• Tháng Tám 2017
    H B T N S B C
    « Th7    
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    28293031  
  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Categories

  • Tag

  • Join 1 213 other followers

Kỷ niệm vầng trăng( Thịnh Hoa)

_K1_2.jpg

Mấy chục năm về trước, ở quê tôi

Trăng thay ánh điện, trăng thay đèn dầu,

Dưới ánh trăng vàng  rọi sáng góc sân,

Người nông dân đập lúa, đào kênh dẫn thủy… Tiếp tục đọc

Buồn Vui Chuyện Nhà Giáo Và Tuổi Học Trò

Trong quãng đời học sinh phổ thông có biết bao nhiêu chuyện vui buồn mặc dầu đời học sinh chan chứa bao sự hồn nhiên, vô tư và trong sáng.

Tôi vẫn chẳng thể nào quên được một câu chuyện buồn xảy ra cách đây cũng khá lâu , khi tôi về trường dạy học được mấy năm .

Đó là năm tôi chủ nhiệm lớp Chín , phần lớn các em là học sinh vùng nông thôn , chỉ duy nhất có  em Lê Trung Nam(lớp phó học tập) là con em cán bộ Nhà nước.Nam khá thông minh, lanh lợi và hài hước .Dáng người cậu bé này nhỏ nhắn , giọng nói trong trẻo, âm sắc cao vút (có lẽ là lúc bấy giờ cơ thể em chưa phát triển hoàn chỉnh , nói cách khác là em vẫn chưa vượt qua tuổi trăng rằm chăng?)

Cùng học chung lớp có em Nguyễn Thị  Quỳnh .Chẳng hiểu sao mà Nam và Quỳnh như mặt trăng với mặt trời ,Nam ghét Quỳnh  ra mặt ? Thời bấy giờ Quỳnh là cô bé xét về diện mạo tuy không xinh xắn như vài cô bé  khác trong lớp nhưng mặt nổi trội của em là có năng khiếu về văn nghệ. Em từng dẫn chương trình nhiều buổi biểu diễn Văn nghẹ của trường và để lại khá nhiều ấn tượng trong giới học trò. Các đợt tập dượt tôi đã lập được một đội văn nghệ và cử em Quỳnh làm đội trưởng.Em cũng là lớp phó phụ trách văn thể mỹ và  đã có nhiều đóng góp cho phong trào Đoàn thanh niên. Em từng dẫn chương trình nhiều buổi biểu diễn Văn nghẹ của trường và để lại khá nhiều ấn tượng trong giới học trò  nhưng lực học của em lại không đều nên chỉ xếp kết quả chung là Trung bình. Bù lại em lại có thiên hướng về các môn xã hội mà nổi trội nhất là môn Ngữ văn.

Được biết Nam đã từng xoẹt hộp quẹt để phóng hỏa làm cháy tóc Quỳnh, rồi sau đó còn xé vở của Quỳnh khi Quỳnh phản ứng về những trò đùa nghịch của Nam. Đó  là việc làm dại dột mà theo tôi nhìn nhận bây giờ là “vô nhân tính” – tuy vẫn biết rằng tuổi trẻ con vẫn chưa hết bồng bột, nông nổi. Không suy nghĩ thấu đáo, không tính đến hậu quả mọi việc, mọi trò quậy phá tai ác… thường là đẳng  cấp  thứ ba (Nhất quỷ- Nhì ma- thứ Ba học trò là thế !)

Chưa hết, cậu ta còn viết những lời thô tục lên bảng để nói xấu, rồi chửi rủa Quỳnh bao lời lẽ hết sức thô tục ! Tồi tệ hơn, khi chuẩn bị kết thúc năm học, trả sách cho Nhà trường , chẳng hiểu sao mà cậu ta còn vu khống rằng Quỳnh đã tráo đổi bìa sách thay cho ruột một cuốn sách khác (gọi là “treo đầu dê bán thịt chó”).

Nỗi  oan ức  như  trời  giáng , nhiều bạn bè đã thanh minh cho Quỳnh, em  đã khóc hết nước mắt để thanh minh rằng em không hề làm vậy.

Ấy thế mà, mỉa mai thay ! đáng trách thay!  tôi lại tin Nam  mà không phải là Quỳnh, tôi còn trách móc Quỳnh là thiếu trung thực (?!?).

Khi lớp tổ chức buổi liên hoan chia tay, Quỳnh không có mặt mặc dù Quỳnh vẫn nạp tiền liên hoan cho lớp,Quỳnh làm giấy xin phép nghỉ v à  gửi lại tôi qua một học sinh khác( lí do Quỳnh có đám giỗ mãn tang ông ngoại !?       Mãi sau này tôi mới nghĩ ra đằng  sau lí do Quỳnh không dự buổi liên hoan, buổi gặp mặt cô giáo và bè bạn  năm học cuối cùng do tôi chủ nhiệm l ại  chuyển sang một  hướng  kh ác ( Quỳnh không tự ái mà là vì Quỳnh xấu hổ khi tôi và một số bạn vẫn cố hiểu lầm Quỳnh là người gian dối và Qu ỳnh quyết đòi lại bằng  được  danh dự và sự công  bằng )

Rồi một ngày, sau  khi chúng tôi nhận quyết định đi làm công tác thi tốt nghiệp, thầy Hiệu trưởng đã gặp riêng tôi và trao đổi

-Có một học sinh lớp cô là Nguyễn Thị Quỳnh,chính hôm lớp cô tổ chức liên hoan đã đến gặp tôi kể cho tôi nghe mọi chuyện mà bao lâu nay em âm thầm chịu đựng. Nào chuyện em bị một bạn cũng là một lớp phó phụ trách học tập chuyên hà hiếp: chuyện em bị  phóng hỏa đốt tóc, chuyện bị xé vở, rồi còn nhiều chuyện mà suốt mấy năm học qua em đã phải câm nín trong lòng. Mãi hôm nay, bức xúc nhất vẫn là chuyện trả sách giáo khoa cho Nhà trường ( thời bấy giờ trường chúng tôi có chủ trương xây dựng tủ sách giáo khoa dùng chung cho học sinh nhưng sách cũng thiếu trầm trọng ) em mới có dịp gặp tôi để báo lại vì em bảo cô chủ nhiệm không tin em, không để em được thanh mính.

Ồng Hiệu trưởng im lặng hồi lâu, rồi tiếp :

-Em Quỳnh vừa nức nở vừa báo cho  tôi trong tâm trạng ấm ức về chuyện hiện tượng trà trộn sách giáo khoa ở lớp cô. Cô xử sự thế nào chứ tôi không tin học sinh Quỳnh này có thể làm chuyện đó vì trông em rất chân chất, thật thà.Vả lại, một khi một học sinh đã trực tiếp gặp Hiệu trưởng mà không phải là Giáo viên chủ nhiệm là cả một vấn đề vì cô thấy đấy, học sinh ở đây rất rụt rè , hiếm thấy em  nào dám đến gặp Hiẹu trưởng

Rồi ông nói tiếp :

–   Cô Lương à, là một giáo viên chủ nhiệm liên tục hai năm với đối tượng học sinh của nguyên  một lớp , lẽ nào cô không hiểu tâm lí tuổi học trò ? Đã có khi nào cô có cách nhìn thiển cận ,chủ quan cho rằng mọi học sinh học khá, giỏi đều không có những góc khuất ? Cô hãy đặt vị trí mình là học trò bị oan khuất đi ! Đã bao giờ cô nghĩ rằng vì oan ức , không giãi bày được  mà học sinh đó có thể làm liều, tự sát ?

Tôi vẫn chăm chú nghe ông nói :

– Cũng may là “Trời xui Đất khiến” thế nào mà em Quỳnh đã đến gặp tôi và tôi đã cho em niềm tin, tôi đã hứa với em sẽ làm rõ việc này để minh oan cho em !

Ông hiệu trưởng lại ôn tồn:

-Tôi còn biết được em Quỳnh đã gặp cô Nga , cán bộ thư viện xin tìm bằng được cuốn sách – mặc dù cuốn sách đó tôi tin là học sinh khác đã cuỗm mất rồi mà biết đâu thủ phạm lại chính là em Lê Trung  Nam “cả vú lấp miệng em”, đã là người “đánh cắp thừa thế” ?

– Vâng…  ạ ! – Tôi bàng hoàng đáp lại .

– Tất cả mọi sự việc không quá trầm trọng nhưng đã cho mỗi chúng ta một bài học, chắc cô hiểu ý tôi ? – Ông nói.

Tôi không biết nói gì thêm , lòng tôi nặng trĩu những trở trăn và thổn thức, day dứt, đàu óc tôi đeo đẳng bao suy nghĩ mông lung …và ngẫm lại thấy mình thật vô cùng đáng trách khó c ó thể tha thứ !

Cũng  may mà tôi đã không hạ bậc hạnh kiểm (Tốt) của Quỳnh và không phê điều gì  quá đáng gây  bất  lợi cho em  vào Học bạ …

.

CưMgr ngày 18 tháng 11/2010

Thịnh Hoa (KQ)

Hoài Niệm Về Lũ

Cho đến bây giờ, khi đầu đã hai thứ tóc, mắt đã kém dần nhưng những kỉ niệm buồn thương vẫn đeo bám tôi mãi mãi , không dễ gì dứt khỏi tâm can. Nhất lại là cứ mỗi dịp mùa lũ lại trở về, trái tim tôi lại càng thổn thức.

Tôi vẫn còn nhớ như in, những năm đầu thập kỉ sáu mươi của thế kỉ XX, gia đình bố mẹ tôi đang ở vùng bãi, gần bờ sông Lam, lúc bấy giờ tôi khoảng chừng 4 tuổi , lũ lụt tràn về, nước dâng ngập trắng cả ruộng đồng , nhà cửa. Bố mẹ tôi phải chuyển  tất cả đồ đạc lên chạn (sàn gỗ- thường để cất lúa má và các vật dụng khác), mọi sinh hoạt của gia đình đều ở trên đó . Là trẻ con, hồn nhiên, ngây thơ, vô tư, trinh nguyên như tờ giấy trắng, nào biết đến cực nhọc là gì ? Chỉ biết rằng được ăn ngủ, rồi xem người lớn nấu cơm trên chạn thì thích thú, nào đâu hiểu được như bây giờ kia chứ ? Lại nữa , khi nước đã rút dần, mực nước  khoảng  chừng ở mắt cá chân thì “được” lội bì bõm trong nhà ,ôi chao là thích thú, mặc cho bố mẹ đang hì hục lau dọn nhà cửa, khắc phục hậu quả Thiên tai, mặc cho ai lòng lo ngay ngáy vì lại “điệp khúc đói “như năm nào!

Nghe mẹ và các chị kể lại, hồi sinh tôi ra mẹ không có cơm đủ ăn, đói kém nên nhà hàng xóm bới khoai chuối ở mảnh vườn ngay trước nhà tôi và thương tình cho mẹ ba củ để luộc ăn , mẹ mừng kinh khủng – khoai chuối là loại khoai chủ yếu trồng để chăn nuôi, thân và  lá thì để cho trâu, bò ; củ non và rễ thì đem giã rồi nấu cho heo, củ già hay củ bánh tẻ thì để người ăn, công bằng mà nói món  khoai này ăn ngon và chắc bụng : vừa bùi vừa ngọt, có nhiều  tinh bột ; về sau này người ta trồng để thu hoạch rồi chế biến thành miến dong nhưng ở quê tôi hầu như không còn trồng nữa vì hiệu quả kinh tế không cao vả lại đất đã bị xói mòn, bạc màu, không còn thích hợp cho loại cây này.

Tôi còn nghe kể rằng cũng vào năm tôi ra đời vì đói quá  mà chị gái kế tôi bị xỉu lả đi, cứ nghĩ mà lòng đau như xé !Không khóc nhưng nước mắt tôi cứ tràn ra ngập bờ mi,cổ họng nghẹn ắng và sống mũi lại cay cay!
Để tránh lũ lụt hàng năm vẫn xảy ra , bố mẹ tôi dời nhà cách bờ sông dễ chừng vài ki-lô-mét, là vùng đồi núi, nước lũ chẳng bao giờ đến. Chỉ có thể ngập ở vùng đồng thấp ruộng trũng.

Tôi lại nhớ những ngày tôi đã học Tiểu  học, thấy lũ tràn về đồng ruộng thì tôi cùng bọn trẻ con rủ nhau đi xem và nghịch nước. Có cả người lớn cũng đi để quan sát và so sánh với mực nước những năm qua . Chẳng có gì ngờ nghệch ngu ngốc hơn lúc bấy giờ, xung quanh có bao nhiêu người mà miệng  tôi cứ bô bô :
– Bay ơi ! Tau (tao) thích lụt !
Tôi vẫn chưa quên có người (hình như là ông Tí Trới ) đã  trừng mắt và  mắng chửi :
–  Tổ cha bay ! Đồ con nít! Ngu chi ngu rứa , kẻ nậy (người lớn) thì lo cháy rọt (ruột), còn thích nỗi chi mà thích, thích cái trôốc (đầu) cha bay hử ?Có một người đàn bà (hình như là  bà Năm Chín) biết điều thì chống chế :
– Chớ  chưởi quân nớ (tụi nó)  mần chi ? mấy đứa  hắn có biết chi lo lắng, chỉ thích lội  bì bõm dưới nước là ưng, rứa mới gọi là con nít.
Rồi bà còn nói mát với bọn trẻ  chúng tôi :
– Ừ, các con cứ lội cho lắm rồi ít bữa nọc nác (nước)  ăn chân rồi mà khóc.
Quả thật, hồi đó sau những lần nghịch nước, tôi thường hay bị ngứa và loét ở các kẽ ngón chân, càng gãi càng ngứa vậy mà vẫn cứ thích lội nghịch nước với đám trẻ nít trong làng, lại còn chơi trò té nước để ướt hết quần áo, và như thế…về nhà lại “được xơi” trận đòn nhưng chả chừa được lâu bao giờ, đâu lại vẫn vào đấy .

Mãi sau này, khi tôi đã không còn cái  tuổi lội nước để nô đùa nữa,đã bắt đầu ý thức được nỗi gian truân của những  người ở vùng nông thôn,đã cảm được cái khốn khổ mỗi khi lũ tràn về  thì bắt đầu đã biết nghĩ, biết nhận ra sự đau xót trước sự đe dọa của Thiên tai và một phần có cả nguyên nhân từ phía con người – khai thác rừng bừa bãi làm cho môi trường sinh thái bị ảnh hưởng không nhỏ.Tôi thầm nghĩ :
– Hồi nhỏ sao quá ngu ngốc , khờ khạo, ai lại đi thích lũ lụt bao giờ ?
Rồi tôi lại tự trấn an:
-Thế mới là  trẻ con ! Trẻ con chứ đâu phải người lớn thu nhỏ !

Mốc lịch sử của cơn đại hồng thủy năm 1978 đã ghi lại trong tôi một kỉ niệm đau thương mà cho tới mãi sau này, khi tôi đã tự lập cuộc sống tôi vẫn không thể nào quên! Sinh thời, ông cụ thân sinh ra tôi vẫn nhắc lại và mắt ông ngân ngấn lệ, lòng vẫn canh cánh nỗi day dứt thương con. Ngày đó nước ngập mênh mông , trường tôi phải nghỉ học cả hàng chục ngày ròng. Những ngày nghỉ học, mấy chị em tôi lên hòn rú Động Trường để khai hoang, vừa để có đất trồng sắn,trồng chè xanh vừa lấy gộc cây rành rành để đem về làm chất đốt, sưởi ấm về những ngày đông rét cắt da cắt thịt mỗi khi có gió mùa Đông Bắc tràn về. (Rành rành là một loại cây mọc hoang dại ở vùng đồi trung du, rất chịu hạn hán, khi đã lên cao gần  một mét, người ta cắt về, phơi khô, rũ sạch lá để  làm chổi quét thay vì quét chổi tre, lá của nó trong y học được chế thành dược liệu.)

Sau lũ, nhìn cảnh làng quê tiêu điều, lúa và hoa màu ngoài đồng mất sạch sành sanh.Nhiều gia đình lâm vào cảnh đói deo đói dắt. Lũ bạn và chị em tôi đi mót khoai lang nhưng vì khoai củ  non và nhỏ, không bở mà lại nhão, nên mẹ  lại luộc xong rồi đem dùng  đũa  xéo cho nát ra để xúc vào đọi (chén hay bát) cho dễ  ăn. Hễ quên đi thì thôi, còn nhớ lại, tôi lại không sao tránh khỏi ngậm ngùi… .

Thời gian cứ thế trôi qua, rồi một lần nữa tôi lại chứng kiến lũ lụt lớn hơn cả cơn lũ năm 1978.
Đó là vào năm 1989, khi con gái tôi hơn ba tuổi.Tôi đang ở nhà tập thể, một căn nhà tạm bợ lợp lá cọ, xung quanh che bằng phên nứa. Chỉ cần một cơn bão đi qua là có thể tốc mái và căn nhà sẽ sập bất cứ lúc nào. Lúc bấy giờ đang thời bao cấp, hầu như mọi cán bộ, giáo viên, công chức Nhà nước đều phụ thuộc vào đồng lương, mua  lương thực, thực phẩm bằng tem phiếu, sổ mua hàng, nếu để quá hạn , sang tháng khác là mất tiêu chuẩn, coi như nhịn đói. Mưa lũ kéo dài, gần hết tháng  không thể đi mua gạo và nhu yếu phẩm, chúng tôi vô cùng lo lắng.Gạo đã hết  mà người thì bị cô lập giữa biển nước mênh mông.Chúng tôi đã phải luộc củ mì non,  quả chuối tiêu đã già để ăn độn vào mọi bữa ăn cho qua những ngày vừa đói, vừa lạnh. Để khỏa lấp thời gian lo lắng, tôi lại nhặt nhạnh tất cả những mảnh vải vụn, những áo quần cũ ngồi cắt may, khâu sửa, chắp nối lại thành quần áo cho con…

Và rồi, những năm sau vẫn lũ lụt nhưng không nặng nề như hai cơn đại hồng thủy mà tôi đã ý thức được và đã từng nếm trải. Nói đúng hơn là tôi   không còn có dịp để chứng kiến tận mắt và chịu đựng vì tôi đã chuyển  công tác xa quê.

Sau này,  khi tôi có dịp về thăm quê, cả nhà ôn lại chuyện cũ, bố tôi  vẫn than thở:
– Cha nghĩ mà thương mi ngày đi học cuối cấp III (nay gọi là Trung học phổ thông), năm học 1978 – 1979 , là năm thi tốt nghiệp, thi đại học mà ăn uống cũng chả ra hồn, đi học ở lại trưa chỉ có khoai lang củ  , hay sắn củ  (củ mì ), đến nỗi đi thi học sinh giỏi tại huyện Đô Lương vẫn mang thêm bột sắn khô để làm bánh ăn độn, mỗi lần nghĩ là cha lại xót xa. Ông còn nói:
– Đúng là cái số mi khổ, ngay từ khi lọt lòng đã gặp cảnh túng đói rồi và sau này cũng vậy , may mà  kiếm được cái nghề ổn định để thoát khỏi cảnh bận hàn chớ mấy đứa cùng lứa với mi ở nhà lấy chồng rồi mần  ăn cực khổ lắm  nà !

Rồi…câu chuyện chị gái tôi bị đói và xỉu lả năm nào  lại được nhắc lại, và- tôi thấy cả bố mẹ tôi đều lặng im hồi lâu, môi mấp máy, tôi hiểu tâm trạng bố mẹ tôi nên đành lảng sang  chuyện khác.
Những chuyện đó giờ đây với tôi đã trở thành dĩ vãng, mảnh đất cao nguyên nơi gia đình tôi cư trú chẳng thể bị lũ lụt bao giờ. Cuộc sống của một giáo viên xưa nay vốn dĩ  thanh bần, chẳng có của ăn của để nhưng cũng gọi là ổn định, nếu biết cách chi tiêu thì không đến  nỗi nào- khéo ănthì no, khéo co thì ấm –  nhưng so với  những người  làm nông ở quê  tôi thì   còn sướng hơn nhiều.

Thế nhưng, cứ mỗi dịp lũ về  là lòng tôi lại rưng rưng kỉ niệm buồn thương, đau xót khi nghe những thông  tin, rằng chỗ này nhà ngập nước, người và tài sản bị lũ cuốn trôi; rằng chỗ kia có người mất tích…
Và … hôm nay đây, khi ngồi viết những dòng này, trái tim tôi vẫn nhói đau mỗi khi cập nhật những  thông tin, những hình ảnh tang thương , thiệt hại quá nặng nề ở các tỉnh miền Bắc Trung bộ rồi lại đến Nam Trung bộ bởi cơn lũ lịch sử lớn chưa từng có của hàng trăm năm về trước.

Tôi thầm ước ao có một phép mầu để có thể xóa đi mọi buồn đau, cứu vớt những thi thể nạn nhân để họ được sống an vui trở lại với gia đình, với làng xóm ,quê hương.

Máu chảy ruột mềm!

Cầu mong sao mọi người dân vùng lũ sẽ không gặp phải tai họa , sớm khắc phục những hậu quả và yên ổn làm ăn! Cầu mong những linh hồn của những nạn nhân bị lũ cuốn , những nạn nhân của chuyến xe định mệnh mang biển KS 48K- 5868 ngày nào sẽ được an trú thanh thản nơi chín suối và sớm được siêu thoát về cõi vĩnh hằng! Cầu mong con người ý thức được vai trò của việc bảo vệ và tích cực trồng  cây gây rừng để lấy lại được sự cân bằng sinh thái cho môi trường thiên nhiên; để Thiên tai không còn là mối đe dọa những con người vô tội! Cầu mong cho tất cả mọi người đừng vô cảm mà hãy giang rộng vòng tay Tương thân tương ái , Lá lành đùm lá rách, Thương người như thể thương thân… cưu mang , đùm bọc những người bị nạn, an ủi, chia sẻ, xoa dịu đôi phần nỗi đau, những tổn thất mà  họ đã phải gánh chịu! Cầu mong cho mọi người đừng mải vui chơi, chi tiêu, đầu tư quá mức cho những việc không cần thiết để dành tình yêu thương, san sẻ  phần nào gánh nặng mà mọi người dân vùng lũ đang phải oằn mình chịu đựng !

Than ôi !
Cầu mong…

Cao nguyên đất đỏ, tháng 11/2010

Khánh Quyên

( tác giả đã chỉnh sửa từ bài đã đăng trên trang LLĐLR)

Mời các bạn xem video clip ;

Thông Địệp Từ Miền Trung


 

Hãy Tiếp Tục Chia Sẻ Với Người Dân Vùng Lũ

Lũ cũ vừa xong, lũ mới lại tràn về,

Bao thê thảm Bắc Trung Nam  nếm trải !

Có thể nào ta dễ nguôi ngoai ,

Khi thi thể nạn nhân vẫn còn trôi xa mãi ?

Chưa thể nào tìm kiếm được, than ôi!

Để người thân dõi mắt buồn vời vợi,

Mong bao nhiêu càng tuyệt vọng bấy nhiêu !

Lũ giáng nơi này, lại tràn về nơi khác,

Đến hôm nay Khánh Hòa  đang tan tác

Cũng bởi vì THIÊN ĐỊCH  với NHÂN TAI !

Và biết đâu… rồi… ngày một ngày hai,

Lại có tin buồn từ Phú Yên , Bình Định,

Bình Thuận, Phan Rang chưa dễ  tránh  nguy cơ.

Quê hương ơi ! đau đớn biết bao lần,

Ai đã từng nếm trải những gian nan,

Trong mưa lũ hẳn  thấm buồn bất tận !

Nhà cửa tan hoang, người người lận đận

Đói rét cơ hàn, lo tìm chốn nương thân…

Hãy cưu mang dù chỉ một đôi phần,

Dù vật chất hay chỉ có tinh thần,

Cũng có thể xoa tan nỗi đau trần thế,

Xin người đừng vô cảm trước gian nguy,

Xin hãy rộng vòng tay tương thân và tương ái

Rách lành đùm bọc đâu phải chỉ  riêng  ai

Xin hãy trải lòng  vì  tình thương đồng loại

Cùng ghé vai bằng nhịp cầu nhân ái

Hỡi đồng bào ! cùng chung sức chung tay…


.

Thịnh Hoa

Tháng 11/2010

 

Phương Ngữ Huế

Tháp Phước Duyên

LÀM QUEN  VỚI PHƯƠNG NGỮ HUẾ

Mỗi một vùng miền đều có những nét dặc trưng về cách dùng từ; cách  phát âm  có ít nhiều sự khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân. Để mọi người hiểu thêm hoặc ôn lại vốn từ ngừ của một địa danh : cố đô Huế –  nơi có  nhiều đặc sản ( mè xửng, nón Bài Thơ…) ; nhiều  món  ăn hấp  dẫn đã có  trong ẩm thực người Việt ( bún bò Huế, bánh bột lọc…),  nhiều làn điệu  dân ca ngọt ngào, sâu lắng ( Ca Huế,  Nam ai nam bình, Hò hụi, Hò mái đẩy…) , nơi có  nhiều cảnh đẹp thơ mộng như dòng  Hương giang, núi Ngự Bình, chùa Thiên Mụ, vv…

Thịnh Hoa xin được trân trọng giới thiệu  một số từ ngữ  địa phương Huế tương ứng với từ ngữ toàn dân để mọi người cùng tham khảo. Hy vọng đây sẽ là nguồn kiến thức hữu  ích cho mọi người .

Thân mến !

Chũi: chổi (chũi rành, chũi đót).

Chũi cùn: Chổi ngắn, thường là thứ chổi rành đã mòn dùng để quét sân, chỗ nhớp, trong bếp (cho khỏi văng bụi).

Chụi mắt: dụi mắt, chùi mắt (Chụi mắt nhìn người yêu đến thăm thình lình, tưởng mình ngủ mơ).

Chụi, dùi, cà: chà (Chụi mắt vì ngứa).

Chụi mũi: chùi mũi, móc mũi cho đỡ ngứa (Ham chụi mũi cho đỡ ngứa, nhiều khi có thể bị chảy máu mũi).

Chum: lu (chum đựng rượu nếp).

Chụm: 1. đun, nấu (chụm lửa rơm nấu bếp); 2. tụ lại (chụm ba chụm bảy, bàn ra tán vào).

Chụm bếp: đun bếp (hồi 1947, nhiều bản gỗ có khắc các ấn phẩm ở các Bộ (tại đường Lục Bộ và ở Quốc sử quán) bị dân chúng lấy về làm củi chụm bếp).

Chụm củi (chụm lửa): đốt củi, đốt lửa (Trời nắng, chụm củi chụm lửa phải cẩn thận, đề phòng hoả hoạn).

Chụm (dụm): tụ tập (Chụm năm chụm bảy chơi bài vụ).

Chụp: 1. Vồ (chụp ếch); 2. che đậy. Đôi khi người Huế dùng chữ “Tán đèn” và “Chụp đèn” lẫn lộn; 3. chụp ảnh, chụp hình.

Chưa biết khi mô: bất chừng (Chưa biết khi mô anh đến thăm em).

Chưa bưa răng: chưa vừa hay răng (Ăn chưa bưa hay răng mà còn liếm mui?).

Chưa khi mô: chưa khi nào (Chưa khi mô tui cực như ri).

Chưa tề: quá, quá sức (Lạ chưa tề. Nguỵ chưa tề).

Chưa tởn: chưa sợ, chưa chừa (Bị một lần mà cũng chưa tởn).

Chưa tra: chưa già (Con cá chưa tra răng gọi là cá móm, con cá nghèo muốn chơi trèo, đòi lấy con quan- Hò Huế).

Một thỉ (một chút, một thẻo): 1. một chốc, một tỉ (Chờ tôi một thỉ); 2. một ít, một tí (Bỏ ớt vô một thỉ); 3. một tỉ.

Một thôi (một thôi một hồi): một hồi, một nghỉn (Hắn nói một thôi, một hồi tui cũng không hiểu hắn muốn nói chi).

Một tí: một ít (Nói một tí là chị xiêu lòng).

Một tớp: một hớp (Uống một tớp rượu).

Mới đay: mai đây, sau này (Mơi đay anh làm to thì nhớ đến em gái nhỏ ngày ni của em nghe).

Mơi, ngày mơi: mai, ngày mai (Mơi sớm rồi mần = mai sáng rồi làm).

Mơi tra, ch iều hỏi: Sáng tối tra hỏi, ghen hay hỏi vặn (Cảnh mai tra chiều hỏi là cảnh hạnh phúc đang đội mũ ra đi. Mơi tra chiều hỏi chuyện ma trơi, trời để ghen chi cứ trẻ đôi– Thảo Am Nguyễn Khoa).

Mơn: 1.Mơn trớn, vuốt ve (Có mèo nên phải mơn vợ); 2. mương, mưng (Ra mơn rửa rau); 3. nhỏ (Câu toàn được cá mơn).


Mờn: 1. mừng (Chồng được thả về tui mừng rơi nước mắt. Lấy được vợ đẹp mờn rơn). 2. làm, mần (Mờn chi rứa cho con nó cười).

Mớ: 1. năm mơ nói ra tiếng (Mớ nói ú ớ); 2. một ít (Mua mớ cá).

Mới béc mắt: 1. mới sáng sớm (Mới béc mắt đã hút thuốc); 2. đang còn nhỏ (Mới béc mắt mà đã hoang).

Mới dớm (mới nhớm): 1. mới ra đời (Cành mai mới dớm nụ); 2. sắp sửa (Mới dớm đi thì anh tới).

Mới hú (mới lú): mới nảy mầm, mới trồi ra (Nụ bông mới hú).

(  Nguồn :T ừ điển tiếng Huế – Bùi Minh Đức )

Biên soạn  : Thịnh  Hoa

Gắng giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

.

Chào các bạn!

Trong nhiều năm gần đây,nhất là khi công nghệ thông tin hiện đại ngày càng  phát triển thì cũng dồng nghĩa với việc Tiếng Việt( TV) bị một số người làm cho méo mó, nhất là đối với giới trẻ. Một số người không còn trẻ trung gì, có thể thuộc giới U30,U40 lắm khi cũng bày đặt bắt chước bọn trẻ để “cưa sừng làm nghé” viết – nói rất  tùy tiện( trừ phi sử dụng phương ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp cho phép).Ví dụ: “biết”thì viết là “ bít”, “không” thì viết là” hok”, “đẹp quá” lại viết là “đẹp qué,  “yêu” thì viết là  “iu”, một số từ có kí tự “ i” bị đổi thành “ j” như trong từ “học giỏi” sẽ là  “ học joj”  vv…sao mà nhiêu khê???

Điều đó đã không chỉ làm cho nhân cách của họ bất  thường mà còn gây phản cảm- người đọc rất khó chịu nếu không nói là bực bội.

Thịnh Hoa xin mạn  phép giới thiệu bài viết của Tác giả Vũ Khúc dưới đây để hy vọng những ai đã có thói quen làm  mất dần sự trong sáng của TV, mất đi những nét thuần phong mỹ   tục được thể hiện trong  ngôn ngữ quý giá của  dân tộc Việt Nam  thì hãy vui lòng điều chỉnh lại khi còn  chưa quá muộn .

Rất mong các bạn vui lòng đón đọc. Chúc các bạn những ngày tươi hồng!

Trân trọng !

Gắng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

• Vũ Khúc

Tôi được giao nhiệm vụ biên tập các bản thảo gửi đến Tạp chí Địa chất đã được 20 năm nay (từ 1986, Phó Tổng biên tập). Ngay từ những tháng ngày đầu làm công việc này, trong tôi luôn vang lên câu nói mang tính kêu gọi của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Hãy gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt!”. Trong hai mươi năm qua, tôi luôn cảm thấy tính thời sự, cũng như tính cấp thiết của lời kêu gọi này, ngay cả đến ngày nay, khi đã hình thành một thế hệ chuyên gia địa chất trẻ được đào tạo cẩn thận, đã trưởng thành và dần nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy nghiên cứu địa chất và điều tra khoáng sản ở nước ta. Nhưng các bản thảo gửi đến Tạp chí vẫn có nhiều điều phải nói đến, để sao cho Tạp chí ta luôn đi theo lời kêu gọi của Cố Thủ tướng.

I. Hãy tránh viết giọng văn dịch

Có lẽ do được đào tạo ở nước ngoài, hoặc đọc sách báo ngoại ngữ nhiều, lời văn ở bản thảo của một số tác giả do chính tác giả viết ra, diễn đạt một ý của chính mình, mà cứ như là dịch từ lời văn của người nước ngoài. Có thể lấy ví dụ: “Các phần của đứt gãy mà nó được phát triển trong pha thứ nhất…”; có lẽ tôi phải lấy danh dự ra mà đảm bảo là tôi đã trích dẫn nguyên si, thì các bạn mới tin là có tác giả đã viết như vậy. Cái đoạn “mà nó được phát triển” sao mà nặng nề và “tây” đến thế? Nó làm ta liên tưởng ngay đến cách viết: “that was developed…”. Phổ biến hơn, các tác giả thường viết tính động từ đi kèm với từ “được” làm cho câu văn rất nặng, ví dụ như: “các mặt cắt lấy mẫu được phân bố dọc theo quốc lộ 6…”, “sự nâng lên của khối này được xảy ra…”, “đá bazan được lộ ra…”, “bản đồ được thành lập bởi…”, v.v. Dân ta vẫn thường nói: “Thịt bò ăn ngon quá!”. Tất nhiên, ai cũng hiểu là chúng ta ăn thịt bò, và thịt bò được chúng ta ăn, nhưng các bạn xem, chẳng có ai nói là: “Thịt bò được ăn ngon quá!”, càng không có ai nói: “Thịt bò được ăn bởi vợ tôi!”. Có lẽ phải sang hay mới được nghe cách nói như vậy. Nếu chúng ta viết: “các mặt cắt lấy mẫu phân bố dọc theo quốc lộ 6…” hay “đá bazan lộ ra…”, v.v. thì có đưa đến hiểu lầm gì đâu nhỉ? Mà câu văn rất thoát. Thêm nữa, ta nên quen với cách viết: “bản đồ do X và nnk. thành lập…”, “phương pháp do Nagibian đưa ra…”, chứ không nên viết: “bản đồ được thành lập bởi X và nnk.…”, hay “phương pháp được đưa ra bởi Nagibian…”. Về nghĩa không có gì khác nhau, nhưng câu văn kiểu thứ hai rất “tây” và nặng nề lắm. Đấy là giọng văn dịch, và là dịch vụng.

Ngoài ra, một vài thuật ngữ nước ngoài có nhiều nghĩa quốc ngữ, nhưng người viết chỉ dùng có một nghĩa, nên đưa đến các trường hợp rất sái. Ví dụ như một số tác giả rất hay dùng từ “lãnh thổ” không đúng chỗ, như “lãnh thổ Nam Trung Bộ“, thậm chí ” trong lãnh thổ tỉnh Điện Biên“. Về trường hợp này, có lẽ các tác giả đó đã hiểu “territory” chỉ có một nghĩa là “lãnh thổ”; nhưng theo Từ điển Anh-Việt [5], “territory” có 2 nhóm nghĩa: 1) đất đai, địa hạt, lãnh thổ; 2) khu vực, vùng, miền. Như vậy, phải viết là: “miền ” và “trong địa phận tỉnh Điện Biên” thì mới thích hợp. Vì theo Từ điển tiếng Việt [2], “lãnh thổ” là “đất đai thuộc chủ quyền của một nước”. Việc hiểu theo một nghĩa làm ta lại nhớ đến một thời, có một số người ở nước ta hiểu (hay cố tình hiểu) “academy” chỉ có một nghĩa là “viện hàn lâm”, mà báo chí đã từng nói đến nhiều. Nếu bạn đến số 7, Lý Thường Kiệt, Hà Nội sẽ thấy Học viện Tài chính có tên tiếng Anh là “Academy of Finance”, mà ở đó chắc là chẳng có “Viện sĩ” nào. Khi ta dùng từ gì, nếu có chút ngờ ngợ, nên tìm hiểu kỹ nghĩa của từ đó trong các từ điển.

II. Hãy quan tâm tới văn phạm

Không hiểu sao, trong khoảng vài năm gần đây, một vài tác giả hay dùng một cách viết rất sai văn phạm, kể cả trong các nhật báo phổ thông. Đó là cách viết “Dựa vào các kết quả phân tích cho thấy…“! Hoặc là “Qua quan hệ địa tầng vừa trình bày cho thấy…”! Cái gì cho thấy? Rõ ràng là “các kết quả phân tích” hay “quan hệ địa tầng” không thể đóng vai trò chủ ngữ của “cho thấy”, vì nó đã đứng sau và phụ thuộc “dựa vào” và “qua” để tạo nên một mệnh đề phụ cho câu. Tại sao lại không viết một cách đơn giản: “Các kết quả phân tích cho thấy…” và “Quan hệ địa tầng vừa trình bày cho thấy…”; hay là “Dựa vào các kết quả phân tích, ta thấy…” và “Qua quan hệ địa tầng vừa trình bày, ta thấy…“, thì câu văn sẽ không có gì sai phạm. Tôi cho là trong trường hợp này, người viết đã không quan tâm tới vấn đề văn phạm của câu mình viết ra.

Cũng gần đây, thường xuất hiện cách viết kiểu này: “Trong vùng X lộ ra hai khối magma. Trong đó, khối nằm ở phía nam có thành phần axit“. Cái dấu chấm đứng trước “Trong đó” sao mà vô duyên thế! Các bạn cứ thử đọc lại riêng một câu thứ hai, thì thấy nó rất cụt. Thực ra, đó chỉ là một câu “Trong vùng X lộ ra hai khối magma, trong đó khối nằm ở phía nam có thành phần axit“, và “trong đó” là một liên từ thường không được dùng để mở đầu một câu, khác với “tuy nhiên”, “tuy vậy”, “nhưng”… Việc thay đổi một dấu ngắt trong câu cũng có ý nghĩa quan trọng, không nên xem thường.

Một số tác giả viết hoa một số từ chưa được đúng luật của quốc ngữ. Từ khi còn ngồi ghế nhà trường, chúng ta đã được dạy là chỉ có tên người và địa danh phải viết hoa toàn bộ, còn các loại tên khác chỉ viết hoa từ thứ nhất; ví dụ tên các cấp phân loại động vật: Tay cuộn, Bọ ba thuỳ,…; tên các cấp phân loại địa tầng: Cổ sinh, Trung sinh,…; tên các thiên thể: Thiên vương tinh, Mộc tinh, Trái đất,…; tên các tổ chức: (Bộ) Tài chính, (Tổng cục) Thống kê,… Tuy nhiên, vẫn có tác giả viết: “Đệ Tam, Đệ Tứ, Trái Đất“,… Một số tác giả còn viết hoa cả các phương, như: “phía Đông sông Hồng, nằm ở Đông Bắc núi Ông,…”. Rõ ràng các phương là danh từ chung, có phải là danh từ riêng đâu mà viết hoa? Chẳng có nước phương tây nào viết hoa các phương cả. Chỉ khi nào chúng trở thành địa danh mới viết hoa chúng, như: “miền Bắc, miền Tây Bắc Bộ, trũng Đông Phú Khánh, bể Côn Sơn…”. Cả những danh từ chung khác, khi đã trở thành tên riêng cũng phải viết hoa, như: “đứt gãy Sông Hồng, khối granit Núi Pháo, khối nâng Núi Con Voi…”. Đôi khi, có tác giả còn viết hoa cả các ký hiệu đã được quy định rõ ràng và dạy từ cấp tiểu học, như kilomet (km) cứ viết tắt là “Km“.

Vất vả nhất đối với việc sửa bản thảo là việc sửa cách viết số lẻ, nhất là khi bài báo đưa ra các bảng thống kê dài dằng dặc. Theo kiến thức phổ thông thì dấu chấm dùng để biểu thị hàng nghìn và dấu phẩy để thể hiện số lẻ, ví dụ: bản đồ tỷ lệ 1:50.000, hay bán kính Trái đất ở xích đạo là 6.378,25 km. Đây là cách viết của các nước thuộc hệ ngôn ngữ Rôman. Nhưng ở các nước Anh, Mỹ thì ngược lại: dấu phẩy biểu thị hàng nghìn, còn dấu chấm để thể hiện số lẻ. Cho đến nay, theo truyền thống, nước ta vẫn dùng cách thứ nhất, thì các cá nhân đừng tự tiện thay đổi nề nếp chung, có thể dẫn đến hiểu lầm, mất chính xác không đáng có. Và chúng tôi phải sửa từng con số, vất vả lắm.

Về việc dùng i và y, gần đây có từ điển chủ trương dùng thống nhất i, trừ trường hợp đứng trong các vần -yên, -yết, -yêu (ví dụ, Từ điển Việt-Pháp của Lê Khả Kế và Nguyễn Lân [3]). Tất nhiên, khi đã viết “mì sợi, mí mắt” mà lại viết “mỹ nhân, mỹ thuật”, hay viết “ti hí, tí ti” mà lại viết “tỷ lệ, tỷ trọng” thì thiếu tính thống nhất quá. Tuy nhiên, cuốn từ điển nói trên vẫn giữ cách viết “y nguyên, ý nghĩa”, có lẽ do nếu viết là “i nguyên, í nghĩa” trông cộc quá. Như vậy, cách làm này vẫn chỉ là quy ước. Trong hoàn cảnh hiện nay, Nhà nước chưa đưa ra quy định gì về vấn đề này, nên chúng tôi vẫn giữ cách viết cũ, nghĩa là vẫn để “tỷ lệ bản đồ, thuyết kiến tạo,…”. Đáng chú ý là các từ vần -uy không có gì thay đổi, kể cả trong từ điển kể trên. Cách viết “qui hoạch, đá quí,…” chúng tôi coi là không thuận và phải sửa là “quy hoạch, đá quý”.

Về địa danh, có thể nói là hiện nay trên các báo và cả trên mặt tivi còn viết rất lung tung, và Tạp chí Địa chính đang mở cuộc thảo luận nhằm đi đến một phương án viết thống nhất để đề nghị lên các cơ quan có thẩm quyền. Quan điểm của cá nhân tôi là các địa danh trên lãnh thổ Việt phải viết theo luật của chữ quốc ngữ; điều đó thể hiện chủ quyền của nước ta đối với vùng đất đó [7]. Không nên để một cái xã mà người dân gọi là Ya Mơ lại viết là “Ya Meur”, viết như thế này đọc theo quốc ngữ không phải là Ya Mơ. Cũng như không nên lo tài nguyên của một tỉnh bị “cạn kiệt” mà viết tên tỉnh đó là “Bắc Kạn”.

Trong tóm tắt tiếng Anh của bài báo, không hiểu sao khi viết tên riêng của mình và địa danh, các tác giả cứ bỏ hết cả dấu thanh. Trong quốc ngữ, dấu là một hợp phần không thể thiếu của một từ, vì nếu thay dấu thì từ đó thay đổi nghĩa hoàn toàn. “Ngô” đang là thứ ăn được mà thêm dấu sắc vào thì thành “ngố” ngay. Báo Việt Nam News, cơ quan chính thức của Nhà nước ta, luôn viết tên người và địa danh Việt đủ dấu. Tên của anh em trẻ chưa quen biết lắm trên mặt báo, hay địa danh các vùng sâu, vùng xa mà bỏ dấu đi thì rất khó nhận biết được tên thực, ví dụ: cô Uông Thị Đại, hay đảo Hòn Trứng Lớn mà viết bỏ dấu đi thì có Trời mà đoán được tên thật là gì!

III. Hãy cố gắng dùng tiếng Việt trong những trường hợp có thể

Việc mượn các thuật ngữ nước ngoài trong khoa học là chuyện khó tránh, nếu không muốn nói là “bất khả”. Ngay các nước thuộc khối Anh ngữ cũng mượn “melange” (thể xáo trộn), “en echelon” (dạng bậc thang) của tiếng Pháp, và các nước thuộc khối Pháp ngữ cũng mượn “dyke” (thể tường) của tiếng Anh. Thế nhưng, đối với chúng ta là dân một nước phương đông, rất nên hạn chế việc này, và nếu bất đắc dĩ phải dùng cũng cần phải chuyển sang dạng viết của quốc ngữ theo nguyên tắc viết thế nào, đọc thế nấy, nghĩa là bỏ các nguyên âm và phụ âm câm (không đọc đến), ví dụ: granit, anđesit. Không nên bê nguyên si cách viết của nước ngoài (granite, andesite) vào (theo quy định của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trong các Quy chế đo vẽ bản đồ địa chất [1]). Vả lại, các thuật ngữ phải vay mượn nên hạn chế ở phạm vi khoáng vật, thạch học, vì chúng thường có gốc từ những từ ngữ, như La Mã, Hy Lạp, là ngôn ngữ gốc của quốc ngữ một số nước thuộc nhóm ngôn ngữ Rôman khá phổ biến ở Tây Âu.

Gần đây, tác giả các bài viết về động đất thường hay sử dụng nguyên si thuật ngữ “magnitude“, mà thay vào đó, có tác giả dùng thuật ngữ quốc ngữ là “chấn cấp“, “cấp độ” hay “cấp độ mạnh“. Thuật ngữ này, theo từ điển Larousse, bắt nguồn từ tiếng Latinh “magnitudo” là “độ lớn“. Theo chúng tôi, hoàn toàn có thể thay nó bằng một thuật ngữ quốc ngữ tương đương, và trong 3 phương án quốc ngữ kể trên nên dùng “chấn cấp”, tức là “cấp độ chấn động”, vì nếu dùng “cấp độ” thì chung chung quá, và “cấp độ mạnh” thì trùng nghĩa với “cường độ” (intensity), không phải là “magnitude” nữa.

Các tác giả viết về khoáng sản lại hay dùng cụm từ “các đai mạch“. Từ “đai” ở đây là để phiên thuật ngữ “dyke”, nhưng từ này ở Từ điển Anh–Việt Các khoa học Trái đất [4] cho 2 thuật ngữ tương đương là “thể tường, đaikơ”. Tất nhiên, phiên là “đaikơ” không hợp lý, vì chữ -e cuối cùng là nguyên âm câm, ở các từ khác đã bị bỏ (như granit, ryolit [6]). Vậy thì chỉ còn cách dùng “thể tường, đaik”, chứ nếu viết là “đai” thì trùng với một khái niệm khác, tương đương với “belt” (cấu trúc dạng dải kéo dài), như “đai Thái Bình Dương”. Theo chúng tôi, nên dùng “thể tường”.

IV. Đôi điều cần chú ý trong bản thảo

Như các bạn đã biết, bài báo gửi Tạp chí Địa chất bao giờ cũng phải có một tóm tắt nội dung bài báo. Tóm tắt này phải trình bày ngắn gọn những nội dung chính của bài báo, nhưng một số tác giả lại chỉ viết dưới dạng giới thiệu sơ lược, như: “Bài báo mô tả những tai biến địa chất xảy ra dọc sông Hồng ở đoạn phía nam Việt Trì và đề ra những biện pháp phòng tránh.” Các tai biến đó gồm có những loại gì, các biện pháp phòng tránh như thế nào, nhất thiết phải trình bày ngắn gọn trong Tóm tắt. Tóm tắt bằng ngoại ngữ để ở cuối bài chính là bản dịch của Tóm tắt tiếng Việt ở đầu bài. Vậy, muốn cho đồng nghiệp nước ngoài biết nội dung công trình của mình, hãy viết tóm tắt đầy đủ như đề nghị bên trên.

Cuối bài báo, Tạp chí yêu cầu các tác giả lập danh sách Văn liệu tham khảo. Thời gian qua, chúng tôi khá vất vả trong việc hiệu đính mục này, do các tác giả không chú ý cách lập Văn liệu của Tạp chí Địa chất. Rất mong các tác giả chú ý các điều sau: 1) Chỉ đưa các văn liệu đã tham khảo và trích dẫn trong bài báo; 2) Xếp các văn liệu theo thứ tự chữ cái của họ tác giả, hay họ tác giả đầu tiên trong tập thể tác giả (đừng xếp theo thứ tự của tên tác giả). Còn nội dung và cách diễn đạt từng văn liệu, xin tham khảo mục Văn liệu của bài báo này.

Chúng tôi cũng muốn lưu ý các tác giả là, khi các bạn đã gửi bản thảo của mình cho một xuất bản phẩm khác, xin đừng gửi tiếp cho chúng tôi. Đôi khi vì sơ xuất, không biết bài đó đã được đăng ở chỗ khác rồi, Uỷ viên biên tập của chúng tôi duyệt cho đăng bài đó và chúng tôi đăng, vô tình phạm lỗi. Xin tránh cho chúng tôi điều này.

Lời kết

Nhìn chung, trong thời gian qua, Tạp chí Địa chất đã ra mắt độc giả được đều đặn, với nội dung có chất lượng cao và hình thức đứng đắn của một tạp chí khoa học, được Cục Báo chí thuộc Bộ Văn hoá – Thông tin đánh giá cao. Có được điều đó, nhất định phải có sự cộng tác nhiệt tình và tín nhiệm của các nhà địa chất nước ta, gửi bài đều đặn cho Tạp chí, và mạng lưới Biên tập viên có trình độ chuyên môn sâu hoạt động trong Ban biên tập của Tạp chí. Bài báo của tôi cũng chỉ là một sự rút kinh nghiệm nội bộ giữa người làm báo và người viết, với lòng mong muốn chung là ngày càng nâng cao chất lượng và uy tín của Tạp chí. Rất mong được sự quan tâm của các bạn có bài gửi đến Tạp chí.

.

Thịnh Hoa

(Sưu tầm và giới thiệu ; Nguồn : Tạp chí địa chất)

 


Hà tĩnh: Lũ dập lũ vùi sách mất hết rồi

Lũ dập lũ vùi sách mất hết rồi
(GD&TĐ) – Có thể nói, các em học sinh miền Trung nói chung và Hà Tĩnh nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn để trở lại trường học. Hiện nay, mực nước lũ có rút xuống nhưng vẫn còn ở mức khá cao. Ngày 20/10, GD&TĐ Online quay trở lại nóc lũ ở huyện Hương Khê và Vũ Quang (Hà Tĩnh) được tận mắt chứng kiến biết bao cơ cực mà người dân rốn lũ đang phải trải qua. 

2.Trên bản đồ Việt Nam chưa có kí hiệu lũ lớn thế này
Trên bản đồ Việt Nam chưa có kí hiệu lũ lớn thế này. ảnh gdtd.vn

Trong những ngày bị lũ dập lũ vùi, đồ dùng, sách vở học tập của các em học sinh ở đây đa phần đã bị nước lũ cuốn trôi, bị ướt, bị hư hỏng hết rồi. Gia đình các em cũng gặp muôn vàn để cho con cái trở lại trường học. Tình cảnh các em học sinh nơi đây cũng đầy gian khổ, khó khăn. Đi đến đâu, chúng tôi cũng được chứng kiến các em học sinh đang gồng mình giúp gia đình lau dọn nhà cửa, hong phơi quần áo và sách vở để mong sớm ngày trở lại trường học.

5.Cứu trợ lần này, lũ đến lần khác
Cứu trợ lần này, lũ đến lần khác

Em Đinh Thị Hoài, học sinh lớp 7B, Trường THCS Phương Mỹ, Hương Khê, Hà Tĩnh nói với chúng tôi trong nước mắt lưng tròng: “Có lẽ em phải bỏ học thôi. Em nỏ đi học nữa mô. Quần áo em bị ngâm nước bạc mấy bựa ni thúi rồi. Sách vở của em thứ trôi mất hết, thứ thì bấy nát, thứ thì bùn ăn vào vàng he hết cả. Đồ đạc mọi thứ mất hết. Giờ em đi học thì lấy chi mà đi”. Còn em Hoàng Thị Hải, sinh lớp 10B9, Trường THPT Hàm Nghi (Hương Khê, Hà Tĩnh) thì cho biết: “Bọn em, năm đứa ở xã Phương Mỹ đi học về, trưa 16/10 nước lũ dâng cao, đành vô nhà người quen bên Phúc Đồng ở lại. Đến trưa 19/10, bố em mới đưa thuyền về”. Em Trần Ngọc Thạch thì tâm sự: “ Bố mẹ em và cả gia đình phải đưa nhau lên tầng 2 nhà thờ xứ đang xây dở để trú ẩn. Bựa ni em chèo xuồng về để chùi rửa nhà cửa giúp bố mẹ, ai ngờ nước mới lòi nóc”. Anh Nguyễn Đình Cường và vợ là chị Ngô Thị Hiền (thôn Mỹ Trung, Phương Mỹ, Hương Khê) kể với chúng tôi trong nỗi thất vọng: “Gia đình tui, nhà cửa và đồ đạc tất tần tật bị trôi hết. Bây giờ, tui phải tá túc tại nhà thờ. Thỉnh thoảng, cha xứ thương tình cho bữa cơm, bữa ít gói mì tôm. Tui đang lo không biết lấy chi cho con ăn, đừng nói chi đến chuyện học hành”. Tượng tự như vậy, các em học sinh ở nóc lũ Vũ Quang cũng chồng chất khó khăn sau cơn đại hồng thủy vừa qua. Tất cả các trường học đều bị ngập, bùn non phủ kín sân trường, phòng học. Em Trần Thị Hải Yến, Học sinh lớp 10A4, Trường THPT Cù Huy Cận (Vũ Quang, Hà Tĩnh) kể lại: “Qua đợt lũ lần 1, chúng em nghĩ lũ lụt xong rồi nên chủ quan. Ai dè, đêm 16 rạng ngày 17/10, nước lũ đổ về dồn dập, nước lên nhanh qúa. Cả gia đình em, ai cũng bảo bây giờ ở lại rất nguy hiểm, phải bỏ của chạy lấy người chú nờ. Sách vở, áo quần và nhiều thứ đồ đạc trong nhà em trôi hết rồi. Giờ mà đi học lại, chắc em phải nghỉ học mấy ngày để đi mua lại sách vở và đồ dùng học tập đã”.

4.Cầu phao Phương Mỹ trở thành sân phơi
Cầu phao Phương Mỹ trở thành sân phơi
Sách bao giờ khô?
Sách bao giờ khô?

Nói chung, ngành GD miền Trung phải gánh hậu quả nặng nề trong cơn lũ lịch sử lần này. Riêng ngành GD&ĐT Hà Tĩnh thiệt hại ban đầu ước tính khoảng 80 tỷ đồng: có 358 trường bị ngập. 100% số học sinh thuộc các huyện, thị: Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn, Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Lộc Hà và TP Hà Tĩnh phải nghỉ học nhiều ngày. 2 học sinh THCS Sơn Thuỷ bị nước cuốn trôi. Trên 8.000 bộ bàn ghế bị hư hỏng, gần 1.300 căn hộ của giáo viên bị ngập; hàng trăm nhà nội trú của giáo viên tại các trường trong vùng lũ bị ngập, hư hỏng; trên 150 phòng thư viện, thiết bị, máy tính bị ngập, ướt, hư hỏng; gần 100.000 bộ sách giáo khoa bị ướt, trôi. Hàng ngàn giáo viên, hàng vạn học sinh không có nhà ở, thiếu lương thực, nước uống.

6.Chắc chiu nước sạch giữa biển nước mênh mông
Chắt chiu nước sạch giữa biển nước mênh mông

Ngày trở lại trường học của học sinh vùng rốn lũ đang chồng chất khó khăn, rất cần sự giúp đỡ của các cấp, các ngành để các em vơi bớt đi phần nào sự gian nan, vất vả sau cơn đại hồng thủy chưa từng có này. Dưới đây là một số hình ảnh mà PV chúng tôi ghi lại được:

7.Chèo xuống giúp mẹ hái bèo nuôi heo
9.Chiếu chăn trôi hét, xin rơm về lót ổ để nằm
Chiếu chăn trôi hết, xin rơm về lót ổ để nằm
7.Chèo xuống giúp mẹ hái bèo nuôi heo
Chèo xuống giúp mẹ hái bèo nuôi heo
11.Cùng mẹ đi lấy nước ngọt từ xa về
Cùng mẹ đi lấy nước ngọt từ xa về
24.Người mẹ quê giải dầu mưa nắng
ab
Em Trần Ngọc Thạch 12B6, Trường THPT Hàm Nghi về lau chùi nhà cửa
giúp bố mẹ nhưng nước mới nhô nóc
Quần áo ngâm nước
Quần áo ngâm nước
Tận dụng rơm rạ hư hỏng
Tận dụng rơm rạ hư hỏng
Sách vở bơ vơ
Sách vở bơ vơ
25.Nhà thờ đang xây dựng trở thành nơi tránh lũ
Nhà thờ đang xây dựng trở thành nơi tránh lũ

Quốc Châu

Giáo Dục và Thời Đại

%d bloggers like this: