó ra thành độc lập, ngâm vang nó lên, rồi nghe ngóng thử có cái điệu thi âm huyền diệu nào không. Bài nào mà ngóng mãi, gõ mãi vẫn chưa trồi ra điệu tâm tư nào thì chỉ còn cách vứt đi. Đó là tác. Cuối cùng, phải đặt nó vào miền xác định nguyên bản. Đó là phiên.

Tôi đã  đọc “Thiên Gia Thi” của Nguyên Vũ một cách thận trọng như thế. Vừa nghe ngóng để chấp nhận, vừa so đo để bằng lòng. Và trong tôi “ Vọng Nguyệt” ( Dã tăng), “Phùng nhập kinh sử” ( Sầm Than),  “Hồi hương ngẫu thơ” ( Hạ Tri Chương), là những bài dịch hiếm có.

Tuy chưa thật toàn thập, song ở một mức độ nào đó, tôi đã đối thoại được với những thi nhân xưa bằng chính giọng điệu của Nguyên Vũ.

Tôi nghĩ dạy thơ, dịch thơ có lẽ cũng cùng chung cái khó của người phù thuỷ cầu hồn. Tránh sao khỏi những lúc Hồn Trương Ba da hàng thịt. Hãy để việc vạch lá tìm sâu cho những chàng khó tính. Tôi chỉ biết mình rất trân trọng bước  “độc hành” của anh. Khi người đời sa vào cuộc chơi mà ăn thua tính bằng nhân cách thì anh lặng lẽ tìm đến với thơ xưa, âu cũng là một kiểu “độc hành kì đạo”. Bởi khoái trò chơi lặng lẽ và ngược ngạo nên bạt đôi lời làm tin, cũng là kiểu cạn chén “trăm phần trăm”.

.

Nguyễn Tấn Ái

Hoàng Hạc lâu

 

 

Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du!

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

.

Thôi Hiệu


Dịch nghĩa

Lầu Hoàng Hạc

Người xưa đã cởi hạc vàng bay đi

Đất này còn trơ lại lầu Hoàng Hạc

Lần đi hoàng hạc không trở lại,

Mây trắng ngàn năm vẫn lững lờ trôi.

Trời nắng cây ở song Hán Dương in đáy nước.

Đất Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn

Trời về chiều mà quê hương ở xứ nào.

Chỉ khói sóng trên sông khiến cho người buồn.


Dịch thơ

.

Người xưa cởi hạc  vàng bay.

Nay lầu Hoàng Hạc còn đây một mình.

Lần đi hạc chẳng quay nhìn.

Nghìn năm mây trắng lặng thinh bay hoài.

Hán Dương đáy nước in cây.

Cỏ thơm Anh vũ gió lay mượt mà.

Chiều hôm khuất bóng quê nhà.

Sông khơi khói sóng, người da diết buồn.

.

Nguyên Vũ


Ghi Chú:

Hoàng Hạc lâu là một ngôi tháp lịch sử, thường được xây đi xây lại đứng ở trên Xà Sơn thuộc thành phố Vũ Hán của Trung Quốc. Hoàng Hạc lâu được xem là một trong bốn tứ đại danh tháp  của Trung Quốc (Hoàng Hạc lâu, Đằng Vương các, Nhạc Dương lâu và Bồng Lai các).

Lầu Hoàng Hạc đầu tiên được xây dựng ở trên ghềnh đá Hoàng Hạc, thuộc huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc vào năm Hoàng Vũ thứ 2 đời nhà Ngô thời Tam Quốc (223 Tây Lịch). Đến nay suốt 1762 năm đã có 12 lần bị thiêu hủy, 12 lần xây cất lại, mỗi lần lại cao hơn và có nhiều tầng hơn.

Tên gọi ” Lầu Hoàng Hạc ” bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian.

Tương truyền Phí Văn Vi, một tu sĩ đắc đạo thành tiên thường cỡi hạc vàng ngao du sơn thủy. Một hôm, tiên và hạc bay ngang Vũ Hán và dừng chân lại trên “Đồi Rắn” để nhìn ngắm, một bên là cảnh đẹp hùng vĩ của Trường Giang và bên kia là Ngũ Hồ trong khói sương diễm lệ. Người đời sau đã từ nơi tiên cưỡi hạc vàng bay đi xây lên một tháp lầu đặt tên là Hoàng Hạc Lâu. Tháp hiện nay là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Lầu Hoàng Hạc ngày xưa là nơi gặp mặt tao đàn của các văn nhân mặc khách đương thời. Trong thời Đường (618-907), các thi nhân đến Hoàng Hạc Lâu để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.

Còn có  những truyền thuyết như sau :

* Khi lầu này mới mở, có một đạo sĩ vào uống rượu, uống xong ra sân dơ tay lên trời vẫy. Một con hạc sà xuống và đạo sĩ cưỡi lên lưng con hạc bay đi trước mắt các thực khách.

* C̣òn chuyện nữa là khi đạo sĩ uống rượu xong không có tiền trả mới vẽ một con hạc lên trên vách  và bảo chủ nhân rằng :

“Khi có khách hãy kêu hạc xuống múa”.

Chủ quán nghe theo và từ đó quán chật khách vào uống rượu và xem hạc  vũ. Ít lâu sau, đạo sĩ trở lại hỏi chủ quán rằng :  “Tiền thâu trong bấy nhiêu ngày đã bù được tiền rượu ta thiếu bửa trước hay chưa ?”

Rồi cười vẫy hạc xuống cưỡi bay đi !

Ngoài ra, theo sử liệu Lý Kiết Phủ đời Đường trong tập ‘‘Nguyên Hòa Quận Huyện Chí’ ghi chép:

‘‘Năm thứ hai Ngô Hoàng Vũ (tức năm CN 223), thành Giang Hạ là thành trì trấn giữ chống sự xâm nhập của các bộ tộc phía Tây. Phía Tây thành này gần sông lớn, góc Tây Nam là cồn cát đá nên lập một lầu canh, gọi là Hoàng Hạc Lâu.“ Như vậy, tiền thân của Hoàng Hạc Lâu là một lầu canh gác dùng cho mục tiêu quân sự.

Hoàng Hạc l âu nổi tiếng nhờ bài thơ Hoàng Hạc lâu của nhà thơ Thôi Hiệu

Thôi Hiệu (khoảng năm704-754) thi sĩ thời Đường, quê Biện Châu (nay thuộc Khai Phong, Hà Nam). Thuở nhỏ thích ngao du đây đó. Để lại cho hậu thế khoảng hơn 40 bài thi, trong đó nổi tiếng nhất là bài ‘‘Hoàng Hạc Lâu“ mà Lý Bạch cho rằng mình cũng không sánh bằng.

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: