• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 897 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 897 other followers

Thâm Tình Cảm Tạ

Phùng Quán

Ngày ra trận
Tóc tôi còn để chỏm
Nay trở về
Đầu đã hoa râm…
Sau cuộc trường chinh ba mươi năm
Quỳ rạp trán xuống đất làng
Con tạ…
Con tạ đất làng quê
Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao!
Con tạ ơn cha
Đã yêu đằm thắm mẹ con
Con tạ ơn mẹ
Đã sinh con đúng lúc
Con tạ trời
Tạ đất
Đã mưa thuận gió hoà đêm mẹ lên giường sinh
Con tạ bà mụ vườn
Tạ lưỡi liềm cùn cắt rốn
Đã đỡ con ra đời
Vẹn toàn, sung sức…
Con tạ
Manh chiếu rách con nằm
Con tạ
Bát cơm nghèo mẹ con ăn
Con tạ
Câu dân ca mẹ con hát….
Tất cả thành sữa ngọt
Nuôi con ngày trứng nước…
Để hôm nay con được sống
Được lớn khôn…
Được chiến đấu hết mình
Vì tự do của Tổ Quốc
Được ca hát hết mình
Tổ Quốc thành thơ!

( Tạ- Phùng Quán )

Trong nhiều thi phẩm nổi tiếng của lão thi sĩ Phùng Quán, Tạ là bài thơ từ khi ra đời đã đồng hành cùng bạn đọc đến hôm nay.

Người chiến sĩ ấy đã chiến đấu suốt đời trong tư cách một chiến – sĩ – người chân chính. Và những thương tích bọc lên cuộc đời như một hào quang khổ hạnh. Sáu mươi ba tuổi đời (1932-1995) với ngót ba mươi năm lận đận, lao lí, bị hắt hủi, bị khai trừ, bị tước thẻ hội, bị treo bút… bản tổng kết  ba mươi năm ấy là sáu chữ: Câu trộm, rượu chịu, văn chui. Ngoa ngoắt chăng khi tôi nghĩ ông bị chôn sống suốt nửa đời người!

Để ngày trở về chói lọi, ông được tôn vinh, phục hồi danh dự đảng viên, hội viên, và sau khi chết một cái giải thưởng nhà nước đã trao cho cái tên Phùng Quán.

Ngày trở về làm người có tên ( trước ông thường mượn tên người khác để viết), ông Quán xúc động quỳ rạp trán xuống đất làng mà Tạ!

Tạ trời đất.

Tạ các anh hùng.

Tạ cha.

Tạ mẹ.

Lời cảm tạ đặc biệt thống thiết khi tạ mụ lang vườn:

Con tạ bà mụ vườn
Tạ lưỡi liềm cùn cắt rốn
Đã đỡ con ra đời
Vẹn toàn, sung sức…
Con tạ
Manh chiếu rách con nằm
Con tạ…

Xin cảm ơn nhà thơ với lời cảm tạ thiêng liêng! Mỗi con người chớ quên người đầu tiên bồng bế, tắm rửa , trông ngóng, mỉm cười khi ta ra đời là mụ lang vườn. Người phụ nữ bần hàn với cái nghề bác sĩ làng xưa ấy thường không được mấy khi coi trọng!

Ngày nay những người phụ nữ bước không qua ngọn cỏ ấy đã bước lên vũ đài thế giới, đã giành cho mình một ngày quốc tế, nhiều thi nhân văn sĩ đã tâm huyết giành cho người phụ nữ những tụng ca, ấy vậy mà tôi nhớ không nhầm rằng duy nhất một Phùng Quán đã biết tạ mụ lang vườn!

Và chính vì hiếm hoi lại rất rưng rức chân thành nên long lanh vô hạn!Cảm ơn lão thi sĩ đã tôn vinh một người vô danh, một nghề hèn kém bằng tình yêu chân thành đến thế!

Kịp khi đến nay nghề bà mụ đã là một thứ di sản cổ truyền thì nó đã kịp được tri ân!

Có muộn màng như cái giải nhà nước của ông chăng, ông Quán?

.

Ngày Quốc tế phụ nữ năm 2011.

Nguyễn Tấn Ái

Bát đẩu chi tài

Xưa khi còn nhỏ bé ngô nghê tôi đã từng thích lắm những giai thoại về Cao Bá Quát, nào mỉa tao đàn, nào lỡm Tự Đức…chuyện nào chuyện nấy rõ khéo tạc một họ Cao càn rỡ cậy tài ngông cuồng xuất tính, thú ơi là thú! Một vài cái truyện làm lưng vốn đủ để sai lũ bạn chăn trâu làm tay làm chân cho mình để lão đây rỗi rãi mà hề hà kể chuyện cho nghe!

Khoái nhất là câu Quát ngạo: Chữ nghĩa trong thiên hạ có bốn bồ thì riêng ta chiếm hai bồ, anh ta (Bá Đạt) và bạn ta gom một bồ, còn một bồ thì chia đều trong thiên hạ!

Ấy là chuyện khi xưa ta bé. Rồi lớn lên, nghiệp thi thư như là vốn dĩ, là vẽ tiếp một hành trình vốn manh nha từ hồi chăn trâu cắt cỏ; và cũng như nhiên rằng thần tượng thưở ấu thơ hãy cứ là bóng hình tiền nhân tôi dõi theo ngưỡng mộ. Duy khác hơn một điều: Ngưỡng mộ và cung kính.

Là một thi nhân lấy cho mình tự hiệu Cúc Đường ( nhà của người quân tử), Mẫn Hiên ( hiên nhà ưu tư), một tiền nhân rất biết sửa mình!

Là một con người tự khiêm tự biết mình lắm. Khi đọc tập thơ “yên đài anh ngữ” của Bùi Ngọc Quỹ, Cao Bá Quát tự nhắc mình chỉ là “sâu đo nọ những đòi đo thế giới”.

Là người cha rất mực yêu con, đêm nằm mộng thấy con gái (đã mất) mà nước mắt dầm dề (mộng vong nữ)

Là vị quân sư khi về dưới cờ nghĩa Lê Duy Cự đã đề lên cờ soái một chữ “nhân” tỏ cái lòng vì dân mà hưng quân điếu phạt.

Tôi ngờ ngợ, vẫn là bậc tiền nhân mà tôi tôn thờ kính ngưỡng, mà nay sao khác xưa nhiều quá!

Không là một tài năng lỗi lạc chỉ phẫn hận sinh bất phùng thời mà “càn rỡ cậy tài ngông cuồng xuất tính”. Vậy tiếng chẳng lành cho hạnh ấy từ đâu? Lại dò về cái án tru di, mới hay lời kết án ấy là từ Cao Bá Nhạ, cháu gọi Cao Bá Quát bằng chú, cũng là nhà thơ danh tiếng bấy giờ, khi tù tội, đã trần tình với vua Tự Đức mà nặng tay kết án chú mình!

Sinh tử quan đầu, có lẽ cũng nên nhẹ tay trong vòng khuyên điểm về phẩm hạnh của Cao Bá Nhạ. Song cũng cần tỉnh táo tránh nhẹ dạ dễ tin lời sàm mà hoen ố phẩm hạnh của Cao Chu Thần.

Riêng cái án “bốn bồ chữ” thì loay hoay lần dò, giờ tôi mới hiểu.

Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quí Đôn, thiên Văn nghệ có chép:

“Văn chương hay tuyệt được người ta gọi là Bát đẩu chi tài (tài được tám đấu)

Lời này vốn của Tạ Linh Vận. Vận thường nói: “Tài hoa trong thiên hạ cộng chung được một thạch (một thạch có mười đấu). Tử Kiến(tức Tào Thực, con trai Tào Tháo, một nhân vật chính trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, người viết chú thích) riêng chiếm tám đấu, tôi được một đấu, những người khác thì chia nhau một đấu”.

Từ đây mà suy ra, người trong thiên hạ xưa thường dùng khái niệm “đấu” để đong “tài”. Rủi xui sao lại vận đúng vào Cao Bá Quát.

Từ đôi chút tìm tòi của mình về phẩm hạnh của Cao Chu Thần, tôi quyết Cao danh sĩ chẳng hạ mình mà tự khen mình lố đến thế đâu, vậy sự tình do đâu?

Tạm gửi một giả thuyết: Một bạn tri âm nào vì yêu Quát mà tâm sự cùng bạn văn, rồi người này truyền tai người khác, đến truyền khẩu trong dân gian chăng?

Hay vì Cao sống cùng thời với vua Tự Đức, một vị vua nổi tiếng hay chữ, thường được các văn nhân nịnh bợ mà tán tụng, Tự Đức trái lại, rất phục tài Cao, đến nõi ban lời khen tặng:

“Văn như Siêu Quát vô tiền Hán

Thơ đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường”

Ghen với lời ban tặng ấy mà những người cùng thời cố tình đơm đặt để chuyện đến tai vua, hòng ra đòn âm hiểm độc với Quát chăng?

Song nhát dao trí mạng đã ra rồi, chỉ tiếc người đời sau ngễnh ngãng cứ tin là thật!

Tôi trước mộ tài, sau càng phục đức của một nhân cách văn nhân tầm cỡ, nên khôn nguôi canh cánh, nên mạo muội gửi đôi lời chia sẻ, không dám làm trạng sư vụng, kẻo chốn miên viễn thời gian danh sĩ Cao Chu Thần lại ngậm ngùi, lại tự thán: Chốn nhân gian lại thêm một thằng lầm lỗi!

.

Tháng giêng Tân Mão

Nguyễn Tấn Ái

Thác ghềnh

Quản chi lên thác xuống ghềnh!

Ca dao hình như là có câu đó. Tôi như chú mèo lười thích nằm ngẫm nghĩ và sưởi nắng, vậy mà cũng ít khi học mót lại câu ca ấy;  mà giờ đây thấm thía thấy nó ngạo nghễ làm sao!

Xưa rất thích câu thơ của danh sĩ xứ Bắc Nguyễn Công Trứ:

Ví thử đường đời bằng phẳng cả

Anh hùng hào kiệt há hơn ai!

Cứ thế nấp bóng vĩ nhân làm người chịu đựng; chịu khó, vì không đần nhưng cũng khó nói là thông minh sáng láng; chịu khổ, vì cũng như chín mươi phần trăm bạn bè cùng thế hệ, thời buổi cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ có ai sướng nổi đâu; chịu đói, bà nội còn thiếu hạt cơm huống gì lũ cháu đủ hai hàm răng!!! Và vân vân.

Lớn lên chịu cúi chịu hèn, dại gì mà cây ngay chết đứng, trong khi mình, hú họa, lại có đủ cái năng lực quỉ ma là quen thua thiệt.

Hì, cười một tiếng, đủ cả! Và tự hào mình từng trải, thân bách chiến cũng là thân bách bại, có sao đâu, tự hào mình giỏi chịu đựng, chẳng mất đi đâu, được mất không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển từ người này sang người khác, Anh-stanh muôn năm!

Ô hô! Trong chiến bại tôi là người chiến thắng, chú AQ bên Tàu chắc hỉ hả uống cạn một vò mĩ tửu hể hả vì có được một truyền nhân xuất sắc!!!

Vậy mà, ờ ờ, hình như bạn cũng như tôi?

Tôi kể tiếp, vậy mà cái thân gỗ lim ấy cũng có ngày mục vữa, mười mấy năm sau tôi kinh ngạc nhìn mình mục vữa, xót như cái xót của một linh hồn một ngày quá chân trở về cổ mộ nhìn thân thối rữa của mình!

Là ngày thằng bạn thân không mời tôi ăn giỗ. Mồ cha hắn, giàu bỏ bạn sang bỏ vợ, không nhớ ngày chân đất đầu trần, tắm sông mặc lộn quần đùi, đám cỗ toàn quan chức , toàn đồ mặt nạc! Lên cái đời sống là xuống mồ cái chất người!

Là ngày con bé cười khoe răng sún lên xe hoa, xe bốn bánh hẳn hoi, sao không nhớ ngày đèo nhau lên dốc Ré cười cà hổn cà hển, chiếc xe đạp chỏng gọng cười quay lơ!

Là ngày hội nhà văn về huyện, ông anh hàng xóm được mời, đi cùng các vĩ nhân, ngó tréo qua tôi, chào em hả, rồi hả hả cùng tri kỉ mới!!! Chua như dưa muối, ối trời cái ông anh thật dễ thương lúc say thường tán tụng: Đời tao chỉ biết có chú mày là thiên tài!

Là khi…

Khi cái con khỉ.

Tết năm nay ủa lạ toàn chuyện vui:

Chuyện vui thứ nhất: Thằng bạn tưởng mất toi tự tám hoánh đời nào nhắn tin, dòng tin ngùi ngùi “ mày khỏe không? Ước gì tao lại được ngồi cạn một chai với mày năm mới, rượu ngoại nhạt quá mày à!”. Mồng ba nó lù lù vác cả gia đình hắn về, xộc thẳng vào thăm hàn sĩ, dặn nhỏ “ đừng lì xì, làm hư con tao!”.Cái mặt bạn phong trần quá, chao ôi!

Chuyện vui thứ hai: Con bé mời tôi đi ăn giỗ, giỗ bà nội, nói buồn “ ngày xưa bà thương anh nhất”. Tôi nhìn tấm di ảnh cầu mong bà nội tha thứ cho cháu gái của mình.

Chuyện thứ ba, không vui, không buồn: Ông anh giới thiệu tôi vào hội nhà văn, căn dặn “ chốn này văn chương lễ nghĩa, anh chỉ sợ chú mày gàn bát sách, mất lòng!” Anh ơi, thằng em là vua hèn mà, huynh trưởng khỏi cái lo!

Mới hay cái câu “lên thác xuống ghềnh” không dễ trải. Giá ngày xưa tôi không thầm rủa thằng bạn, không thầm nguyền con bé, không thầm mỉa ông anh, hẳn bây giờ tôi đã tự mãn mình là người chịu đựng giỏi.

Không ai biết, riêng tôi thì tôi biết, còn ông trời biết nữa là hai, rằng thằng tôi bất quá cũng chỉ tự khen mình, trong gia tài tinh thần của tôi hãy còn nhiều khiếm khuyết.

Bạn đọc của tôi chớ cười, hay cứ cười, cũng chẳng sao, cái tôi cá nhân của tôi là thế, tôi tự kiểm mình mà hi vọng một ngày rủ bỏ những cái tôi, bước khập khiễng qua tuổi tri thiên mệnh, hi vọng thêm một lần nhận diện mình, cái tuổi mong chín hơn một lần đủ cả ba trăm sáu lăm ngày đừng lõi!

Vĩ thanh:

Tôi đã mời bạn một đĩa nhấm toàn khóm mít với muối, mặn chát. Những muốn gia vị ngọt ngào hơn, song ngẫm nghĩ lại thôi. Bởi tôi nhận ra cái sự là thế, tránh chẳng đặng mà. Xưa có chuyện dũng sĩ A-sin mình đồng da sắt ấy mà chết bởi cái gót chân mềm nhũn. Tôi , không dám ví sánh với thần thoại song từ cái bóng A-sin mà ngẫm thì nhân gian nghìn đời khi lại mấy tỉ cái a-sin chia lẻ: Lắm khi anh hùng lao động chẳng thể cuốc nổi vạt rau nhà, lắm khi  anh hùng chết chỗ lổ chân trâu. Tôi chịu đựng được tất, trừ thằng bạn, trừ người yêu và ông anh, ngẫm thấy mình đâu phải đâu xứng là người từng trải.

Vậy nên để không thẹn khi đọc câu “ quản chi lên thác xuống ghềnh” đâu phải dễ!

Tháng giêng năm Tân Mão.

.

Nguyễn Tấn Ái

Kể Chuyện Thi Cử

Nước Tàu thường tự hào là nước văn hiến trước hết vì trọng chữ nghĩa, lấy cơ sở “dĩ thi thủ sĩ” làm nền dụng người là một điều hay. Song thiết nghĩ cái hay nào cũng thầm vụng ẩn náu mặt trái của nó, thi cử cũng thế, mà ngay ở đất nước văn hóa Trung Quốc cũng không là ngoại lệ.

Sách Vân Đài Loại Ngữ thiên Điền vựng nhân chép về khoa cử xưa, cũng tiện chép cả cái tệ hại của khoa cử như sau:

“ Ở triều Tống Lý Tông đề thi ra cẩu thả và giản lược, hoặc giữ thiên kiến và ức thuyết trái ngược nhau. Sĩ tử phải hoang mang không biết theo đường lối nào nữa.

Mà cái tệ của người đi thi thì có năm điều:

1. Truyền nghĩa (truyền phần giải nghĩa cho nhau)

2. Hoán quyển (đổi quyển cho nhau)

3. Dịch hiệu (đổi số hiệu của nhau)

4. Quyển tử xuất ngoại (quyển thi đưa ra ngoài)

5. Đằng lục diệt liệt (sao chép khinh bạc)

Triều đình phải lập thưởng cách cho ai cáo báo bắt được người giấu đề thi, truyền bài viết tháu cho nhau và đội tên người khác vào thi.

Người ta lại bảo : quyển văn của cử tử nộp thi lại giống nhau không sai một chữ. Cái tệ ấy có hai điều:

1.Quan khảo thí nhận của hối lộ, hoặc nhận ám hiệu, hoặc đưa cả toàn thiên cho một bọn truyền chia nhau chép.

2.Vị lão nho nào đó bán văn trường ốc. Một người truyền cho trăm người. Quan khảo thí không rảnh rang tra xét.

Thói tệ như thế tham xét với của đời sau thật giống nhau.”

Vậy cũng than như ông Lê Quí Đôn rằng: Thói tệ như thế tham xét với đời sau thật giống nhau!

Thi cử là chọn người có tài ra ứng lãnh những công vụ quan trọng hầu giúp đời giúp nước, đóng góp cho xã hội bằng tri thức. Cái ý thức này không mấy đời được lãnh thông, mà cái lợi lộc từ địa vị chức tước thì không truyền rao mà ai ai cũng biết, nên đua nhau tham lợi bất chính mà nảy nòi cái tệ hại.

Cụ Nguyễn Khuyến than thở:

Con nên khoa giáp cha mòn trán

Em được công danh chị nát trôn!

Ngày nay nào có khác gì, trong một kì thi tuyển cấp quốc gia, hai bài giải nhì khi đọc lại văn chương…giống hệt nhau!

Một kì thi đại học bài đạt điểm mười lại…giống y hệt một bài văn mẫu!

Có những sinh viên ưu tú bị đình chỉ học vì tội đi thi hộ!

Mấy năm trước có một thầy giáo xứ bắc tên là Nguyễn Việt Khoa vì phẫn nộ với cái tệ này mà làm thành oanh liệt trong một cáo trạng với phim ảnh chứng cứ đủ đầy, thật lẫy lừng kẻ sĩ bắc hà! Tiếc thay nghe nói con đường viên chức của thầy sau này không hanh thông cho lắm!

Tôi cũng cầm bút giám khảo ngót mươi niên, thật đau đầu cho những bài văn chương đa phong cách, có đoạn non như học sinh cấp một, lại có đoạn uyên áo thâm sâu bậc thầy, thật không biết đâu mà lần!

Mà có hề chi, đã có rau tất có sâu. Dụng thuốc trừ sâu chỉ là vì cưỡng bức. Tốt nhất là đất sạch không mầm sâu bệnh. Mà không bệnh thì muôn đời vẫn là giáo dục ý thức, và cơ chế tuyển dụng người tài thật đúng phép.

Khi gõ chưa xong bài này, một ông bạn hơi cuồng ngồi theo dõi, góp chuyện:

-Theo thầy thì trên thế giới dân tộc nào giỏi nhất?

–         …?

-Việt Nam chớ đâu. Thầy thử nghĩ, mới lớp ba đã làm chủ tịch xã ngon ơ, thử hỏi học đến đại học thì làm Tổng Thư Kí Liên Hiệp Quốc chứ không à! Lại nữa, có nhiều vị tuy bận trăm công nghìn việc mà trong mấy năm đã cố gắng lấy được những hai bằng tiến sĩ đấy!

Bó phép!

Hi vọng mọi tai nạn tai ương chỉ là hệ lụy của một thời kì quá độ, để cái văn hiến văn hóa nước nhà có cơ vững mạnh, xứng đáng với mong mỏi của bao bậc tiền nhân!.

 

Nguyễn Tấn Ái

Cảo thơm lần giở trước đèn

Lần dò những trang sách cũ, lòng khôn xiết mừng khi trong chằng chịt những sự những tích xa xôi lại gặp được một vài tin trân quí.

Vân Đài loại ngữ quyển 4 tập hợp về Điền vựng, chép lại một sự việc lí thú về Lê Trừng, người nhà Hồ, nay tự hào chen lẫn ngậm ngùi mà thuật lại:

“Sách Cô Thụ Biều Đàm chép: Lê Trừng ( Hồ Nguyên Trừng) , con của Hồ Quý Ly được nhà Minh cho làm Hộ bộ Thượng thư chế tạo súng rất giỏi, làm súng thần sang cho triều đình nhà Minh

Ngày nay hễ tế binh khí thì tế luôn Lê Trừng.

Sách Thù vực Chu Tư Lục chép: Lê Trừng, em của Hồ Hán Thương tiến dâng cách thức chế tạo thần sang. Vua nhà Minh xuống chiếu cho Lê Trừng làm quan..

Sách Minh sử chép: Trong niên hiệu Vĩnh Lạc (1403-1424) vua nhà Minh thân chinh đánh Mạc Bắc, quân giặc ùa đến đông đảo, lúc ấy mới được thần sang của nươc An Nam,liền đem ra đánh, quân giặc mới kéo nhau chạy.

Lê Trừng thường có viết Nam Ông Mộng Lục, kể những chuyện lặt vặt đời nhà Lý, nhà Trần.”( Trích Vân Đài Loại Ngữ)

*

Họ Hồ cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh nhân cơ hội xâm lược nước Nam, cha con Hồ Quý Ly thất thủ bị bắt giải về Trung Quốc.

Trước sức lực lượng hùng hậu của quân Minh, Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý Ly đã có một  câu nói nổi tiếng: Không sợ thế giặc manh, chỉ sợ lòng dân không theo.

Nay lại biết chính nhờ Hồ Nguyên Trừng mà nhà Minh nên cường thịnh.

Thế mới biết chở thuyền là dân mà làm lật thuyền cũng là dân. Nam Việt không thiếu người tài, mà bao nhiêu lần thất thế trước giặc ngoài, ấy là lòng dân không theo vậy.

Sử xưa rành rõ, có là bài học cho đời nay chăng?

Giữ nước cốt ở giữ lòng dân. Dân làm nên xã hội, dân lòng trí sáng suốt. Lấy bụng thành thực đãi dân thì thế nước bền đến muôn đời, lấy lừa mị dối dân thì chỉ dối trong sơm tối, lâu dài sao được.

Lấy khoan hòa vỗ về dân thì gốc nước yên.

Lấy chính sự hà khắc dọa dẫm dân thì dân sợ mà hóa loạn.

Như vậy gọi là học sử chăng?

Nguyễn Tấn Ái

Ban Mai Tấu Sớ

.

Tối nay tại nước Việt Nam
Nhà nhà kính tiễn Táo quân về trời
Táo ơi xin chớ rong chơi
Ban Mai Hồng gửi một lời cuối năm
Nơi nơi khấp khởi mừng thầm
Cọp đi, Xuân đến, chào mừng Mèo yêu
Cầu cho an lạc hơn nhiều
Người người hạnh phúc đón điều may vui

Thân chúc nhà nhà

Vui đưa  ông Táo

Về trời hoan ca

Huỳnh Huệ

Mời xem
BAN MAI TẤU SỚ

Sớ: Táo Nguyễn Tấn Ái
Hình ảnh: Internet Thực hiện PPS: Trần Lê Túy-Phượng

.

Trước dạ sau bẩm

Khải kính Ngọc Hoàng

Tân Mão đến rồi

Canh Dần lần khuất

Điểm danh lược thuật

Chuyện một năm qua

Kể từ tháng ba

Được mùa nắng ấm

Ban Mai Hồng thắm

Qui tụ bạn bè

Lớn nhỏ họp về

Nên trang sách mới
…………

Xin click vào hình dưới để xem tiếp

Vân Đài Loại Ngữ và Địa Lý

Ai cũng biết ông Bảng Lê Quí Đôn là một học giả thông kim bác cổ.
Mục đích lớn của những nhà khoa bảng xưa là đem cái sở học của mình mà bình thiên hạ.
Trong hành xử của mình, Lê Quí Đôn không giấu nổi khát vọng lớn ấy.
Nho y lí số vốn là sở học căn bản của những ai đã gồm thông tứ thư ngũ kinh, đã lặn lội cùng bách gia chư tử.
Là quan Bảng nhãn, Lê Quí Đôn rất hiểu vai trò của địa lí đối với một nhà chính trị.Địa lí là hình sông thế núi, là cư dân điền thổ, là nguồn lực nguồn lợi từ con người đất đai mà ra.

Quyển ba của Vân Đài Loại Ngữ, luận về khu vũ, nhiều lần nhà nghiên cứu uyên thâm này bàn về điều ấy. Tiêu biểu ông viết: “ Nhà Hán dựng nên, Tiêu Hà thu lấy những bản đồ và thư sách của nhà Tần. Hán Cao Tổ được những đồ thư ấy mà biết đầy đủ số nhà cửa, số dân chúng nhiều hay ít, mạnh hay yếu và những nơi hiểm yếu trong thiên hạ.”
Không chỉ thuần lí, Vân Đài Loại Ngữ rất chú trọng đến sức mạnh siêu nhiên hợp thành từ long mạch đất đai, điều này tạo nên những luận bàn hấp dẫn kích thích trí tò mò người đọc ngày nay.

Theo quan niệm của ông thì địa lí có quan hệ với việc hình thành tính cách con người. Ông trích lời Tống Kì viết trong bút kí :
“ Miền Tây Bắc là phương cứng mạnh của trời đất, hùng vĩ tôn kính mà nghiêm trang, cho nên bậc đế vương thường khởi lên ở miền Tây Bắc.
Miền Đông Nam đất mỏng mà nước cạn, cho nên sản vật ở đấy dồi dào, của cải ở đấy giàu có, nhân vật ở đấy lanh lẹ mà không trọng hậu, ăn uống xa xỉ mà sống cẩu thả, kẻ sĩ thì yếu đuối mà ít cương quyết.
Miền Tây Bắc đất cao mà nước lạnh buốt, cho nên sinh vật ở đấy ít ỏi, của cải ở đấy nghèo nàn nhân vật ở đấy cương nghị mà gần như ngu ngốc, ăn uống đạm bạc mà sống siêng cần, kẻ sĩ ở đấy thâm trầm trọng hậu mà ít trí huệ.”
Đặc biệt là niềm tin vào tác động siêu nhiên từ long mạch đến hưng vong của các triều đại.

Khảo cứu lịch sử các triều đại phương Bắc, Lê quí Đôn trưng ra nhiều bằng chứng hấp dẫn. Từ việc chọn con đất mà lập kinh đô đến việc coi vượng khí còn dài hay ngắn mà dời đô giữ nghiệp. Lại có những bậc đế vương không tường địa lí, không nghe mưu thần dẫn đến vận khí trơ cạn, mất nước!
Ví dụ: Quách Phác nhận thấy Kim Lăng vượng khí chưa dứt, còn 300 năm nữa, bèn dời đô về Kiến Khang.

Chùa Linh Mụ

Triều Nam Tống đóng đô ở cửa biển Lâm An, dòng nước Đông Nam sớm tối có hai con nước thủy triều. Trong niên hiệu Gia Hy thứ 4 đời vua Lí Tông nhà Nam Tống, cát bồi, thủy triều bị tắc nghẽn. Ngô Tiềm xin dời đô về Bình Giang, vua Tống Lí Tông không chịu nghe theo, thì vừa hơn  hai mươi năm sau nhà Nam Tống đầu hàng nhà Nguyên.
Sở đắt cái học dịch lí, bản thân ông Lê quí Đôn cũng để lại một bằng chứng kinh hồn. Khảo cứu hình sông thế núi đất Tây Sơn năm 1776, ông tâu cùng chúa Trịnh: “Tây Sơn có đất thiên tử, 12 năm nữa sức mạnh của họ sẽ không có ai chống nổi . Đại tướng trấn ở Thuận Hóa e không phải là đối thủ của họ, xin Chúa để ‎mắt đến” .Nhưng chúa Trịnh Sâm cho là lời quá đáng không hề lưu tâm.

Câu chuyện địa lí của người xưa thật quá huyền bí, thật thiên nan vạn nan với người đời nay. Không dám lạm bàn, chỉ là góp thêm đôi chứng cứ vui vui.
Lí Công Uẩn xưa nhân thấy thế đất rồng cuộn hổ ngồi và hình tượng rông bay lên mà dựng kinh đô ở Thăng Long.
Chúa Nguyễn Hoàng được thần nhân chỉ cho thế đất có phong có thủy linh biến bảo triều mà dựng kinh đô ở Huế, lại xây chùa Thiên Mụ để ghi ơn thần  nhân.

Điện Kính Thiên, Thăng Long xưa

Một người anh của tôi vốn am tường thiên văn địa lí nhân nhàn đàm cùng tôi mà bảo: Long mạch quan trọng nhất là chổ con nước chầu về, bình lặng mà không ngưng trệ là thế tốt. Trong các triều đại khi thay bậc đổi ngôi thường bạo sát, duy triều nhà Nguyễn truyền đến 9 chúa 13 vua kể là khá lâu, vậy mà khi mất ngôi thì con cháu vẫn đường hoàng yên ổn, ấy là nhờ vào dòng Hương linh thể, bình lặng mà không ngưng trệ! Lại bảo: Anh xem vượng khí ở cố đô Huế chưa dứt, tương lai thế nào cũng có bậc lãnh tụ lớn cho mà xem!
Lại bảo nhà Tây Sơn tìm được thế tốt nhưng đất ác, bạo phát bạo tàn. Vậy nên chóng tan mà hậu về sau tàn khốc.
Anh vẽ lên hình một cuộc đất ở Bảo Lộc mà anh đã chiêm nghiệm, có long hổ bao bọc đủ chín tầng, rồi trầm ngâm: Nguyên thủ Đông Dương sẽ phát từ đất này!

Thôi thì kính nhi viễn chi, mình có hiểu mô tê gì đâu mà quả quyết. Chỉ là vui chuyện vậy!

.

Nguyễn Tấn Ái.

Lê Quí Đôn và Vân Đài Loại Ngữ.

Vân Đài Loại Ngữ được Lê Quý Đôn hoàn thành vào năm 1773, lúc ông 47 tuổi. Tác phẩm này được xem như một loại “bách khoa thư”, đồ sộ nhất thời Trung đại Việt Nam, tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học… sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội… Vân Đài Loại Ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

  1. Lý khí (vũ trụ luận)
  2. Hình Tượng (vũ trụ học)
  3. Khu Vũ (Địa lý học gồm 93 điều)
  4. Vựng Điển (Điển lệ, chế độ gồm 120 điều)
  5. Văn nghệ (48 điều)
  6. Am Tự (ngôn Từ gồm 111 điều)
  7. Thư tịch (107 điều)
  8. Sĩ Quy (phép làm quan gồm 76 điều)
  9. Phẩm vật (gồm 320 điều)

Xin được mở đầu cho loạt bài nhiều kì về những tri thức từ “ Vân Đài Loại Ngữ” bằng bài giới thiệu học giả Lê Quí Đôn.

Lê Quí Đôn (1726-1784) là một tài năng xuất chúng, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu văn sử triết có giá trị ngoài  bộ “Vân Đài Loại Ngữ”, tập đại thành tri thức đông tây kim cổ của một đời tri thức chắc lọc mà hậu thế rất mực trân trọng.

Từ thuở bé, Lê Quí Đôn đã nổi tiếng thần đồng:

Hai tuổi đã đọc được những chữ đơn giản

Năm tuổi đã đọc được nhiều chương trong kinh thi.

Mười một tuổi học sử mỗi ngày nhớ được vài chương và bắt đầu học kinh Dịch.

Hai bảy tuổi thi Hội đỗ đầu, vào thi Đình đỗ Bảng nhãn.

Là người rất tự tin vào kiến văn của mình, giai thoại kể rằng trước nhà ông có treo bảng đề mấy chữ “ thiên hạ nghi nhất tự lai vấn( người trong thiên hạ không biết chữ nào thì hãy đến hỏi).

Cuộc đời ông gắn liền với nhiều giai thoại kinh hồn.

Sang chơi nhà bà hàng cầm ngó qua sổ nợ, sau bà hàng cháy nhà, ông đọc giúp bà ghi lại sổ, không sót một người không sai một xu!

Đọc ngược bảng vài ngàn chữ một lược rồi đọc xuôi lại tắp lự.

Lê Quí Đôn chẳng những là nhà văn hóa mà còn là con người có khát vọng chính trị cùng cực. Trong “Vân Đài Loại Ngữ” ông cũng không che dấu khát vọng của mình khi bàn về Vũ hầu Gia Cát Lượng: “ Than ôi! Biết nền đất phát tích bậc đế vương ở Kiến Nghiệp, bói được ngôi nhà phát tích bậc tướng công ở Long Trung, cái học của Gia Cát Vũ Hầu há chỉ riêng dùng để trị nước và dùng binh mà thôi hay sao?”

Cũng từ tham vọng chính trị mà hành xử của Lê Quí Đôn có nhiều chỗ mờ ám tà vạy.

Dựa chúa Trịnh để lập thế mình mà hiếp đáp vua Lê.

Thẳng tay đàn áp bạn đồng liêu là Trần Huy Mật vì Trần Huy Mật trung với vua Lê.

Kẻ sĩ xuất thân lại chịu khuất thân luồn lót nịnh nọt loại hoạn quan là Phạm Huy Đỉnh để được cất nhắc.

Bậc thông nho mà tổ chức gian lận trong thi cử hòng lấy học vị cho đứa con trai bất tài.

Phàm là kẻ sĩ đương thời nghe đến Lê Quí Đôn là sợ đến xanh mặt!

Ông tri thức uyên bác mà khí độ hẹp hòi. Người dịch “Vân Đài Loại Ngữ” là dịch giả Tạ Quang Phát có lời bình:“ Qua những hành vi của ông (…) ta có thể thấy Lê Quí Đôn có học vấn uyên thâm nhưng không phải là bậc cao sĩ.”

.

Nguyễn Tấn Ái.

Ngóng Gió Xuân

Tết chưa về, ờ hình như sắp về rồi, tôi có thói quen hễ cứ việc xong thì ngỡ là tết đến.

Tết cứ mơ hồ lẩn khuất đâu đây, trong hơi rét đậm, trong làn mưa lất phất không đủ ước áo, chỉ đủ để lạnh những sợ tóc mềm, trong cái lười biếng trễ nải của mình mỗi sớm khi dùng dằng chăn chiếu…à, rõ nhất là trong tiếng cười nói vô tư đậm đà của các cô cậu học trò: Có đồ mới chưa? Nhớ sang chơi nhà mình nhé!..

Và lòng nao nao chờ tết!

Có lẽ Nguyễn Bính là người tôi nhớ đầu tiên mỗi khi tết về:

Đã thấy xuân về với gió đông

Bên cạnh màu má gái chưa chồng

Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm

Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.

Nhà thơ Nguyễn Bính thật tinh khi nhìn ra màu xuân trong màu trẻ của đôi má những người thiếu nữ. Xưa, thời còn bé dại, mấy câu ấy là những câu hàng độc, cất giữ để trò chuyện với mình mỗi khi lỡ dại vấn vương bóng hồng nào đó, thầm thôi.

Cái tháng chạp cũng xôn xao ý vị với nhà thơ Mường Mán:

Tháng chạp về rồi bé hay không

Guốc mới ai khua ngõ nội thành

Để cho rêu cũ vàng son cũ

Thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh.

Ờ, bây giờ các cô lười đi guốc, chỉ toàn bi- tít thôi, cái tiếng guốc khua khua làm rộn ràng bao con tim trông ngóng chừ im tiếng rồi, tiếc quá!

Cũng Mường Mán với chút bâng khuâng làm nao lòng tôi mãi đấy, là khi đứa trẻ là tôi tìm được nơi ông chút đồng điệu trong một mùa xuân mười bảy:

Gỡ tờ lịch cũ phai năm tháng

Tình có phai dần theo tháng năm.

Thơ cũng như tình, gặp có thể là nhiều mà nhớ giỏi may mắn thì chỉ có một hai thôi, tình mà! Nên ngoài hai thi nhân ấy ra, mình tuyệt không nhớ có ai đã viết hay về tháng chạp nữa .

Rồi xuân đến!

Vui đây, mà cũng mơ hồ buồn đây.

Mà đó lại là chuyện tháng giêng.

.

Nguyễn Tấn Ái.

Giấc Mơ Tôi

Đêm qua tôi mơ thấy chú bé ném hòn đất trên đồng cạn

Nghèo không dư nổi một giấc mơ.

Đêm qua tôi mơ thấy khoảng lặng thời hậu chiến.

Hạt gạo cõng bốn củ khoai.

Đêm qua có tổ chim nở trong vườn xưa hoang dại

Vô tư bầy trẻ leo trèo.

Đêm qua giấc mơ tôi không vĩ nhân không thi nhân không ngựa xe lễ hội

Chỉ cánh đồng mênh mông gió thổi

Trống vắng như một hồn nhiên

Giấc  mơ tôi xưa không giảng đường, không ti vi cùng in-tơ-net

Không có nhà chép sử co kéo từng câu mặc cả với người xưa đạo mạo.

Hồn nhiên qua giấc mơ những bước chân hốt hoảng không nẻo về

Dằng dặc một cơn mê nối đôi bờ thời gian ngổn ngang được mất

Dòng sông đời người mãi miết

Màu thời gian không lời

Cánh lục bình tím biếc

Nở cùng giấc mơ tôi.

.

Ngày cuối năm 2010.

Nguyễn Tấn Ái

Mỗi năm, Thiên Chúa giáng trần

Mỗi năm một lần  mùa đông về.

Thế giới ấm lại với những lời chúc mừng, con người xích lại gần nhau hơn. Mùa Giáng sinh.

Lời chúc mừng không dành riêng cho ai, không chỉ cho những môn đồ của Chúa, lời chúc cho con người.

Sáng danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

Hãy nhìn ngắm gương mặt mùa Giáng sinh bằng đôi mắt văn hoá con người để mừng cho con người đã biết yêu nhau.

Không còn những cách ngăn, đố kị, những suy xét bảo thủ hay hồ đồ vì thiển cận. Không còn những miệt thị kém cỏi và thù hận.

Thiên Chúa đến đem một con đường cứu rỗi, người tin Chúa đón nhận bằng đức tin.

Thiên Chúa đến đem tình yêu, loài người đón nhận bằng văn hoá không giới hạn. Dù bạn là ai, là tín đồ của đức Thích Ca, là môn đệ của đức Mô Ha Mét, hay bạn là môn đệ của chính tri thức của mình, chỉ tin vào mình thì bạn vẫn cứ ấm lòng mỗi khi nhìn cây thông noel mùa đông, phải không?

Vì sao? Không chỉ là một trào lưu, bởi trào lưu chỉ xuất hiện rồi mất đi trong một thời gian nhất định, mà mỗi năm một mùa Thiên Chúa giáng trần.

Vì sao? Vì dù tin hay không tin, ta vẫn cứ nhận ra rằng Chúa đến để nhắc nhở con người tránh xa tội lỗi.

Chúa Jê- Su phán: Ngươi không thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi mọi cho ma môn nữa.

Ma môn là gì? Là đam mê của mắt, là ham muốn của đời, là hỉ nộ ái ố.

Có khi nào ham mê tiền bạc đến mức bạn luôn nhức đầu với hàng đống kế hoạch làm ăn mà không một phút nghỉ an? Có.

Có khi nào bạn yêu danh dự đến luôn đau khổ vì lo tìm cách bảo toàn danh dự? Có.

Có khi nào bạn ham danh vọng đến bạc tóc vẫn còn trăn trở vì ở đời chưa kịp để lại một tiếng thơm? Có.

Hay có khi nào bạn yêu người đến tuyệt vọng vì lo sợ mất người? Có.

Hay người thân bạn ra đi, rồi bạn nhận thấy đời sống trở thành vô nghĩa? Có.

Những ham mê tích cực? Đúng thôi, song ta đã sai vì đã quá đà, đã làm tôi mọi cho những gì không mãi mãi.

Và sai lầm của mỗi chúng ta là đã xem những gì hạn hữu là mãi mãi.

Và ta đã đau khổ một cách tích cực!

Mỗi năm một lần Thiên Chúa vào đời để nhắc nhở chúng ta buông bỏ những gánh nặng cuộc đời.

Bạn hãy chúc cho mình bình an, thanh thản với những gì được và chưa được trước khi mang lời chúc an vui đến cho những người thân, đó mới là ý nghĩa tích cực nhất của lời chúc mừng Giáng sinh.

Và tôi cũng chúc cho tôi một Giáng sinh nhận được sự phiếu trắng từ Thiên Chúa trước khi chúc bạn một Giáng sinh vui vẻ!

.

Nguyễn Tấn Ái

Thưa Em Cỏ Đã Mọc Đầy Chiêm Bao

.

Rằng: …chưa quên nẻo đường làng

Ơi em! Nắng đã mịn màng xanh xưa.

Rằng: … thương lắm những ngày mưa

Thôi em! Ước đã cũ vừa trong  tôi.

Rằng : … trên lối cỏ ta ngồi

Thưa em! Cỏ đã rối bời chiêm bao.

 

Về gom đủ một trời sao

Mang ra phố thị mời chào mua vui!

 

Vục vào ngày cũ, tràn môi

Say đi, cho đủ vừa lời xưa em…

.

Nguyễn Tấn Ái

Tự Thán – Củi

Tự Thán

.

.

Như mt mối ngóc đầu qua trang sách

Bốn bên vách chữ tường thơ

Giậu liếp rào ngăn một chiều đổ sập

Dụi mắt nhìn đời lơ ngơ, lơ ngơ…

.

Củi



Đi hết nắng mưa niên hạn cuộc đời

Thô lậu hồn nhiên trở về nguyên thủy

Sống hết mình cũng nghĩa là tự hủy

Phút đốt mình đã nghĩ đến tàn tro!

.

Nguyễn Tấn Ái

 


Chợt nhớ

Cha

Chìm trong hôn mê

Con lạc vào tháng ngày xa khuất

Ngày cha mất

Đứa trẻ bơ vơ trong con khóc òa!

 

Mẹ

Mẹ đi hôm ấy trời mưa

Cái tơi cái nón sao chưa kịp quàng

Thênh thênh một lối ra đồng…

Từ nay thiên hạ bão bùng, riêng con!

.

Chị

Cơm em ăn chị xới

Áo em rách chị khâu

Một đời em lành lặn

Chị tuổi xuân úa màu!

 

Anh

Anh thường khen em thằng em thiệt khéo

Biết vào ra ngất ngưỡng những là thơ.

Giỗ chạp cưới xin họ hàng réo gọi

Anh dấu em những lo lắng phạt phờ!

 

Út

Cái út mày mút đầu xương

Mày theo cha mẹ nắng sương ra đồng

Anh mày xưng bá xưng hùng

Tội thân mày vẫn lội bùn đám mương

Út ơi!

Đám ruộng đầu mương!

.

Nguyễn Tấn Ái

Thầy Tôi

.

Con về gần bên Thầy

Tìm chút ấm lúc xưa theo Thầy học bao điều mới lạ

Bể tri thức biết là mênh mông quá

Ấm bàn tay Thầy dìu dắt con.

 

Gần ba mươi năm đủ để một bể dâu

Những mất những còn trong Thầy mặc tưởng

Sợ con buồn, Thầy vẫn cười rất sướng

Giọng cười giòn ( đâu rồi sắc khinh bạc thuở xưa?)

 

Đã già đi chăng ? Ước gì, xin chưa

Vẫn hào khí hào hoa Thầy con ngày cũ

Bán mấy bộ áo quần giữa ngày còn lam lũ

Đem về những “ Đỏ và đen”

 

Con đã theo dáng thầy ngày đó lớn lên

(Đã hân hoan trong quĩ đạo mà như Thầy không muốn thế)

Thầy kính yêu! Thầy đừng buồn, có lẽ

Con xin lỗi Thầy đã nói chuyện không vui!

 

Mỗi đêm nhớ Thầy con ước không thôi

Được theo Thầy về ngày xưa huyện nhỏ

Ánh sáng đèn dầu lớp học thời Nghiêu Thuấn

Và lũ học trò theo Thầy đi lên!

.

Nguyễn Tấn Ái.

Mưa đêm

Giọt mưa xiên đêm tìm mặt đất
Đi hết một hành trình bắt buộc

Giọt mưa đi qua bao thiên hà
Gặp những vì sao học cách tỏa sáng

Giọt mưa đi qua những tầng không
Học chân lí trong im lặng

Giọt mưa nép mình tránh cơn sấm sét
Ngạc nhiên một nhà chia đôi cuồng nộ

Giọt mưa nép mình tránh cơn gió thốc
Muốn can chẳng được nào giận hờn bão tố

Giọt mưa buồn
Kí sinh đành là sứ giả mùa đông

Bầu trời cười tươi như ngày nắng lên
Hất giọt buồn vào bóng tối

Và hân hoan trong lặng im đi tìm mặt đất
Kết thúc một hành trình bắt buộc!

.

Nguyễn Tấn Ái

Dọc Đường Phụ Nữ

Lang thang vui chuyện.

Mà phải kê khai trước rằng trong cái gia tài tinh thần vốn còm cõi của tôi, phần còm cõi nhất vẫn cứ là phần kinh lịch nhi nữ, để thể tất cùng nhau, tránh những ngờ vực chính đáng từ cái đầu đề vốn không mấy nhã này!!

Mà là dọc đường phụ nữ, chứ tuyệt không có ý phụ nữ dọc đường!

Người phụ nữ mà tôi để ý, để vừa kính vừa hãi, lại là nàng Kiều nổi tiếng tài sắc ai bì. Kính là kính cái đức hiếu để đời, ngẫm xem vào thời tiết trinh người con gái đáng giá nghìn vàng, mà nàng đắn đo đến “ dẻ cho để thiếp bán mình chuộc cha” thì cái sự hi sinh ngang bằng một dấn thân, một liều mình, một lìa bỏ, ngang như người chiến sĩ “ cầm ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo” vậy! Là kính! Mà ứng xử ấy kể vào hàng đáng hãi. Quyết liệt ấy, chỉ nhẹ một phân lượng là đã rơi vào hàng nhẹ lòng kém đức!!! Kể cũng liều lĩnh quá chừng!

Ngẫm sau nàng hai gần hai trăm năm, người phụ nữ đại diện cho tam tòng tứ đức ( hình như là cuối cùng) là chị Dậu cũng thà bán con mà chẳng chịu bán mình! Miễn bình.

Nên chợt ngẫm giá mà mình mặc được cái cốt cách hào hoa phong nhã như Kim, thì tiết Thanh Minh năm ấy hẳn sẽ ngỏ lời chọn Vân làm vợ. Bởi đoan trang tốt nết như Vân thì thật là một thê nhi mẫu mực. Lại  được cái phúc có một bà chị vợ như Kiều để tiết nguyên tiêu kì đoan ngọ lại mời bà chị cùng bả tửu vấn nguyệt cao hứng đàm luận chuyện văn chương rồi lại cung kính tiễn chị về! Ờ, Kiều chắc tửu độ cũng khá đây, đã từng khi chén rượu lúc cuộc cờ mà! Với Kiều lòng ngưỡng mộ chỉ đến thế thời thôi. Thẹn!

Người thứ hai đủ dọa đến nhát thần hồn các bậc nam nhi hẳn là bà chúa Xuân Hương.

Kể từ nhi nữ xuân tình, dám lỏng then tạo hoá đón xuân vào cho đến khi mất hút vào cõi vô tăm vô tích cũng đã hai đời chồng, hai lần lẻ mọn,chưa một lần làm mẹ, ngẫm cũng tội tình. Nàng không có cái để tòng, với nàng, đức Khổng chừng vô kế khả thi trong lời giáo huấn: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.

Không thọ đạo thánh hiền, mà nàng như cũng xem thánh hiền như quỉ thần kính nhi viễn chi, bởi suốt đời lập ngôn nàng chưa một lần ngạo cùng đức Khổng, ngoại lai nàng ngạo tất: Dạy lũ khoá sinh làm thơ, châm chọc sư sãi thánh thần, giẹo chân giễu tướng Tàu thất thế… Lại còn cợt người quân tử nặng bụng đồ thư đến nửa phần người thất thế với nửa phần thái giám.

Kính bái!

Trong danh sách nhi nữ của tôi còn một dấu khuyên đỏ cho bà Đặng Thị Mẫn, dòng dõi họ Đặng nổi tiếng thi thư làng Lương Đường tỉnh Hải Dương, vợ của đấng tú tài nỗi tiếng phong nguyệt tình hoài Trần Tế Xương.

Lặn lội một đời, cam chịu một đời, hi sinh một đời. Con nhà dòng dõi mà cam vì chồng hoá thành hàng tôm hàng cá, chịu tiếng đời mai mỉa, thật thà cũng thể con buôn, khôn ngoan cho lắm cũng phường lái trâu.

Thế mới hiểu Tứ Xương dù ác khẩu đến có lúc ví mình là chó ( Tế đổi làm Cao mà chó thế) mà cứ một mực nắn nót cho bà Mẫn thành hình tượng con cò lặn lội thật đáng yêu( lặn lội thân cò khi quãng vắng).

Bà Mẫn sinh được một gái, tên là Thục, tiếc rằng không đủ thời gian tiền của để thoả cái tâm huyết về quê Nam Định xin tham lĩnh gia phả dòng họ Trần, tìm xem cô Thục ấy rồi còn lưu giữ cái đức bà Mẫn đến mấy đời!

Trên là những gương mặt phụ nữ đã trở thành cổ điển. Ngẫm một điều không ngoa ngoắt mấy rằng lắm người trong lớp hậu sinh nhiều khi ngộ chữ, loạn chữ thành liều lĩnh mà ao ước dại có ngày sánh với một nàng đáng mặt như những hình mẫu của sách giáo khoa! Biết đâu cái mặt trăng kia cứ sáng rờ rỡ cốt chỉ lừa đời cho vui, kì thực nó khô không khốc, đố ai sống được với nó!

Đem công dung ngôn hạnh mà đo thì chừng nhiều khiếm khuyết đó.

Kiều khuyết cái công. Nên bị trạng Trứ mắng.

Người cổ nguyệt lại hỏng cái ngôn. Nhà nho mắng là con yêu nữ họ Hồ!

Kính cụ Ức Trai nên chẳng dám có điều vô phép, nhưng mách nhỏ rằng bà Thị Lộ được vua yêu hình như cũng làm cụ Nguyễn đau lòng thì phải, không dưng sao lại nhắn gửi “ ngoài ấy dầu còn áo lẻ, cả lòng mượn đắp hơi cùng!”

Bà Nguyễn Thị Hinh nhờ oai ông huyện Thanh Quan đã ấm cái thân, lại còn vượt phận dám khuyên xằng xử bậy để đến nỗi thân ông mang vạ! Thật chẳng chính danh. Chưa tại kì vị đã mưu kì chính.

Chao cái dân tộc văn hiến này, đã tạc nên người phụ nữ ngóng chồng hoá đá, lại dựng nên bà Trưng cưỡi voi bà Triệu cưỡi cá kình. Thật lắm điều ghê gớm! Tôi cũng tự hào về phụ nữ anh hùng, phụ nữ thi nhân, phụ nữ tài hoa của sách vở ngàn xưa để lại lắm, nhưng vẫn phải thật lòng nhắc nhỏ phe mình hãy cứ mê mê muội muội nhưng cũng khắc khắc mà tỉnh cái nhìn!

Lời ngay khó nuốt. Khéo tối nay gặp cơn ác mộng thấy bà Lê Chân dẫn một đoàn nữ binh về chỉ thẳng roi ngựa vào mặt mình mà mắng: Thằng này láo, quân đâu…

Tháng 10 ngày nghỉ.

Nguyễn Tấn Ái.

Mảnh Tình San Sẻ

(Kính gửi nữ sĩ Hồ Xuân Hương)

Tiểu Dẫn:

Nhân vật: Xuân Hương, Nguyễn Du

Địa điểm : Quán nước nơi HXH nuôi mẹ

Câu chuyện: Quan Cần chánh đi sứ, ghé lại quán nước, đối thoại cùng chủ quán, người lạ, giọng quen, là những thi tứ của ND và XH. Trong thân danh quan đại thần,  người tình cũ ấy người đã quên, hay đành lòng quên? Ai lớn hơn ai vậy? ND nén cái tình giữ cái cốt, XH lăng tằng ngạo cốt thật với chữ tình.

Mục đích: dựng lại giai thoại ND- XH

Tư liệu: Bài thơ XH gửi quan Cần chánh.

Tài liệu bổ sung: thơ HXH, truyện Kiều.

Làng Thọ Xương

1813.

Quán ven đường, hàng quán chỉ bát nước chè xanh và đĩa lạc rang . Đơn sơ mà không nhếch nhác. Chủ quán ngoài bốn mươi, nghe đã một đời chồng, mặt troái xoan hãy còn xuân chán. Trông mới nồng nàn như múi mít chín nục.

Hỏi chuyện chồng con, nàng cười:

-Đứt đuôi con nòng nọc.

Hỏi liệu còn dấn thân bước nữa, nàng quở:

-Thân này đâu đã chịu già tom!

Khách hàng đủ loại hào lí, khoá sinh, sồn sồn ngũ thập đến cả trai tơ mặt trắng, vừa khát nước vừa khát tình, dù chủ quán ra dáng lẳng mà chơi ác chẳng hứa gì chuyện bán phấn buôn hương.

Một ngày có bậc tu mi ra dáng vào quán nước ngồi tần ngần tư lự.Khách có lẽ cũng là người xứ Bắc, điệu đi dáng đứng khoan thai, buồn tự chủ chứ không ra dáng hách hách nghênh nghênh như số đông người miền Trung được mùa được thế thời này.

Khách đòi đĩa lạc bát chè. Một lát bàn đã bày biện xong, vượt quá yêu cầu khách, thêm một đĩa bột lọc. Hình như chỉ vừa mới nặn từ sáng, nóng hôi hổi, hình như chỉ dành đãi khách phương xa. Ơ hay?

Chủ quán cười đưa lời:

-Thân em thì trắng phận em tròn. Quan bác cứ lót lòng cho ấm đường xa  cho vơi ngày cũ vậy.

Băn khoăn, khách hỏi:

-Cô chủ biết tôi người phương xa? Biết cả tôi từng là người cũ của kinh thành ?

-Dễ nhìn ra thôi, dáng bác đăm chiêu tư lự như tuồng đang có việc hệ trọng từ kinh, mà cứ nấn ná chốn quê mùa này thế không vì ngày cũ thì còn là gì nữa!

Giật mình, thật khen cho con mắt tinh đời.

– Cô chủ nhạy cái nhìn đến thế, hẳn cũng nòi thi thư xứ Bắc?

-Thưa không dám, phụ nữ quê mùa vốn có làm thơ, chỉ có điều cộc kệch, còn đang chờ bậc tú tài nào nhiều chữ chữa giúp cho đôi vần liệu có ra màu thanh quí!

– Cô chủ cứ thử xem, tuồng đâu xưa tôi cũng phường khoá sinh, mắc cạn ở bến Tam Trường.

– Em đọc quan bác đừng cười nhà quê nhé. Này bác cứ nhìn đĩa bột lọc xem, là thơ em đấy:

Thân em thời trắng phận em tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

– Hay! Chỉ tiếc còn sống sít. Nên chữa lạiRõ ràng trong ngọc trắng ngà, rành rành sẵn đúc một toà thiên nhiên”

–  Ôi , bác thanh quá, mà thực hơn cả điều em muốn nói. Hẳn bác cũng là người rành thơ phú?

– Văn chương nào ích gì cho tớ. Bận ấy đến rày tôi nghỉ việc làm thơ ,cũng đã mười lăm năm.

– Dám liều ý gửi cùng quan bác vậy, bác đến chốn Thọ Xương nghèo khó này hẳn không là vô ý?

– Ở đây tai vách mạch rừng

Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn ai.

Thiếu phụ chừng chột dạ, nét rạng ngầm chừng sắp sửa nơi gương mặt chợt thu liễm, tối om om, tùm hum như cái hang cắc cớ.

Người khách chừng như chỉ muốn nghỉ hơi, chỉ tìm cái im lìm, chiêu thêm ngụm chè xanh, chép miệng, thở dài. Chủ quán lại chừng chưa thôi chuyện:

– Trộm phép quan bác, chữ nhiều thì được làm quan, ấm cái thân độc, chẳng giúp gì nhiều cho tứ khố vô thân. Nay bác ghé chơi, rộng rãi chỉ thêm vài nét sổ vậy, bác xem tướng em liệu sau này có bạc phước mà dính vào chốn nhân tình nhân ngãi cũ?

Khách nhìn kĩ lại chủ quán. Tuồng như lạ, tuồng như quen. Nho y lí số vốn nghề sách vở, đâu chỉ chuyện bừa bãi. Mà thực, cô chủ có cái nét sắc của gái nhà hoang, lại thêm nốt ruồi nơi đỉnh cô phong, vận số long đong, cầm phu hại tướng.

– Hình như hơn một lần đò, bến giàu sang, vận khí ngắn? Sẽ còn thêm lần vận hạn, rồi bến suông. Muốn đến được chốn thanh nhàn e chờ kiếp khác. Ngày cũ giờ mai một, chẳng còn mấy chỉ mặn mà!

Chủ quán trầm ngâm, ngẫm trời cao quả có sổ có sách. Hoá ra cái hạn hồi gặp ông Tổng ba năm qua cũng tại cái mũi sống cao mà lại điểm nốt ruồi trên chóp . Thật cái vận trời xanh quen thói mà hồng đánh ghen. Ông Tổng giàu, ông Tổng cũng lại có tâm, hiềm nỗi tham sắc dục, nhiều thê thiếp, đến phận mình cũng nếm cái vị làm lẽ một tháng đôi lần có cũng không. Mà của đáng tội, ông ấy cũng biết người biết của, cứ là hùng hục quỳ hai gối chống hai tay như cái kiểu hàng Tổng hay tận thu kì giáp hạt. Tự dưng dòng nước mắt không ai xui sử mà cứ lặng lẽ lăn dài. Không khiến không xui mà nàng cứ tự mình tự bạch:

Thân em như quả mít trên cây

Da nó xù xì múi nó dày

Quân tử có thương thì đóng cọc

Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

Chợt khách nhăn mặt:

– Trà xanh mà khí vị chưa thanh, màu nước còn sánh quá, thái quá bất cập. Thơ cô chủ nồng nàn lắm. Mà một lời là một vận vào khó nghe. Nghĩ nên gọt lại đôi nét:

–         Tiếc thay một đoá trà mi

Con ong đã tỏ đường đi lối về.

– Hay! Mà đúng quan bác có tài khuyên điểm, hẳn cũng đã từng cầm bút chủ khảo trường Hương trường Hội đôi lần chứ chẳng chơi. Giá được quan bác đọc cho đôi vần nữa thì phúc cho gái quê này quá!

– Chẳng dám, cô chủ lại quá lời, tôi đã thuật rồi, mắc cạn ở bến Tam Trường, tài nông ý cạn, chỉ được cái quen sửa mũ mấn thôi.

Khách tần ngần, đứng lên, lại đi ra bờ hồ, dáng như chờ đợi. Lại quay vào. Chợt một lính lệ từ đâu xa đi lại, dáng khúm núm:

-Thưa quan Cần Chánh, kiệu dừng đã quá hai canh giờ rồi ạ, ta đi kẻo quá giờ thông quan, quan giữ cửa lại không cho vào thành thì rầy rà ra việc.

Té ra là quan Cần Chánh điện học sĩ ngang làng, mới đây cả thành xôn xao về việc triều đình đang cử một đoàn sứ bộ đi sứ nhà Thanh.

Cần chánh điện học sĩ quay lại phía cô chủ quán:

– Làm phiền cô chủ, tôi vốn có ý đợi một người, tiếc là không gặp. Có đôi vần thơ gửi người cũ, mai này có thấy cô gái nào hái sen bên hồ, nhờ cô chuyển giúp cho, may ra gặp đúng người cũ thì âu cũng là phúc nhà.

Rồi cẩn thận lấy trong ống tay áo một phong lụa mỏng, thoáng nhìn qua cũng đã ngây ngất với nét chữ hào hoa nho nhã, trao tận tay cô chủ quán.

Khách đi rồi. Chủ quán còn ngẩn ngơ. Trong vuông lụa óng là một bài thơ , ý tình thấm thía:

Yêu sen toàn yêu hoa

Yêu cuống có ai mà

Trong cuống có tơ thật

Vương vấn dứt không ra.

Cô chủ lẩm bẩm: Đúng là nhà nho, tham si thầm kín. Nén cái tình giữ cái cốt, cũng là đại hoạ diệt thân, sao chẳng dại một lần đủ chung đủ thuỷ. Mà ờ, ngạ sử nữ bất tục, thất tiết bất thông. Đành mị cái thân mình vậy.

Như chưa dứt tình nghiên bút, chủ cũng viết vội đôi vần, đối không thành đối, hoạ không thành hoạ:

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập

Phấn son riêng tủi phận long đong.

Biết còn mảy chút sương siu mấy

Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

***

Hai trăm năm sau có người danh sĩ tình cờ lục trong thư tịch cũ, sở đắc hai bài thơ kể trên, báo chí lại một phen hoang tàn giấy mực chỉ vì bài thơ cô chủ hữu ý rơi ra dòng địa chỉ: Cảm cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu.

Thực ra cái nghi án văn chương chỉ là kết quả của mấy phen hoang tưởng. Sự thực chỉ là cuộc đùa thơ của cô hàng nước xứ Bắc vốn sính thơ với một nho sinh thất tình thất ý tình cờ . Thế thôi!

.

Nguyễn Tấn Ái

Nguyễn Du cung kiếm

Năm 1965, đại thi hào Nguyễn Du được công nhận là danh nhân văn hoá thế giới.

Và sự nghiệp thi nhân vĩ đại lại được con cháu cung kính chiêm nghiệm, dù nông cạn đúng sai nhiều nẻo, nhưng đáng quí là ở cái lòng cung cung kính kính với tiền nhân .Và cụ Nguyễn suối vàng biết có ngậm cười?

Cuộc đời vĩ nhân ấy quả thật vĩ nhân ngay ở cái nẻo lạ thường quá đỗi: Dòng dõi đại quí tộc mà cuộc mưu sinh lại lắm nhọc nhằn, cựu thần nhà Lê mà ngậm ngùi làm quan triều Nguyễn như một điều thất tiết, cùng nguồn gốc quê hương, cùng cái chí giúp đời mà nhìn người anh em Nguyễn Huệ như kẻ cựu thù…Mà có lẽ một cái lạ nữa là nghiệp thi thư mà lại thạo nghề cung kiếm.

Nhàn đàm vài điều về nghiệp kiếm cung mà Nguyễn Tiên Điền trót một thời mang vác.

Mười tám tuổi đỗ tam trường, hãy còn rất trẻ, không hiểu vì sao Tố Như lại bỏ ngang đường thi phú, lặn lội về Thái Nguyên tập ấm một chức võ biền nhỏ nhỏ. Đó có lẽ cũng là một câu hỏi lớn. Tôi ngẫm mãi mà cũng chỉ tự giải thích với mình: Con người thi thư ấy vốn đã mất niềm tin vào sách vở Thánh hiền rồi chăng?

Mà rồi không đường đường khoa bảng, tài năng Nguyễn Du vẫn được tín nhiệm ưu ái như một quan văn trên đường hoạn lộ, nên đôi khi người đời quên mất một Nguyễn Du từng khát khao làm tráng sĩ.

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

(Tạp thi-Thanh Hiên thi tập)

Bạc đầu tráng sĩ ngửa kêu trời

( Đào Duy Anh dịch)

Câu thơ thống thiết ấy được cảm khái mà thành trong những ngày tháng ông ẩn nhẫn làm người đi săn dưới chân núi Hồng lĩnh. Cái kiếm khí ngùn ngụt ngậm ngùi thật có sức ám ảnh.

Lặn lội tìm đường theo vua Lê mà bị kẹt, bỏ trốn vào Nam theo chúa Nguyễn cũng không thành, không biết trong những lần bôn ba ấy cái chí cụ Nguyễn Du nghiêng về nghiệp văn hay nghiệp võ. Chỉ biết rằng đến năm ba mươi tuổi đầu, danh tài Nguyễn Du vẫn tự thán trong phong vận một tráng sĩ mà bỉ cái văn chương nhiều lắm:

Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên

Triển chuyển nê đồ tam thập niên

Văn tự hà tằng vi ngã dụng

Cơ hàn bất giác thụ nhân liên.

( Ngạo với non sông chống giáo dài

Bùn lầy lăn lóc tuổi ba mươi

Văn chương nào ích gì cho tớ

Cơm áo ngờ đâu phải luỵ người)

(Nguyễn Huệ Chi dịch)

Tự biết từ đời nhà Trần lắm văn thần cũng là võ tướng: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão… Song qua từng thế kỉ, cái văn võ toàn tài càng lúc càng hiếm dần. Văn võ tự phân là hai hàng tả hữu vốn uý kị nhau. Càng dời dần về sau thì cái người thi thư đeo theo nghề cung kiếm lại cứ như là sự ngạo.

Nên thật hứng chí mỗi lần nói chuyện Tản Đà kiếm khách từng là vệ sĩ cho Tán Thuật, Quang Dũng ngày kháng chiến sau những trận thơ rượu tơi bời lại hứng chí thử mấy đường gươm gia truyền loang loáng bàng bạc dưới trăng.

Và lại lần dò trao đổi đôi điều về một Nguyễn Du nổi tiếng thi hào, liệu có phải cũng có lúc nuôi chí anh hào không nhỉ?

Biết đâu, không phải cơ trời run rủi, ta đã lại có một trang kiếm khách. Tiếc thay!?

.

Quế Sơn 2010

Nguyễn Tấn Ái

Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động

Ta bắt đầu trao đổi về phẩm chất con người.

Phẩm chất cao nhất của con người trong tự nhiên là trí tuệ.

Mà phẩm chất người cao nhất trong xã hội con người là đức hạnh.

Cũng như những giá trị phát kiến là thước đo phẩm chất trí tuệ con người trong mối quan hệ với tự nhiên, đức hạnh – phẩm chất cao quí nhất của con người trong xã hội- cũng cần có thước đo của nó.

Và Xi xê rông ( Cicero)  phát biểu: Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động.

Đức hạnh là gì? Là đạo đức, trí tuệ, tâm hồn?

Đúng, nhưng chưa đủ: Là trí tuệ, tâm hồn, đạo đức khi hướng đến cái thiện.

Đức hạnh là cao quí, nên ai ai cũng ao ước đội cho mình vương miện cao quí đó, nhưng không phải vương miện nào cũng thật.

Và sự thật là ở trong hành động.

Đức hạnh là cội nguồn sinh ra những hành động đẹp.

Nêu cao giá trị của đức hạnh

Phải từ tình yêu thì mới đem đến kết quả là sự hi sinh.

Tình yêu thương càng sâu thẳm thì kết quả của yêu thương càng sâu thẳm, động lòng người, xé lòng trời.

Là Chúa Jê-sus treo mình trên cây thánh giá.

Là đức Thích ca rời bỏ phù du để tìm bản lai diện mục của sự giải thoát kiếp người.

Là Huy Gô ( Hugo)  với yêu thương và hành động.

Và hành động là thực chứng cho sự hiện hữu của đức hạnh.

Cơ chế điều khiển của hành động là lí trí, và cơ chế điều khiển của hành động đạo đức là đức hạnh.

Lá lành đùm lá rách là từ tâm.

Bầu ơi thương lấy bí cùng là đạo lí cội nguồn.

Bát cơm, manh áo sẻ chia cho những mảnh đời cơ nhỡ là tâm hồn xót thương trăn trở với những cuộc đời chưa tròn trịa.

Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động.

Phát biểu ấy không chỉ là kết luận thẩm định về giá trị của đức hạnh, mà còn là phản biện với những đạo đức giả.


Con người với bản chất người vốn ham thích vương miện: Khát làm học giả, khát làm vĩ nhân, khát làm người hiền, và khát làm nhà đạo đức. Vì lẽ đó, không phải mọi vương miện đều là sự thật.

Hãy nhìn cây mà biết trái.

Bởi sẽ có những loại cây chỉ cho đời toàn hoa điếc!

Lời nói yêu thương phải đi liền với đức vị tha.

Sự ban cho phải đi đôi với tấm lòng không so đo toan tính.

Và đức hạnh không bao giờ phải bị đặt lên bàn cân nặng nhẹ hơn thua.

Tay phải sẽ không nói với tay trái rằng tôi hơn anh trong ngày hôm nay bởi tôi đã năm lần phát từ tâm bỏ vào hòm công quả.

Và phải thực tế trong hành động: Xây chín bức phù đồ và làm phước cho một người bạn chọn lối nào?

Hễ cây tốt thì sinh ra trái tốt.


Sẽ là tội lỗi nếu cứ soi mói và nghi ngờ đạo hạnh của một con người.

Nhưng sẽ là hời hợt nếu chỉ bị lí thuyết làm mù đi đôi mắt.

Và sự thẩm định lại các giá trị đạo hạnh cũng cần thiết như chính sự cần thiết của đức hạnh ở cuộc đời nên phát biểu của Xi-xê-rông đã từ thời cổ đại đến bây giờ vẫn tươi ròng giá trị:

Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động.

.

Nguyễn Tấn Ái

Trung Thu

Thùng thình thùng thình…

Tiếng trống nhắc ngày còn thơ mỗi dịp tháng tám mùa trăng lại rủ nhau đi chặt lá đùng đình về kết lông kết bờm ông lân ông địa

Tiếng trống gợi lại hình ảnh thằng tôi ngày thơ bé đầu trọc chân trần những trưa bỏ cơm trốn mẹ trốn ba hì hục cùng lũ bạn tập tành bước thấp bước cao.

Tiếng trống gợi nhắc tôi nhớ từng gương mặt làng xóm xưa:

Bà Thi khó tính bắt lân lạy mãi mới thưởng được hai hào.

Bà Cẩm nhà buôn rất giàu, thường ra đường bắt lân vào nhà làm hên cho năm bán buôn tấn tài tấn lộc.

Ông Một to con hiền như ông địa chơi khó treo đồng bạc giấy tuốt ở trên cao rồi cõng thằng lân trên vai để với.

Bà Ngọc già người trẻ nết suốt đêm cầm bó đuốc bệnh bằng cây sặc cùng lũ nhóc nhong nhong cuối ngõ cùng đường.

Tiếng trống nhắc tôi địa vị cao trọng mà lũ bạn ngày thơ giành cho tôi những phiên nhảy múa. Thằng tôi vụng chân vụng tay, không múa men nhảy nhót gì, nhưng mỗi phiên lân có thằng tôi lại thường được cha tôi bảo lãnh bằng một nồi cháo gà cho bạn bè húp sì húp soạt mỗi khuya tan hội.

Rồi  tôi thành người lớn, Trung thu chỉ về trong trang sách, chỉ là thỏa cái trí tưởng tượng, mà đời thì cứ mịt mịt mù mù. Thời thôi có ai mãi mãi là trẻ con đâu. Yên chí cái tháng tám trung thu vậy là qua hết rồi, là chẳng còn gì. Có chăng là công đoàn phát quà trẻ thơ, phát biểu rồi hò hát. Trẻ con giả hiệu.

Tội cái thằng con vàng con ngọc, năm ngoái nhịn quà nhịn nước, ngày rằm tháng tám tậu được một cái trống cơm về gõ lốc cốc om nhà. Đơn độc vì mẹ cha không hưởng ứng.

Tôi bản tính lo xa, tằn tiện, vốn sợ cái đói ngày nào không dưng hiển hiện nhận làm người quen, đến quên luôn cả nhu cầu trẻ thơ.

Tôi còn thua cha tôi một bữa cháo gà đãi con mình, lo lót cho lũ trẻ bởi vốn biết con trai mình vụng dại, cha ơi!

Thùng thình thùng thình…

Ngoài kia tiếng trống vẫn vô tư réo gọi.

Con trai, vui chưa? Ba cho con nghỉ học hai đêm lo tập làm lân làm địa.

Ba vận động mỗi nhà năm ngàn, chia làm năm xuất, mỗi xuất một ngàn cho con tha hồ hái quả.

Mẹ sẽ bán rẻ cho đội lân nào bánh ngọt, nào nước ngọt tha hồ hủ hỉ mùa trăng.

Ba đã học lại bài học ngày xưa ông nội dùng mà đãi cho ba đó.

Con trai, các con có quyền hưởng những niềm vui trẻ thơ. Ba mẹ dù tất bật đời thường cũng  hứa sẽ không giảm biên niềm vui của các con đâu nhé!

Ôi những mùa trung thu! Là của nhà ta từ đời cha đời ông mang lại. Không mãi miết đi tìm làm gì ông nào làm thơ, ông nào hái thuốc, ông nào chết giữa dòng xanh. Cái tri thức phiền hà ích gì cho con ích gì cho cha con nhỉ?

Thùng thình thùng thình…

Hai ngày nữa con sẽ gõ trống múa men, sẽ mồ hôi mồ côi nhễ nhại, mẹ ba sẽ nhìn nhau sung sướng, con mình vui rồi!

Mùa Trung thu 2010.

.

Nguyễn Tấn Ái

Một Vài Chiếc Lá

.

Không  biết mùa thu với mùa thơ vốn có duyên nợ gì với nhau không, chỉ biết rằng mùa lá rơi của đất trời đã vào trong thơ khá nhiều, và như thế mùa thơ tự bao đời cũng đồng thời là mùa lá rơi ngơ ngẩn.

Có lẽ chếc lá rụng có niên kỉ cao nhất  là chiếc lá  vô tình rơi rụng trong vườn cổ thi :

Ngô đồng nhất diệp lạc

Thiên hạ công tri thu

( Một chiếc lá ngô đồng rụng

Thiên hạ biết mùa thu đến)

Từng có ý kiến cho rằng đây là hai câu danh tác của nhà thơ yêu nước Lục Du đời Tống. Nếu đúng vậy thì chiếc lá mỏng manh ấy sau khi lìa  cành đã lưu luyến với đời trót tám trăm niên kỉ!

Nhà thơ Việt Nam đầu tiên ngẩn ngơ với chiếc lá thu phai  mà cổ nhân để lại ấy có lẽ là thi hào Nguyễn Du khi mượn tình Kim Trọng:

Thú quê thuần hức bén mùi

Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

Thật thà mà nhìn nhận thì câu thơ nhẹ như mây trắng kia dù cực hay thì cũng không thoát khỏi hồn cốt của tứ thơ cổ huyền thoại kể trên nên hậu thế có hào phóng khen ngợi tụng xưng thi tài cụ Tiên Điền thì có lẽ cũng nên chừng mực. Tôi thì cứ ngẫm thầm rằng cụ Nguyễn đã dịch, dù là dịch thần tình như tác!

Bẵng một thời gian khá lâu chưa có thi nhân nào đủ tài hô phong hoán vũ để thả giữa trời thơ lấy vài chiếc lá ,thế mới biết bóng dáng cụ Nguyễn Du là ghê gớm! Phải  đến khi đội mão miện Tam nguyên , Bảng nhãn Nguyễn Khuyến mới dám cậy vào học vị lẫy lừng mà thử lại thả rơi một chiếc lá, và cũng đúng tài đúng tình, nhìn chiếc lá cụ Nguyễn Tam nguyên, thiên hạ đều nhận ra mùa thu xứ Bắc:

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Cái thần tình của cụ Nguyễn Khuyến là tìm được và bạo tay dùng một động từ mạnh, “ vèo”, để diễn đạt rõ nét cả âm thanh, cả đường đi chao nghiêng của tờ lá trong một không gian tĩnh lặng tuyệt đối. Mà ngẫm cho cùng thì cũng chỉ có cụ Nguyễn mới dám bạo tay đến thế trong thơ, bởi cụ đã đem cả cái học vị Tam nguyên kia mà bảo chứng thì còn có nhà phê bình khó tính nào dám ngang nhiên đâm thọc khéo cụ lại khuyên cho mấy chữ “ đếch thấy hoa hương một tiếng khà”.

Theo số đông các nhà nghiên cứu thì cụ Nguyễn Tiên Điền viết Truyện Kiều sau khi cụ đi sứ Trung Hoa lần thứ nhất, nghĩa là đầu thế kỉ mười chín; còn cụ Nguyễn Yên Đỗ làm bài thơ Thu Điếu sau khi cụ đã về hưu, nghĩa là sau 1883. Nói rộng ra thì để đếm được hai chiếc lá, văn học phải trườn mình ngót kín từ đầu đến cuối một thế kỉ! Nghề chơi kể cũng công phu!

Người bái phục cụ Tam Nguyên thì không kể xiết, nhưng có lẽ công tuyên tụng đầu tiên lại thuộc về Tản Đà, kể cũng hay, thi bá phục thi vương. Nguyễn Công Hoan có lần hầu chuyện thi bá Tản Đà và có kể lại: Tản Đà rất phục chữ “vèo” thần tình của cụ Nguyễn Khuyến, và cũng tự hào mình đã địch nỗi chứ ấy của tiền nhân trong một câu thơ:

Vèo trông lá rụng đầy sân.

Hình như cũng lắm người phục Tản Đà trong lối “cảm thu tiễn thu” này thì phải. Song hình như chỉ phục suông, phục cái oai danh Tản Đà hơn là phục thơ, bởi chưa có cái lẽ nào ra hồn cho lời yêu kính! Người viết cũng lơ mơ thinh thích, mắt lé miệng ngọng chưa tìm ra chứng lí, chỉ lơ mơ ngẫm rằng cái hay con chữ là ở chỗ đôi mắt say của thi sĩ Tản Đà cứ loạn lên với sắc vàng rực của lá thu, đến khi định vị lại thì đã ô hay mùa thu đến rồi, thời gian đúng là khoảnh khắc, khoảnh khắc như cái hạt vút lên tận trời vậy. Mà vẫn chưa yên lòng, vẫn mong tìm được bậc thầy mà lĩnh giáo ý tứ.

Dường như thi sĩ Tản Đà là người đầu tiên cảm nhận phận người qua chiếc lá thời gian. Rồi sau ông, lá cứ rơi loạn. Có tình mà kém thần ,ít cái thần tình. Nên chỉ lọc ra vài chiếc biết rơi đúng nghĩa không theo cái kiểu rơi tự do.

Người có danh vọng trong làng thơ mới, Lưu Trọng Lư, cũng nhờ vài chiếc lá mà kịp ghi tên mình vào tập thơ thế kỉ Thi Nhân Việt Nam:

Em không nghe mùa thu

Lá thu rơi xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô.

Tôi thích tứ thơ ở chỗ tiếng xào xạc đầy tâm sự của một kiếp tàn ấy cố gào lên thành xào xạc mà lại cô đơn quá đỗi. Đúng là tiếng lòng của một thế hệ cô đơn.

Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa trong một đêm Côn Sơn cầu danh nhân không thành lại mơ màng gặp thi nhân mà thành:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

Kể cũng tinh tế lắm. Chỉ tiếc là cái tài hoa phát tiết kia lại cứ như là trộm thần trộm vía cụ Tam nguyên ở mùa Thu điếu!

Vẫn vơ đi nhặt lá, thời buổi mất mùa, hiếm hoi thi tứ quá, may đang thối chí ngã lòng lại nhặt thêm một chiếc lá rơi, không chỉ rơi, mà rụng hẳn hoi, tạo thành một ma sát như dấu gạch ngang hữu ý cho một ngừng nghỉ, đọc mới sướng làm sao:

Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa.

(Trương Nam Hương)

Câu thơ hay đến thế mà đứng một mình e cũng vô duyên, đúng là xẻo mũi người đẹp mà ngửi! Nên phải phục hồi nguyên trạng:

Em không đến trường mùa thu năm ấy nữa

Em cũng không đến trường cả mùa thu năm sau

Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa

Nghe mùa thu tiếc nuối chảy qua cầu.

Thơ hay, chỉ tiếc là câu thứ tư yểu điệu thục nữ quá, chưa ra dáng thất tình điên đảo, giá như chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa , riêng mình ta đốt thuốc hút bên cầu thì mới thật là khoái trá nam nhi!

Nhớ xưa trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã dụng cái mẹo vặt là dùng mật viết trên lá cây nhờ đàn kiến đói đục thành mấy chữ Lê Lợi vi quân Nguyễn Trãi vi thần mà lòng người qui về một mối làm nên lịch sử. Đúng là tầm cỡ danh nhân văn hóa. Thi nhân mửa mật mới viết nổi một đôi câu để đời, cụ Nguyễn Trãi chỉ cần sai lũ sinh vật cù lần mà cũng viết nổi vào sử sách! Riêng cái chuyện một vài chiếc lá cũng đủ thấm thía cái nghĩa lập thân tối hạ thị văn chương rồi!

Ngẫm vậy mà gác bút!

.

Nguyễn Tấn Ái.

Đôi Mắt Người Sơn Tây

.

Rượu say, rượu có cái nhiệt tình là bao giờ cũng xui con người ta hơi bốc đồng, tôi cũng bốc mà ngâm thơ. Bạn thơ là anh lính cụ Hồ. Đến câu tôi say nhất:

Sông Đáy châm nguồn qua Phủ Quốc

Chợt anh bạn chau mày:

–    Chú mày sai rồi, Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc chứ!

Tôi giật mình, rồi tưng tửng, tôi nhớ là tôi đâu có sai!

Chậm rãi, anh bạn giải thích:

–         Anh mày thuở lính từng ngang qua vùng Sơn Tây, có con sông Đáy nổi tiếng lúc về Đan Phượng dòng chậm lững lờ quanh Phủ Lý, vậy nên mới là chậm nguồn quanh Phủ Quốc.

Ngộ chuyện, rồi hiểu ra, mình lắm khi đọc cũng chỉ đọc để mà vui, mà còn cưỡi ngựa xem hoa lắm.

Nên tò mò, lại muốn trở lại lò dò với bài thơ từng đem đến cho thi sĩ trứ danh biệt hiệu nhà thơ của xứ Đoài mây trắng lắm.

Có lẽ cùng với Tây Tiến, Đôi Mắt Người Sơn Tây đã đem Quang Dũng đến gần bạn đọc, để rồi hôn ước như được kí kết giữa người yêu thơ và nhà thơ lúc nào không rõ. Mà rồi hơn cả Tây Tiến, chính Đôi mắt người Sơn Tây  cũng đã đem đến cho nhà thơ bao nhiêu phiền lụy. Cái thời buổi con người cần gồng mình lên, cần sống vượt lên mình để chân đạp Trường Sơn mà mắt hướng biển đông, vậy mà  thi thoảng lại nghe ngâm nga thầm vụng những điệu buồn chết tâm chết trí, hỏi cái tội lơ ngơ lạc lõng ấy ai mà dung chứa:

Từ độ thu về hoang bóng giặc

Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn

Đất đá ong khô nhiều suối lệ

Em có bao giờ lệ chứa chan?

–         Mẹ tôi em có gặp đâu không

Những xác già nua ngập cánh đồng

Tôi cũng nhớ thằng em bé nhỏ

Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông.

Nhưng có lẽ, theo tôi, chất sống của bài thơ lại chính là chỗ nhà thơ đã gần như chưng cất cả một vùng quê Sơn Tây để làm nên bàng bạc hồn quê trong câu chữ của mình. Sơn Tây vùng đất đá vôi núi tiếp núi đồi tiếp đồi bất tận , vậy nên thành “ tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”. Sơn Tây xưa đứng ở ngoại ô mà ngóng nội thành, còn núi còn đồi, còn chưa kịp hào hoa phố xá, còn đượm nét nhà quê:

Vầng trán em mang trời quê hương

Rồi tầng vỉa văn hóa nhà quê với tên đất, tên làng đồng Bương Cấn, núi Sài Sơn, rồi những nét tinh diệu đồng quê với sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng cứ ngân vang bất tận trong hồn những người xa quê.

Mà đã hết đâu, cái vùng đất này từng là nơi  lưu đày thi nhân được mệnh danh là thánh chữ Cao Bá Quát cũng là vùng đất nảy nòi ra cái bậc thi bá mà bóng dáng lừng lững xuyên qua cả hai thời đại thi ca Tản Đà.

Quang Dũng sinh năm 1921, tại Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây cũ. Năm 1945 anh vào bộ đội rồi đi tuốt vào công cuộc kháng chiến trường kì dài dằng dặc. Xa quê đúng ở cái tuổi giàu yêu thương nhất, lại trong thời buổi mà mọi giá trị , mọi sự hiện hữu dường như cũng chông chênh theo khói và lửa thế nên cái hình ảnh quê hương trong anh trở nên một hiện hữu vĩnh hằng. Vì thế chăng mà hình ảnh quê hương cứ thấp thoáng đi về da diết trong thơ Quang Dũng giai đoạn này. Mà nào có riêng gì thi nhân, ai mà không một thảng thốt mơ màng quê hương trong dằng dặc bước đời khi mà mọi chốn dừng chân đều trở nên chốc lát nên cộng hưởng mà Đôi Mắt Người Sơn Tây thầm vụng đem đến cho người đọc đã hiển nhiên như tất yếu, và cũng hiển nhiên như hệ lụy.

Không biết bài thơ đã được nâng niu đến bao nhiêu ngày, đã đầy tuổi tôi chưa, chỉ biết từ sau vụ Nhân văn giai phẩm, cùng với nhà thơ, bài thơ trở thành đối tượng có vấn đề và cấm lưu hành.

Nhưng nghĩ cũng lạc quan, nghệ thuật vốn có một sức sống kì diệu, và một nẻo sống kì diệu. Cùng trong thời gian ấy thì một nửa Việt Nam ở miền Nam Tây tiến với Đôi Mắt Người Sơn Tây lại được hân hoan đón nhận. Và cũng lạ kì, mỗi lần bài thơ được tái bản, bản in mới nhất không biết bằng cách nào lại cứ vượt suối băng ngàn, vượt mọi đường ranh chiến tuyến để len lén đén tận tay nhà thơ. Và, kinh cung chi điểu, quà tặng rất văn chương ấy đều được nhà thơ hóa kiếp tro tàn.! Dĩ nhiên trong tâm tưởng nhà thơ thì có những điều đốt mãi chẳng thành tro!

Và, những tam sao thất bổn theo cái kiểu câu thơ dị bản mà tôi vừa kể chuyện cũng được thai dựng từ tâm hồn những người miền nam yêu thơ Quang Dũng, nên những khi tập tạng nói chuyện thơ, những chàng sinh viên thời cũ lại khoái chí ngâm vang theo trí nhớ.

Và tôi đã đến được với Đôi Mắt Người Sơn Tây từ  đầu những năm tám mươi của thế kỉ trước cũng bằng con đường  bình dân như thế!

Những sai sót lỏi lặp vụng về này, suy cho cùng, không phải đấng thi nhân nào cũng có cái cơ duyên mà hạnh ngộ, nên mong sao mơ màng một nắm cỏ xanh thi nhân kính yêu của tôi cũng mơ màng mỉm cười độ lượng.

Nguyễn Tấn Ái .

.

Đôi Mắt Người Sơn Tây- nhạc Phạm Đình Chương – ca sĩ Duy Trác


Đôi Mắt Người Sơn Tây- nhạc Phạm Đình Chương – ca sĩ Đức Tuấn


n

Ngẫm Kiếp Nhân Sinh Cũng Ngậm Ngùi

Lời Bình Bài Thơ  Đứa Con Ngoài Giá Thú, Vương Trọng

Đứa Con Ngoài Giá Thú

Vương Trọng

Đợi về khuya cả phòng đi ngủ

Mẹ nhẹ nhàng ngồi dậy vuốt ve con

Mặc người đời gọi con ngoài giá thú

Con vẫn trong tình mẹ vuông tròn.

Mẹ làm mẹ mà chưa từng làm vợ

Vẫn xuất cơm tập thể quá khiêm nhường

Nửa làm máu nửa chia ra làm sữa

Hạnh phúc nào bằng san sẻ yêu thương.

***

Thôi nhắc chi những năm dài trống trải

Bao vầng trăng vô nghĩa rụng qua đầu

Tóc hoàng hôn thưa dần theo lược chải

Pháo cưới người hay đốt để trêu nhau!

***

Mẹ nhớ lại ngày con còn trứng nước

Người ấy đi như trốn chạy nợ nần

Thèm trái chua mẹ trùm chăn ăn lén

Sợ mắt người như sợ mũi kim châm.



Sinh con ra mẹ vẫn nằm giường một

Có khác chăng là kê lại góc phòng

Ngày nghỉ đẻ phải trừ vào ngày phép

Vuông vải màn làm tả giặt rồi hong.

***

Vài tháng tuổi con đã quen kẻng thức

Mẹ đi làm con lên địu đi theo

Mẹ đào hố trồng cây theo định mức

Lưng mẹ gầy con ngủ giấc cheo leo.

***

Ngày lưng mẹ đêm nằm trên giường mẹ

Mình mẹ lo khi trái gió trở trời

Ngoài giá thú sao ngoài lòng thương cảm

Để người đời ghét bỏ mẹ con tôi?

1998.



Lời bình:

Tôi tình cờ nhặt lại bài thơ ấy trong một quyển vở đã ố vàng, bần thần đọc đi đọc lại, cái cảm xúc buổi đầu tiếp xúc hơn mười năm qua vẫn còn nguyên trong kí ức :Thương cảm dào dạt, đớn đau dào dạt, phẫn hận cũng dào dạt.

Rồi lắng đi bao lớp lớp cảm xúc , cái tồn đọng là nỗi ngậm ngùi.

Vậy nên mới là Ngẫm kiếp nhân sinh cũng ngậm ngùi!

Xin khởi đầu tâm tư bằng một hành xử nhẹ dạ: Khép lại hồ sơ một chuyện tình!

Lại những ngang trái của yêu đương, có gì hay ho ở con tim phản trắc mà lưu giữ, đã hơn mười năm qua từ ngày bài thơ ra đời mà tác giả thơ cũng chỉ một câu kể mà không lời phán xét:

“ Người ấy đi như trốn chạy nợ nần”

Kể ra cái người nào ấy cũng tốt số, người kể chuyện thơ không bắt dấu, tôi đến lược mình cũng không truy cứu nữa.

Ngậm ngùi trước hết là cho một phận người con gái, đến cái yêu thương hạnh phúc cũng một mình thui thủi đậy đậy che che:

“ Sợ mắt người như sợ mũi kim châm”

Mà có lẽ cái câu ngậm ngùi nhất , ngậm ngùi đến một thập kỉ sau mới là đáng nói:

“ Vẫn suất cơm tập thể quá khiêm nhường

Nửa làm máu nửa chia ra làm sữa”

Ai đã qua cái thời ăn kẻng, thức kẻng , làm kẻng, nghỉ kẻng ,ngủ kẻng… nghĩa là sinh hoạt bằng phản xạ có điều kiện vào những năm bảy mươi, tám mươi mới thấm hết cái đau cạn kiệt của lời tự tình kia.

Ở vào cái thời mà dịch vụ quảng cáo nhan nhản những sữa mẹ bồng con mà ngoái lại mới thấm cái rùng mình.

Rồi biết bao nhiêu vén vén thu thu của người mẹ để chia sự sống mình mà cưu mang một sự sống tự chẻ mình nhân ra, nhà thơ đã thể hiện tự nhiên mà cảm động lắm rồi, người đọc tự khắc giao cảm thấm thía, nề hà chi mà kể lại.

Cái ngậm ngùi thứ hai là ngậm ngùi cho một thời.

Cái thời giá trị con người được đánh số, mã hóa bằng hệ thập phân rạch ròi tỉnh táo, lí trí đến quyết liệt khiến không còn cho xúc cảm hay nhân ái chen chân.

Cả câu chuyện ngậm ngùi dài kia chỉ có hai mẹ con còn cái xã hội nhân sinh thì vắng bóng. Xã hội nhân sinh chỉ thấp thoáng trong lời phán quyết : “Con ngoài giá thú”; trong soi mói: “ Mắt người như mũi kim châm”; trong tính toán: “ Ngày nghỉ đẻ phải trừ vào ngày phép”, trong giao khoáng: “ định mức”… Đâu rồi bao giáo huấn “ chị ngã em nâng”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”?

Thế mới khâm phục cái con người can đảm trụ vững giữa cô đơn, giữa lạnh lùng vô cảm vẫn vững vàng đứng dậy sau khi ngã.

Tôi tin rằng người con đã được nuôi bằng sữa của người mẹ như thế ấy sẽ luôn vững vàng thế tấn giữ cuộc đời cay nghiệt!

Và tôi thương, đâu phải con người ai cũng bản lĩnh như nhau, nên sau hình bóng một con người trụ vững ấy đã có biết bao cuộc đời gục ngã mà mất dấu giữa rừng thẳm vực sâu những mong xóa đi một kiếp đời!

Ngẫm kiếp nhân sinh cũng ngậm ngùi!

Có lẽ đó mới là trăn trở của thi nhân, nên kết cái câu chuyện thương tình này là lời mẹ góa con côi hòa cùng lời thi nhân thống thiết”

“Ngoài giá thú sao ngoài lòng thương cảm

Để người dời ghét bỏ mẹ con tôi?”

Có thể cái câu chuyện kia cũng chỉ là giả tưởng để nhà thơ gióng lên một cảnh báo về một thời cạn kiệt tình người, song tôi, cái tâm của mình lại chẳng thể chịu yên, biết đâu, biết đâu câu chuyện ấy lại là sự thật. Và cái đứa trẻ kia đã vào cái tuổi mười hai. Chao ôi, nó hãy còn bé lắm, mà đời, đã cách xa cái thời ấu trĩ dã man, đã biết phản tỉnh rồi, mà những ứng xử lạnh lùng kia thì bao giờ mới chuộc lại, mà liệu rồi có trở thành vết sẹo trong tầm hồn trẻ thơ kia?

Những muốn lập lại hồ sơ của những đứa trẻ đáng thương, gửi đến chúng những vỗ về an ủi!

Thời đại vốn có thói quen phủi sạch trách nhiệm của mình.

Con người cũng lắm kẻ vốn có thói quen phủi sạch trách nhiệm của mình.

Làm vậy có khác gì công nhiên công nhận tội lỗi là tất yếu lịch sử?

Và câu thơ, lời thơ có giá trị như một cảnh tỉnh, mượn chuyện kể đau lòng để nhắc con người, chủ nhân của thời đại, chớ quên những lỗi lầm, ấy cũng là tư cách!

Vậy nên hơn mười năm đọc lại bài thơ xưa, lòng lại ngậm ngùi.

Xin gửi nỗi ngậm ngùi sẻ chia cùng những tâm hồn mà tôi thương tôi quí!

.

Quế Sơn hè 2010.

.

Nguyễn Tấn Ái

Khơi Khơi Với Vài Con Số

Một lần chấm bài, đề tài có liên quan đến hai tác giả là Tú Xương và Hồ Xuân Hương, một học sinh đã đặt một nghi vấn  văn chương đến nổ đom đóm: Không biết đương thời Tú Xương đã gặp Hồ Xuân Hương chưa? Người chấm giật mình. Hóa ra các học trò chẳng cần quan tâm đến các năm sinh của các tác giả nên mới có những câu hỏi kiểu động trời như thế. Hồ Xuân Hương, chưa tường ngày sinh tháng đẻ, nhưng chắc chắn là người cùng thời với cụ Nguyễn Du (1765-1820), còn Trần Tế Xương thì 37 năm tuổi đời ấy lùi mãi vào tận cuối thế kỉ XIX (1870-1907), nghĩa là xét niên đại thì nữ sĩ Hồ xứng bậc cao tằng tổ của người tài tử họ Trần! Và như vậy, cho dù có lăng tằng ngạo cốt cỡ Trần Tế Xương cũng không dám lặn lội mà giao du cùng bậc tiên tổ của mình.

Có đôi lúc con người ta cũng khí vô tình.Mà vô tình với những con số lại khá là phổ biến. Vậy nên có lúc cũng rất thú vị khi hãn hữu gặp được những con số biết nói.

Một thầy giáo đã cẩn thận ghi nhớ rằng Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, đỗ đầu khoa thi Hương năm 1864, đỗ Hội nguyên và Đình nguyên năm 1871 và năm 1883 thì về hưu trí.Nghĩa là một đời khoa bàng hiển hách ông chỉ làm quan trên dưới 10 năm, niềm tự hào về khí tiết này lấp lánh trong câu thơ:

Đề vào mấy chữ trong bia

Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu.

Hiểu được xuất xử ấy của cụ Nguyễn, ta cũng hiểu thêm nỗi đau kín đáo trong lời trách bạn như “cái gai hoa hồng” khi cụ khóc Dương Khuê:

Bác già tôi cũng già rồi

Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là.

Dương Khuê ,ông tiến sĩ làng Vân Đình, bạn cụ Nguyễn, mất năm 1902, cụ Nguyễn thương bạn mà trách bạn mãi mê hoạn lộ đến hại cái cốt cách trong sạch của một nhà nho, lời trách cứ chân tình của một bậc chân nho.

Cụ Nguyễn Tuân khi khảo cứu Tú Xương cũng đã tâm đắc với những ngày, tháng năm của cả cuộc đời thi cử ấy: “ Tính mà xem về cả đời Tú Xương 37 tuổi (1870-1907) thì Tú Xương đi thi liền một hơi suốt 22 năm, không khóa nào không lận đận trường ốc. Mới 15 tuổi đã đeo lên người cái ống quyển, và không ngoa ngoắc tí nào khi chúng ta nói rằng cái người Tú Xương ấy lều chõng từ khi còn để chỏm”. Và kết luận: “ Tức là Tú Xương thi chết thôi, thi cho đến chết mới thôi”.

Những con số trong mắt nhìn của Nguyễn Tuân mới thật là những thông số kĩ thuật, nó nói nhiều về cái con người chiếm giữ nó.Đôi khi như là lời mách nước cho một nẻo cảm nhận. Thử đọc vài con số:

Năm 1939, năm ta tiễn đưa hai tài năng lớn, năm tổn thất của văn học Việt Nam hiện đại, một của thơ – Tản Đà (1889-1939), một của văn – Vũ Trọng Phụng ( 1912-1939)

Đã có nhiều bài viết về hai tác giả lớn ấy. Riêng với Vũ Trọng Phụng người đọc gặp một trang viết lạ lẫm của một phong cách lạ lẫm: Nguyễn Tuân với bài “ một đêm họp đưa ma Phụng”. Một giọng diệu đau đến ngang tàng, phá phách. Nguyễn đã viết về Vũ bằng giọng điệu của một người bạn, một người anh. Xuân Diệu, Huy Cận không được viết với giọng ấy, bởi tưởng tiếc một bậc đàn anh trong văn giới mà có cái giọng phá phách ấy là khí vô phép. Cần lưu ý rằng Nguyễn Tuân ( sinh năm 1910 ) lớn hơn Vũ Trọng Phụng hai tuổi, còn những Xuân Diệu (sinh 1916), Huy Cận (sinh 1919) thì còn cách xa ở vài năm đời người. ( Tiện cũng nhận xét thêm rằng làng văn bây giờ ít hiểu ra điều ấy nên cứ ngang ngược một cách lệch qui cách.)

Ngược lại, Chế Lan Viên (sinh 1920) muộn hơn Hàn Mặc Tử (1912) những tám năm  mà tri kỉ đấy. Ta đã từng biết Lí Bạch giao du rộng, là bạn vong niên của những người cách mình gần giáp ( nhỏ hơn Mạnh Hạo Nhiên 11 tuổi, lớn hơn Đỗ Phủ cũng 11 tuổi), đó là sự gặp gỡ của những tài năng. Cũng thêm một chút thi vị khi nghĩ như vậy về tình tri kỉ của Chế Lan Viên – Hàn Mặc Tử.

Nguyễn Đinh Thi( 1924- 2003) nổi tiếng là tài năng đa dạng: Âm nhạc, thi ca, tiểu thuyết, kịch nói… Giới văn nghệ sĩ kháo: Nhìn trước thấy ông Thi, nhìn sau thấy ông Thi, quay phải thấy ông Thi, quay trái thấy ông Thi. Song rốt lại, điểm nhấn làm nên vị trí Nguyễn Đình Thi lại là bốn câu thơ trong bài Đất nước:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng,lá rơi đầy.

Bốn câu thơ đắc ở chỗ đã bắt rất đúng cái cảnh thu, tình thu của ngày ra đi kháng chiến.Song cái tài lại không nằm ở đó. Cần nhớ rằng Nguyễn Đình Thi là người sinh sau đẻ muộn với thi đề mùa thu, cả với nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen vì ông kém xa tuổi đời của những Lưu Tọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận… Nghĩa bóng vì trước khi ông viết bài Đất Nước thì đề tài mùa thu  gần như đã được khai thác cạn kiệt với phong trào thơ mới. Các thi sĩ lãng mạn đã đong đầy mùa thu bằng một cái tôi đầy ám ảnh. Và bằng tài tình ấy, họ đã gần như độc chiếm mùa thu mà ảnh hưởng đến lớp đàn em tưởng có thể lượng hóa được. Vậy mà với mùa thu Hà Nội, Nguyễn Đình Thi đã thoát khỏi sự câu thúc của các bậc đàn anh để đem lại một ảnh thu đầy ám ảnh, như một kiểu làm dấu, kiểu buộc chỉ cổ tay cho thơ của mình.

Đó mới là bản lĩnh Nguyễn Đinh Thi.

Tưởng cũng có thể cảm nhận như vậy về Xuân Quỳnh với bài thơ Sóng. Xuân Quỳnh sinh năm 1942, và năm chị 25 tuổi đời đã viết nổi bài Sóng, một nội lực thơ thâm hậu. Mà trước chị đã có những bậc thi bá ngự trị trong làng thơ tình: Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, hoàng tử đất Kinh Bắc Hoàng Cầm. Sau Xuân Quỳnh làng thơ Việt Nam cũng xôm trò lắm với tình yêu, nhưng chưa thấy ai trụ bộ nổi ở thi đề này. Càng kính nể người phụ nữ mảnh mai Xuân Quỳnh!

Cũng là chút lòng cung kính với các tài năng nên tôi lẩm nhẩm đếm vài con số, và tự bao giờ lòng lại vương vấn với những cột mốc thời gian, đôi khi lại tẩm ngẩm tầm ngầm làm cái trò con trẻ vui vui, sắp xếp lại trật tự thời gian của những ngày sinh tháng đẻ đáng nhớ, may mà duyên văn hạnh ngộ lại còn biết đàng chào bác chào chú chào anh…cho phải đạo:

1910: Nguyễn Tuân, Thạch Lam

1912: Vũ Trọng Phụng

1915: Nam Cao

1916: Xuân Diệu

1917: Thâm Tâm

1918: Nguyễn Bính

1919: Huy Cận

1920: Kim Lân

1921:Quang Dũng

1922: Hoàng Cầm.

1924: Nguyễn Đình Thi

Chút trò chơi vui vui ấy đã có lần cứu tôi thoát hiểm. Lần ấy, một học trò hỏi tôi:

-Thưa thầy, thầy phục Nam Cao, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Quang Dũng…Mà ai cũng là bậc tài hoa, vậy cuối cùng thầy xếp ai nhất?

Một câu hỏi không dễ trả lời.

Tôi đành đùa với khoa học vậy. Rằng:

-Tôi không đủ tầm vóc để cho phép mình xếp hạng các bậc văn nhân thi sĩ. Song các bậc tài năng ấy tất hiểu “kính lão đắc thọ”, đành xếp theo tuổi dời: Nguyễn Tuân (1910)- Vũ Trọng Phụng (1912)-Nam Cao (1915)- Chế Lan Viên (1920)- Quang Dũng(1921)

Chắc người học trò ấy cũng không đến nỗi trách tôi là vô tình.

.

Nguyễn Tấn Ái

Ngày Của Văn Chương

Thầy giáo trẻ bước xuống bến xe. Chuyến xe đò duy nhất trong ngày từ bến liên tỉnh Đà Nẵng về huyện  khi đã hoàn thành một cách thản nhiên nhiệm vụ dày vò cho ra bả những hành khách bất đắc dĩ của nó trước khi nhả họ xuống một bãi vừa đất vừa cát vừa rác gọi là bến xe Đông Phú. Thầy ngước nhìn bầu trời vần vũ của ngày đông, cố lắp ghép những mảnh quan sát thực tại với tưởng tượng của thầy về miền quê hẻo lánh này.

Ngôi trường nằm lọt giữa thung lũng Quế Sơn vốn quen phẳng lặng bỗng xôn xao hẳn lên với sự xuất hiện của thầy giáo mới, lại từ kinh đô Huế về đây.

Tiết học đầu là tiết tập làm văn, khó xơi, cái môn học bao giờ cũng khô khan và công thức, không biết thầy đã phù phép như thế nào mà bốn mươi lăm phút hết nhẵn trong sự ngơ ngác tiếc nuối của lũ học trò quê. Thầy đã ra khỏi lớp, chợt một thằng hét tướng lên:

–         Tuyệt chiêu, sư phụ!

Thằng Thịnh, một vĩ nhân của lớp A.

Sau câu phá mồi của thằng Thịnh cây văn là bắt đầu những tiếng lao xao:

–         Hay thiệt!

–         Thầy sang quá há!

–         Mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ!

Thằng Tuấn cụ gật gù:

–         Khó đây, vụ này khó đây. E rồi mai mốt  viết văn làm răng cũng trật!

Thời gian đã chứng minh kết luận của Tuấn cụ là đúng nhất.

Với ngôi trường, và với lớp A, thầy luôn là hiện tượng với những giờ văn.

Kiểu ra đề của thầy bao giờ cũng độc đáo:

“ Ngủ thì không phải là thức giả”

“Bao giờ cũng là trễ rôi, bao giờ cũng là chưa trễ”

“ Sống hay vẫn sống?”

Khoái tỉ nhất là sau những đề văn hóc búa đó thường không có xuất xứ, có đứa liều lĩnh tò mò về tác giả, thầy gật gù: Trương Văn Quang!

Những lời phê của thầy lại càng hấp dẫn. Đám học trò bao giờ cũng kẻ ô lời phê  một cách nghiêm cẩn và rộng rãi có khi chỉ để nhận về  vỏn vẹn một dòng:

“ Bài có vài chữ hay, có vài chữ rác”

“ Viết như một người khổng lồ”

“ Đã biết thế nào là văn chương”

“ Văn trường ngoại hạn Quang không chấm”

Ngược lại với lời phê bao giờ cũng được cắt gọn đến tối đa  là bài luận văn bao giờ cũng được gạch chân kín mít đến từng dòng và chi chít những lời phê, có khi còn có cả một đoạn văn mẫu.

Thầy rất biết cách dạy dỗ theo cái nghĩa dồn học trò đến tận chân tường để rồi mỗi đứa với tiềm năng mà bật lên thành phản xạ tự vệ, thầy gọi đó là tìm lửa. Thầy thường tìm lửa ở những phán quyết đột ngột, lạ lẫm và… hoàn toàn mâu thuẫn:

“ Văn chương chỉ có một đáp số”

“ Văn chương làm gì có đáp số”

“Văn học chính xác đến từng mi li gam”

“ Văn học đâu để cân đo đong đếm”

Lũ học trò cứ tha hồ mà ngẩn tò te, mà đăm chiêu tư lự cố tìm ra đáp số đằng sau những phát ngôn, đuổi theo lời thầy hứa hẹn: Móc túi thầy đi, trong túi thầy có chứa cả điểm mười.

Cứ thế thầy trò đuổi bắt nhau suốt ba năm, hồn nhiên, sôi nổi, đam mê.

Và một kết quả để đời: Cái lớp học bé tẹo quê mùa năm ấy đã làm nên kì tích: Nhất văn đồng đội tỉnh. Nhất cá nhân. Thằng Thịnh vĩ nhân tự hào “ nhất tỉnh nhì trường”, còn người nhất trường là thầy nó thì bị điều ra tuốt ngoài Đà Nẵng để bồi bổ thêm cho bọn trường chuyên .

Song ngoạn mục nhất vẫn là kết quả thi tốt nghiệp. Cũng cái lớp bé tẹo này mà chứa nổi cô thủ khoa của tỉnh: Trần Nguyễn Thu Thảo. Quà cho thầy giáo dạy văn cũng đáng kinh ngac. Điểm thi môn văn:

Thịnh mười

Thảo mười

Bản mười

Sơn chín

Điểm chín.

Và vài ba con tám. Có con tám giờ tập tểnh học viết văn, tập tễnh học yêu đời, học ngạo đời, học cung kính và khinh mạn. Mà con điểm mười trong túi thầy vĩnh viễn nó không nhặt được.

Trong  đám học trò ngốc nghếch của lớp A có đứa đã theo thầy học văn, học làm  thầy văn mà theo nó là sang trọng nhất.

Ngày nó về lại miền quê làm vĩ nhân tỉnh lẻ thì thầy đã đi xa. Gặp lại, nó thấy thầy đã cao lớn hơn xưa nhiều lắm. Xung quanh thầy đã bao nhiêu huyền thoại. Thầy vẫn thế, trân trọng một cách phớt lờ những ngưỡng mộ của đồng nghiệp. Vẫn đi về một mình một bóng. Vẫn niềm vui được làm người cô độc. Thi thoảng nó phát hiện ra thầy uống trà một mình, gảy đàn một mình, đánh cờ một mình, chơi văn cũng một mình.

Nó vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của thầy nó. Vẫn loay hoay đi tìm cái ẩn số là thầy.

Nó có lúc như hiểu thêm đôi điều về thầy: Thầy sống nắn nót đến từng phút giây đời sống, cẩn trọng như sợ một chút dang dỡ lỡ tay sẽ giây bẩn lên những trang đời; Thầy viết nắn nót và cẩn trọng, như thể mỗi con chữ là một sinh linh chỉ một lần sinh hạ. Nhìn lại những dòng những câu đầy ngẫu hứng mà nó dễ dãi bung ra đây đó, nhìn lại cái đời nhiều khi xô bồ dễ dãi của mình, nó thoáng thẹn.

Còn một bài học mà cái lớp A ngày xưa chưa kịp thọ giáo, hay chưa  đủ cái công lực để được thầy chỉ giáo. Thầy ơi?

Quế Sơn mùa hạ

NGUYỄN TẤN  ÁI

Kể chuyện Lộc Đỉnh Kí- hồi cuối.

Hồi IV

TRAI NĂM THÊ BẢY THIẾP  –  GÁI CHÍNH CHUYÊN MỘT CHỒNG

Ngẫu hứng thế nào khi tưởng tượng cảnh Vi Tiểu Bảo đuề huề bầu đàn thê tử, tôi lại nhớ đến câu tục ngữ này, dù biết ông tốt số họ Vi kia với dân tộc đồng bào này xem ra chẳng bà con hàng họ!

Gái chính chuyên một chồng!

Những bà vợ của Vi Tiểu Bảo khéo hay  lại là những nhi nữ đủ đầy tài năng phẩm hạnh. Mà  cái hạnh tuyệt khéo đến là hiếm hoi ở thời nay lại là đức chính chuyên.

Tiêu biểu cho cái đức này là  Phương Di.

Phương Di người của Mộc vương phủ, trong một lần tấn công vào cung điện nhà Thanh chẳng may thọ trọng thương, rồi lại may mắn lọt vào tay Vi Tiểu Bảo. Bị họ Vi bức ép ra giá chịu nhận làm bà vợ ruột thì mới ra tay cứu giúp. Phương Di cự tuyệt, nhưng lại bị quận chúa Mộc Kiếm Bình năn nỉ mãi, cuối cùng đành gọi Vi Tiểu Bảo mấy tiếng hảo công công! Chuyện ngỡ như đùa, ngay cả Vi Tiểu Bảo dù mặt dày cũng không coi là thật, vậy mà từ đó Phương Di lại đinh ninh xem mình là người của Vi gia rồi! Sau này nàng thành vợ của Vi tước gia thật.

Những bà vợ khác, mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai, song bảy đóa đệ nhất danh hoa lần lược rồi cũng về nhà họ Vi hết.

Đường tình của Vi Tiểu Bảo cực tốt.

Trai năm thê bảy thiếp!

Vi Tiểu Bảo mồm mép trơn tuột, lại hạ lưu vô sỉ, cái đức vô sỉ của y hiển hiện rõ nhất khi mà y phát hiện ra người đẹp.

Lần đầu y tiếp xúc với nữ nhi có lẽ là tiểu quận chúa Mộc Kiếm Bình.

Tiểu quận chúa sinh ra khi nhà Minh đã mất, tuy thế lòng tôn sùng của thuộc hạ với vương gia Mộc Anh, đại công thần khai quốc của nhà Minh, vẫn còn sâu đậm. Vì vậy mà quận chúa sống trong sự tôn kính và bảo bọc của các nô bộc trung thành, lòng không bợn bụi trần. Rủi bị Vi Tiểu Bảo lừa phải chấp thuận làm bà vợ bé, lại thọ ơn cứu mạng của vị công công kì quặc này nên đem lòng trung trinh bất nhị trao gửi, về sau làm vợ  y. Gã con không cha vậy là kể như ăn hiếp được nhà Mộc vương phủ!

Người mà Vi Tiểu Bảo si mê nhất trong số các bà vợ ruột có lẽ là  Trần A Kha, đệ tử Cửu Nạn, con gái Trần Viên Viên và Lí Tự Thành., cũng tại cái cửa ngõ đầy tai ách này, Vi Tiểu Bảo chịu trăm ngàn khổ nhục, mà cũng thể hiện được tấm chân tình của y. Y một lòng một dạ nhận A Kha làm vợ ruột, lừa sư phụ Trừng Quan bắt nhốt A Kha trong chùa, dập đầu lạy Cửu Nạn là sư phụ để kề cận A Kha. Đổi lại y được đền đáp những gì? Bị A Kha đuổi đánh, dọa chém đầu, lại bị A Kha một lòng một dạ theo Trịnh Khắc Sảng làm y bẻ mặt, thậm chí còn bắt y đi giải cứu Trịnh công tử, Vi Tiểu Bảo đành ngậm ngải mà làm vừa lòng  người đẹp A Kha. Khéo hay cơ trời sắp đặt, cuối cùng A Kha cũng làm vợ đẻ con cho  nhà họ Vi. Thêm một chiếc lá ngọc rời cành vàng rớt nhằm giếng  nước đục!

Trong số các bà vợ chỉ có một bà trị được y là công chúa Kiến Ninh, em vua Khang Hy. Công chúa từ nhỏ trong cung cấm không ai bầu bạn, nên vừa gặp gã thái giám giã Vi Tiểu Bảo liền thân thích si mê, rồi trăm phương nghìn kế mà chăng bẫy, được cái họ Vi cũng dễ tính nên dễ dàng ngã ào vào chiếc bẫy của công chúa,. Họ có một con gái là Tiểu Song Song.

Lãng mạn nhất là sự gặp gỡ với Tăng Nhu, đẹ tử phái Vương Ốc, y hốt trọn ổ bọn đệ tử phái Vương Ốc, trong đó có Tăng Nhu, rồi thay vì chém đầu hết thảy, y lại bày trò gieo xúc xắc quyết định thắng thua rồi giở trò ma chịu thua mà thả hết mà binh lính dưới quyền không hay biết. Đổi laị y được nắm tay Tăng Nhu một cái, bóp bóp, cái này thì y phải kiếm chác! Sính lễ để vừa lòng cô gái là mười mấy mạng người, kể ra Vi Tước gia cũng chơi bời đáo để!               

Cái cơ duyên xảo hợp nhất trong đường tình của Vi Tiểu Bảo là bận y bị  Hồng giáo chủ bao vây ở  kỹ viện Dương Châu. May y dùng kế hạ mông hãn dược ( thuốc mê) vào rượu, hạ được phe Hồng giáo chủ, lại hốt trọn một bầy đàn tay chân gồm những nữ nhi xinh xắn trong đó có cả Hồng phu nhân,  Phương Di, Mộc Kiếm Bình, rủi thay trong số nạn nhân có cả A Kha. Y thoát đại nạn, nhìn ngắm các người đẹp, máu luông tuồng lại nổi lên, liền bế tất cả lên giường, hát bài Thập bát mô , bài hát thịnh hành ở chốn lầu xanh. Sau chuyến này các cô gái xem như bị đóng dấu đỏ của Vi phủ!

Chuyện nam nữ lăng nhăng của Vi Tước gia lê thê từ khi họ Vi trở thành vị thái giám sủng ái nhất của  Khang Hy mãi đến hồi cuối khi y dắt bảy bà vợ đi ở ẩn, tạm tóm tắt bằng vài dòng như thế.

Giờ điểm lại danh tính như sau: Tô Thuyên nguyên là vợ Hồng An Thông, giáo chủ Thần Long giáo, Song Nhi nguyên là a hoàn nhà Trang gia, Phương Di, Mộc Kiếm Bình người nhà Mộc vương phủ, Tăng Nhu đệ tử phái  Vương ốc, A Kha con gái Trần Viên Viên, và  công chúa Kiến Ninh.

Vậy là song song với thành tựu về chính trị của Khang Hy, Vi Tiểu Bảo cũng đại công cáo thành trong sự nghiệp thu phục những người đẹp. Có ý kiến cho rằng hình ảnh gia đình Vi Tiểu Bảo đuề huề chính là ẩn dụ về cục diện chính trị Trung Hoa, cuối cùng thì mọi phe phái chính trị bị dẹp bỏ, đều sống chung một mái nhà. Ý kiến này càng thuyết phục nếu chúng ta để ý đến xuất thân của các bà vợ Vi Tiểu Bảo, mỗi người một thành phần, một môn phái đại diện cho những xu hướng chính trị khác nhau ở Trung Quốc vào đầu đời Thanh.

Ngẫm vậy không sai, song e rằng nghiêm túc quá! Mà giọng điệu chủ đạo của Kim Dung khi viết về Vi Tước gia và các bà vợ cơ bản là nhạo cợt. Nhạo cợt nhất là khi để cho họ Vi hát bài “ Thập bát mô” ở kĩ viện mà chiếm được A Kha và Tô Thuyên, cả Phương Di nữa! Còn cô công chúa Kiến Ninh không có cái phước dân dã  mà vào được kĩ viện nên sau này cứ nằng nặc đòi  Vi  Tiểu Bảo đưa mình vào kĩ viện …cho vui!

Cuối  truyện là cảnh Vi Tiểu Bảo đưa bảy bà vợ về ra mắt Vi Xuân Phương. Vi Xuân Phương cứ nhìn mặt từng cô dâu một mà bình phẩm về nhan sắc bằng cái giọng của một kĩ nữ có nghề! Vậy có thể kết luận rằng khởi đầu và kết thúc cho hạnh phúc của đại gia Vi đều là kĩ viện cả. Thế thì nếu xem hình ảnh này đại diện cho cục diện chính trị Trung Hoa  thời bấy giờ thì tiện thể cũng nên hiểu thêm về ngầm ý của Kim Dung nữa. Vậy câu chuyện thê thiếp bầy đàn kia có ngụ ý gì?

Kim Dung khởi viết tiểu thuyết võ hiệp khi đã rời đại lục mà sống ở Hồng Kông. Năm 1950 gia đình cha mẹ ông bị đem ra đấu tố trong cải cách ruộng đất, từ đó ông mất liên lạc với quê nhà. Trong hoàn cảnh ấy, chắc hẳn trong lòng  tiểu thuyết gia ôm nhiều phiền muộn chán chường, nhất là chán ngán cái trò chính trị nhiều rối ren ma mị. Có phải vậy chăng mà  những nhân vật chính trị trong tiểu thuyết của ông phần lớn là kém phẩm hạnh. Riêng trong Lộc Đỉnh ký thì câu chuyện chính kiến với mấy trò cờ bạc hay cái hứng mua vui ở kĩ viện nào có khác gì nhau! Vậy nên nhất thiết phải mời cho kì được các gương mặt đại diện về Dương Châu cho Vi Xuân Phương ngã giá!

Và cái kết có hậu của trường thiên tiểu thuyết này thoáng một  nhếch mép mai mỉa.

Người kể chuyện cũng nhân chuyện mà  cảm khái:

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!

Kể Chuyện Lộc Đỉnh Ký- Hồi III

Hồng nhan hồ dễ tìm tri kỉ

Anh hùng bất quá mĩ nhân quan!

Trần danh nữ xuất thân  từ một kĩ viện ở Tô Châu, nhan sắc cầm kì dậy cả một phương nên được tuyển vào chốn hậu cung của hoàng đế Sùng Trinh nhà Minh.  Rất tiếc ông vua bất tài này ngay cả cái tài nịnh hót chiều chuộng mĩ nhân cũng không có nốt, số phận cùng danh tiếng Viên Viên cũng thăng hoa từ đó!

Viên Viên bị ban cho Ngô Tam Quế làm tỳ thiếp. Lí Tự Thành nghe danh Viên Viên , tiếc đời danh nữ lại vùi thân nơi mọi rợ nên dấy binh  đánh đến kinh thành cướp lấy Viên Viên. Ngô Tam Quế mất ái thiếp, nổi giận đùng đùng liên kết với giặc Thanh từ quan ngoại đánh tới kinh thành, bức tử Sùng Trinh, cướp lại Trần Viên Viên.

Vậy là một  Trung Quốc rộng lớn oai danh khiếp phục chư hầu trong phút chốc tan tành cũng bởi một  danh kĩ!

Lịch sử Trung Hoa đã có một Trụ Vương và Đắc Kỷ, Ngô Phù Sai và Tây Thi, Đổng Trác với Điêu Thuyền, Đường Minh Hoàng với Dương Quý Phi.

Giờ lại thêm một tấm gương cho hậu thế!

Và hiển nhiên các nho gia liệt Viên Viên vào loại  yêu  nhi ma nữ!

Chẳng có ai dám ngạo mạn mà phạm đến cái mũ nhà nho.

Song xét một đời con người được như Viên Viên  cũng thật đáng ngưỡng mộ.

Hai vua ( Sùng Trinh là vua cuối nhà Minh, Lý Tự Thành sau cũng lên ngôi vua) một chúa ( Bình Tây Vương Ngô Tam Quế) cũng vì nàng mà hành sự.

Nếu mục đích sống là để lại cái danh cho đời thì Viên Viên quả không uổng một đời sống trên dương thế.

Mà nếu có trách thì trách các đấng quân vương binh quyền trong tay lại không biết giữ mình, để thân bại danh liệt chứ hoa phù dung nào tội tình gì! Mà xưa nay biết bao đấng bậc tài tình sau khi đoạt cho mình mọi  công danh lại tình nguyện đánh đổi một khoảnh khắc cận kề cái đẹp, thế mới hay cái giá trị nhất trong đời lại là nhan sắc, dám khuyên không chỉ riêng các ngài tài tử mà ngay cả các nhà đạo đức chớ có coi thường!

Có lẽ cũng cảm cái oan tình nhi nữ mà tài tử Ngô Mai Thôn mới soạn thành Viên Viên khúc.

Riêng hồi này lạm bàn thêm về tao ngộ Trần Viên Viên và Vi Tiểu Bảo.

Hồi kể chuyện Trần Viên Viên thật hấp dẫn một cách hoạt kê, xin tham khảo một đoạn ngắn:

“ Trần Viên Viên nói “ Mời đại nhân ngồi”. Đợi Vi Tiểu Bảo ngồi xuống một tấm bồ đoàn xong, bước tới cạnh tường lấy chiếc đàn tỳ bà xuống, ôm vào trong tay, ngồi xuống tấm bồ đoàn kia, chỉ vào bức tự thư trên tường nói khẽ “ Đây là một bài thơ trường thiên của tài tử Ngô Mai Thôn viết cho tiện thiếp, gọi là Viên Viên khúc. Hôm nay có duyên, xin đàn một khúc cho đại nhân nghe, chỉ sợ làm rát tai người”.

Vi Tiểu Bảo cả mừng, nói “ Hay lắm, hay lắm. Có điều bà hát vài câu thì phải giải thích một lượt, chứ loại tài tử rắm chó như ta học vấn rất tầm thường”.

Trần Viên Viên  mỉm cười nói “ Đại nhân quá khiêm nhường rồi”, gẩy dây đàn một cái tinh tinh tang tang mấy tiếng, nói “ Khúc này lâu quá chưa đàn, nếu có sơ suất xin đừng trách”. Vi Tiểu Bảo nói “ Không cần khách khí. Nếu có đàn sai nhịp ta cũng không biết đâu”.

Vi Tiểu Bảo bản tính gian manh giảo hoạt vậy mà vừa gặp gỡ Viên Viên đã trở nên thật thà khí khái phô bày hết cái học vấn rắm chó của mình đủ thấy hắn được tái sinh! Đó phải chăng là chức năng thanh tẩy tâm hồn của cái đẹp?

Hay họ Vi cảm khái với xuất thân của Viên Viên mà  nuôi lòng đồng bệnh tương lân?

Hay con người ta chỉ gian dối khi buộc lòng phải đối phó với môi trường gian manh để tìm cái sống mà khi thoát khỏi sự kiềm tỏa của đời xung quanh thì cũng có khi trở về với bản lai diện mục của mình? Biết vậy để hiểu thêm ra rằng một khi ở đời còn quá nhiều kẻ lưu manh vô học thì chớ vội chửi người, chỉ là vì cái ô trọc mọc lên từ nền tảng xã hội đó thôi!

Kim Dung thật tài tình trong sáng tạo, tôi không hiểu từ nhất điểm linh khiếu nào mà ông dám đưa thêm vào danh sách những kẻ mê muội tài sắc Viên Viên một gã Vi Tiểu Bảo, như một nhạo cợt cái chính thống, như một biện minh cho mọi thói tật, như một mắng yêu cho một số phận…

Tôn trọng mô tiếp mĩ nhân – anh hùng truyền thống.

Sáng tạo một mô tiếp mĩ nhân – tiểu nhân.

Mà đố ai có đủ can đảm phán xét gặp gỡ nào mới thật là tao ngộ!

Lại hề hà câu sĩ tử ngày xưa cho qua câu chuyện kể “ cao hạ tương khuynh” mà!

.

~Nguyễn Tấn Ái.

Kể Chuyện Lộc Đỉnh Kí

HỒI II

Tâm si, tâm trung, tâm nhũng nhiễu

Đao vương, thần trảo, bán kiếm vô

Hồi này kể chuyện ba nhân vật nổi  tiếng võ công siêu phàm mà quần hùng nghe danh là vỡ mật: Tổng Đà chủ Thiên Địa hội Trần Cận Nam, bách thắng đao vương Hồ Dật Chi và nhất kiếm vô huyết Phùng Tích Phạm. Cả ba được gọi là Đài Loan tam hổ.

Cùng hàng tam hổ, song bối phận, tài năng cùng phẩm hạnh Trần Tổng đà chủ hơn hẳn hai nhân vật kia. Người đương thời truyền tụng câu: “ Bình sinh không biết Trần Cận Nam, có tiếng anh hùng cũng uổng phí.”

Trần Cận Nam nổi tiếng với công phu ngưng huyết thần trảo, một trảo công ra thì đối thủ trong hai canh giờ khí huyết sẽ ngưng tụ mà chết. Song là chính nhân quân tử, Tổng đà chủ cũng nhận thấy công phu này có phần bá đạo nên không phải trường hợp quan yếu thì quyết không dùng đến. Trong truyện cũng chỉ có một lần đà chủ thi thố tuyệt kĩ công phu là khi phải khống chế Lí Tây Hoa để bảo vệ tuyệt mật của bản hội.

Lộc Đỉnh kí đã thật hấp dẫn với những hồi nhân vật anh hùng này xuất hiện, nhất là các hồi  Cận Nam giải phóng Tra Y Hoàng khỏi móng vuốt của bọn chó săn nhà Thanh, kịch chiến cùng Phùng Tích Phạm, võ công khuất phục Thi Lang.

Trần Cận Nam là bề tôi trung của Trịnh Thành Công chiếm cứ Đài Loan gương cao cờ phản Thanh phục Minh. Mưu trí hơn người, tài năng trác tuyệt, tâm chánh hành trực, tổng đà chủ được giang hồ nể phục.

Song cơ trời đã bỏ nhà Minh, nên một đời bôn ba của Trần Cận  Nam cũng thành bọt biển, cuối cùng bị chính con trai Trịnh Thành Công là Trịnh Khắc Sảng ám toán, chết oan uổng trên đảo Thông Ngật. Thiên Địa hội cũng theo số mệnh đà chủ mà tan rã.

Trần Cận Nam anh hùng thì thật anh hùng, chỉ tiếc cơ trí mà cố chấp, biết khí số nhà Thanh đã hết mà vẫn bôn ba, biết Trịnh Khắc Sảng hèn hạ mà không đề phòng, biết Phùng Tích Phạm gian giảo mà không tiêu diệt, để cuối cùng uổng tấm thân bảy thước.

Đó là hình bóng của những kẻ mang  quan điểm ngu trung mọi thời, đáng thương mà cũng đáng trách.

Song nghĩ lại âu cũng là mặt trái tất yếu của tri thức, mấy ai đủ can đảm từ bỏ mớ học thức mình một đời gom góp được, thành tôn thờ đến mức mê muội, đến thành nô lệ, thành tín đồ mù quáng.

Lắm kẻ khi luận sự đời cứ xơ cứng chết khô, một lời bàn luận cứ y như là trích dẫn từ chương cú  lạc hậu lỗi thời ma mị ra, đem cái máy móc mà phán xét sự đời, cầm tù mình đã đành, lại còn soi mói nhân thế. Lỡ nuôi thêm cái tâm chim cú thì tàn hại đời vô kể chứ đâu chỉ hại mình!

Thương ôi, may mà Trần tổng đà chủ tâm trung trong sạch, nhất bái cung tiễn!

Đứng thứ hai trong Đài Loan tam hổ phải kể đến Hồ Dật Chi, danh hiệu bách thắng đao vương.

Đao vương xuất hiện rất ít ở trong truyện. Y chỉ hiển lộ thân thủ một lần khi quyết đấu ngang ngửa cùng Phùng Tích Phạm trên sông Liễu Giang.

Điều lạ lẫm ở nhân vật này không phải là võ công mà là hành xử.

Hồ hiệp sĩ mê danh nữ Trần Viên Viên, song tự biết danh phận và thế lực mình khó có thể ngang bằng với Lí Tự Thành, Ngô Tam Quế, nên chỉ chờ khi Trần Viên Viên đi tu thì tình ngyện làm sải già quét tước canh gác cho mĩ nhân để thỏa một đời được gần gũi người đẹp! Ngẫm nghĩ món hồi môn Hồ hiệp sĩ cung tiến mĩ nhân  cũng đáng cho hậu thế ngậm ngùi!

Hèn gì bối phận hơn hẳn Vi Tiểu Bảo mà Dật Chi vẫn sảng khoái khoái kết tình huynh đệ với Vi Tiểu Bảo, ý hẳn là đồng bệnh tương lân! ( Bởi Tiểu Bảo cũng mê A Kha con gái Trần Viên Viên như điếu đổ.)

Võ công cao mà danh phận không màng.

Không chịu lụy mình vào mấy trò chính trị đa trá đa ngụy.

Một đời đam mê cái đẹp, thờ phụng cái đẹp cho thỏa chí mình!

Ứng xử kể vào hàng cốt cách.

Bách thắng đao vương xuất hiện chớp nhoáng , đao pháp chớp nhoáng để người đời thán phục rồi  nghiễm nhiên tại vị là một kẻ tình si. Có cái thân thế và thân thủ ấy bảo lãnh, ai dám cười gã một đời dại dột.

Mỗi đời người có một chọn lựa: Kẻ chuộng bạc tiền, người tham quan chức. Kẻ bán mạng cho chính trị, người  điên đảo với hư danh rốt cuộc cũng chỉ những trò chơi, vậy mà lắm kẻ lên mặt kiêu ngạo với trò chơi nhiều thắng thua ấy.

Hồ hiệp sĩ chọn riêng cho mình một nẻo chơi, và ngang nhiên thống khoái thách đố những cười nhạo của bọn bằng hữu giang hồ. Ứng xử ấy trung thực với mình và can đảm với người đời. Kể ra không phải bản lĩnh võ hiệp mà chính hành xử ấy mới vào hàng cao thủ.

Xin được kết giao cùng Hồ bằng hữu!

Người cuối cùng kể đến là Phùng Tích Phạm.

Họ Phùng võ công lẫy lừng, lại vô sĩ đa trá, kể ra trong tam hổ hắn đáng sợ nhất.

Nổi tiếng nhất kiếm vô huyết, mỗi chiêu kiếm xuất ra, chưa trọn kiếm chiêu, chưa thấy lưu huyết mà đối phương đã thọ trọng thương, thật là công phu thượng thừa.

Hắn võ công ngang hàng nhị hổ kể trên, nhưng lại hai lần chiếm thượng phong nhờ ám toán một cách vô sỉ.

Giang hồ nguyền rủa còn Trần ,Hồ thì chỉ thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Tiện cũng kể thêm ấy là vỏ quýt dày gặp móng tay nhọn, hắn bất thần ám toán Hồ Dật Chi, Trần Cận Nam lại bị chính gã tiểu lưu manh Vi Tiểu Bảo dùng vôi bột ám toán lại, hắn hạ lưu lại bị chính hạ lưu vô sỉ đánh bại.

Phùng Tích Phạm là sư phụ của Trịnh Khắc Sảng, về sau hai thầy trò cùng đầu hàng Khang Hy, dâng Đài Loan cho nhà Thanh, họ Trịnh được phong tước công, còn Phùng thì thọ danh Trung Thành bá.Về sau  Vi Tiểu Bảo báo thù cho sư phụ, hại Trịnh Khắc Sảng tán gia bại sản, còn Phùng Tích Phạm thì bị lừa đem ra pháp trường chém đầu thay cho tử tù Mao Thập Bát.

Khắc tinh của Phùng Tích Phạm cuối cùng lại chính là Vi Tiểu Bảo.

Phùng Tích Phạm với đời sống của y có ý nghĩa gì?

Hắn đáng sợ bởi vừa cao cường vừa vô sỉ.

Hắn là hình bóng của lắm kẻ trong đời, vô sỉ và đem bản lĩnh của mình mài nhọn cái vô sỉ, trở thành nỗi ám ảnh của nhân thế.

Những kẻ vô sỉ lại nhơ nhơn tự đắc, lại còn học hàm học vị, lại thế gia chức tước đi kèm, lại càng tác hại lắm lắm.

Mà những kẻ ấy thì đời nào lại thiếu!

Lại to nhỏ đủ loại, rộng hẹp đủ mặt, đến trốn vào chiêm bao còn gặp hắn nữa là!

Loại ấy nếu không học được cái môn công phu của Vi Tiểu Bảo để mà dĩ độc trị độc thì chỉ còn có sách kính nhi viễn chi!

Đài Loan tam hổ ba gương mặt thượng thặng là bao lời nhắn nhủ: Ba cái hại đời hại mình là siêu, si, trá.

Mà đời ấy nhũng nhiễu, không siêu, không si, không trá liệu rồi có dược yên thân?

Ngẫm các sư chùa Thanh Lương cố giữ cho mình cái tâm không bị hoặc bởi cái siêu, cái si, cái trá rồi cũng bị đời hồ đồ đuổi theo bách hại.

Ở đời khó thay!

Thôi thì nếu phải chọn một nẻo để hóa thân thì kẻ yếu bóng vía này đành chịu miệng thế chê cười mà  theo chân Hồ đại ca làm sãi già một đời cho thỏa thích!

.

Nguyễn Tấn Ái

Hè 2010

Kể Chuyện LỘC ĐỈNH KÝ

Kim Dung, chủ bút tờ Minh Báo, có lẽ ít được biết đến với tư cách một chủ bút bằng tư cách là đại gia trong ngành tiểu thuyết võ hiệp với tổng cộng mười hai bộ trường thiên, ba bộ đoản thiên.

Trong sự nghiệp đồ sộ ấy, có những bộ  từng tung hoành trong khắp các học đường, giảng đường ở Việt Nam, nhất là thời trước 1975 như: Võ Lâm Ngũ Bá, Xạ Điêu Anh Hùng Truyện, Ỷ Thiên Đồ Long Kí.

Thế giới nhân vật của Kim Dung phong phú đa dạng và hấp dẫn với phong cách hiệp nghĩa giàu sức chinh phục.

Khó có thể phân cao thấp giữa các bộ sách, cũng bởi mỗi người đọc lại có một sở thích và cảm nhận khác nhau. Nhưng theo thiển ý thì có lẽ  tại hạ thích nhất là hai bộ: TIẾU NGẠO GIANG HỒ và LỘC ĐỈNH KÍ.

Nhân gần đây trên VTV3 có chiếu lại bộ phim LỘC ĐỈNH KÍ nên cũng muốn nhàn đàm vui vui cùng bạn đọc theo cái kiểu trò chuyện dông dài mà tuyệt đối không phải là khảo cứu.

Mục đích cũng chỉ “ vui thôi mà” nên mời mọi người cùng góp chuyện, và gác lại những bất đồng trong học thuật. Vui thôi mà!


Hồi I: Sẩy chốn lầu xanh Vi Tiểu Bảo anh hùng tứ xứ

Ngự Lộc đỉnh công thằng tiểu quỉ ngạo chốn vương hầu.

Hồi này luận chuyện Vi Tiểu Bảo, nhân vật chính của Lộc Đỉnh Kí.

Tiểu Bảo xuất thân hèn hạ, mẹ là Vi Xuân Phương, một kĩ nữ chốn Dương Châu, vùng nỗi tiếng yên hoa tam nguyệt.

Cha y thì thôi đủ loại Mông, Hồi, Mãn, Hán… May mà không có Tây dương!

Có thể nói đến hai phần ba học thức mà hị Vi kia có được là từ những khách thập phương lúc trà rượu nhàn rỗi kể lại .Tức là học thức cóp nhặt không đầu không cuối.

Cũng vì giữa chốn ăn thua, lại cô thân cô thế, nên món võ công thượng thặng mà Tiểu Bảo thành đạt cũng chỉ là món võ mồm và sự giảo hoạt siêu đẳng.

Tình cờ kết giao với gã giang hồ Mao Thập Bát, được họ Mao đưa lên Bắc Kinh.

Giữa chốn hiểm nguy, dụng kế làm mù mắt Hải lão công, giết chết Tiểu Quế Tử, cứu Mao Thập Bát, rồi tự mình giả làm Tiểu Quế Tử, nhơn đó mà hí lộng vô pháp vô thiên nên kết thân cùng  Khang Hy dưới tên gọi Tiểu Huyền Tử.

Từ đó đường mây nhẹ bước, liên tiếp tiến chức thăng quan.

Sự tình cờ đẩy đưa, Vi Tiểu Bảo rơi vào Thiên Địa hội, trở thành hương chủ thiên địa hội.

Y nhờ thân tín với Khang Hy mà liên tiếp lập công với Thiên Địa hội.

Lại nhờ Thiên Địa hội mà lập công với Khang Hy.

Đến cuối cùng, Thiên Địa hội tan rã, Khang Hy vững vàng, Vi Tiểu Bảo cắp bảy bà vợ đẹp như hoa như ngọc trốn khỏi tầm quản thúc của Khang Hy về lại Dương Châu mai danh ẩn tích một đời còn lại thỏa cái thú vợ con tiền của.

Có lẽ nên gọt nhẹ để lại cái lõi của cuộc đời Vi tước gia là thế.

Giờ bàn về cá tính Vi Tiểu Bảo.

Khác với những nhân vật phi thường trong tiểu thuyết Kim Dung, thường chinh phục mọi người bởi khí phách anh hùng, đan tâm hiệp cốt.

Vi tiểu Bảo thì đến một cái vảy anh hùng cũng không có. Có lần  bị anh em họ Bạch ở Mộc gia bóp cổ tay sưng vù, họ Vi miệng oai oái kêu đau, mặt hăm hăm bắt đền ăn vạ, không khỏi làm quần hào Thiên Địa hội một phen bẽ mặt.

Đan tâm thì như Khang Hy có lần phủ mặt thân thiện: “ Đến như ngươi mà trung tâm bất nhị  thì thiên hạ không còn ai điêu trá nữa.”

Tính khí thì thôi đủ tật xấu xa: Ham đánh bạc ăn gian, hễ thấy gái đẹp thì đến chết cũng theo kì cùng! Bởi vậy mà giữa chốn triều đình vẫn có gan giấu hai gái đẹp đang bi truy nã là Mộc Kiếm Bình với Phương Di. Dù bị A Kha đuổi đánh dọa chém vẫn cứ một hai xin làm đệ tử của  Cửu Nạn để được gần kề A Kha.

Chí hướng thì ngay khi lên đến tước công vẫn không nguôi mơ màng về lại Dương Châu mở dăm bảy kĩ viện!

Vậy mà con người không ra gì ấy lại liên tục thăng tiến, luôn được trọng vọng, trong triều đình nhà Thanh và cả trong các thế lực phản Thanh. Nguyên nhân?

Trước hết là sự may mắn.

May mắn lớn nhất đời y là ngẫu nhiên tình cờ làm bạn với Khang Hy.

Khang Hy oai trời mà tịch mịch. Ai dám làm bạn với vua! Lại còn con trẻ, lại càng tich mịch. Vi Tiểu Bảo vì giả làm thái giám nên đến vua cũng chẳng nhận ra. Thế là rủ nhau đấu vật, tỷ võ, rủ cả ăn trộm thức ăn của ngự thiện phòng, tức rủ vua bốc trộm thức ăn của vua. Khang Hy dù nằm mơ cũng không tưởng đến phúc dày có ngày được một người bạn thành thật đến thế. Rõ thật là bảo bối!

Mà suy cho cùng cũng chỉ có thằng tiểu quỉ Vi Tiểu Bảo vô pháp vô thiên mới hí lộng quỉ thần cỡ đó.

Mà trong bề tôi của Khang Hy cũng chỉ có một Vi Tiểu Bảo mới trung hậu thành thật khai báo:

–         Đối với bệ hạ đôi khi thần dập đầu thành thật, mà cũng nhiều khi dập đầu qua loa cho xong chuyện!

Mà trong bề tôi của Khang Hy cũng chỉ có một Vi Tiểu Bảo mới có cái phước nhận được đạo thánh chỉ vô tiền khoáng hậu: “ Tiểu Quế tử, con mẹ nó, ngươi đi đâu thế? Ta nhớ ngươi lắm, thằng đầy tớ xấu xa nhà ngươi vô tình vô nghĩa quên lão tử rồi à?”

Sau nữa là sự khôn ngoan gian giảo.

Vi Tiểu Bảo sinh ra  lớn lên ở kĩ viện, trưởng thành chốn hoàng cung, mà hai nơi đó lại chính là hai nơi trá ngụy nhất trên đời, thành bản tính y. Chỉ có điều y xem những chuyện kia hiển nhiên là phải thế. Đánh không lại thì phải dùng tiểu xảo như chặt chân, tráo ngựa, tung vôi bột, cùng lắm thì ầm ỹ kêu khóc. Với thiên hạ là hạ lưu, với y là thượng sách. Biết được tính nết hèn hạ của vị đệ tử này, một trong những sư phụ của y là Trần Cận Nam , tổng đà chủ Thiên Địa hội có căn dặn: “ Ta trong võ lâm tiếng tăm không nhỏ, thân phận không thấp, ngươi đừng làm ta mất mặt” thì ngay lập tức được y trả giá:Con có lúc cũng không muốn mất mặt, có điều nếu mất mặt thì cũng không có cách nào. Ví dụ đánh không lại người ta, bị người ta bắt được bỏ vào thùng táo chở đi như một kiện hàng thì sư phụ người cũng đừng trách”.

Biết được Khang Hy rất quí cái thân tình thuở nhỏ, có lần có chuyện khó tâu, y đánh bài liều hét lên: “ Tiểu Huyền tử, Tiểu Quế tử có điều muốn nói”, Khang Hy lập tức bị y giáng chức mà không thể dụng cái uy quyền của một ông vua. ( chuyện về khang Hy mạo nhận là tiểu thái giám Tiểu Huyền tử đã lược kể ở trên)

Y cũng có lúc bạo phổi mà bộc bạch với vua: “ Tính đệ tử có chút gian gian xưa nay sư phụ cũng biết rồi” ( Y cũng nhận Khang Hy làm sư phụ)

Y lừa Khang Hy, qua mặt Trần Cận Nam, tiêu diệt Thần Long Giáo, bắt sống Ngô Ứng Hùng đều như những canh bạc, như chơi bài cẩu.

Mà phương diện gian gian thì quần hùng không thể bằng y. Sư phụ không bằng y. Vua cũng không bằng y.

Chính mẹ y cũng nhận xét y giống gã cha hờ ở hai con mắt kẻ cướp!

Song trong trăm nghìn nết xấu,Vi Tiểu Bảo cũng còn một tính tốt: Y trọng nghĩa khí.

Một lời kết giao thì không bỏ Mao Thập Bát.

Không vâng lời nhưng rất yêu kính sư phụ Trần Cận Nam.

Vì tình thân mà xả thân cứu Khang Hy thoát mũi kiếm của Cửu Nạn.

Thiên Địa Hội muốn y hại Khang Hy thì y không hại.

Khang Hy muốn y tiêu diệt Thiên Địa hội thì y không làm.

Khang Hy đã luận công Vi Tiểu Bảo như sau:

“ Ngươi đối với bằng hữu rất biết nghĩa khí, đó là nết tốt…Ngươi thà chết không chịu phản bạn, không vì vinh

hoa phú quí mà bán đứng bạn bè, kể cũng là hiếm có, rất có phong thái cổ nhân. Ngươi đã không chịu phản bạn ( Thiên Địa hội), tự nhiên cũng không phản ta. Tiểu Quế tử, ta tha tội cho ngươi không phải vì công lao trước đây, không phải vì hai chúng ta từ nhỏ đã rất hợp nhau, mà còn vì ngươi coi trọng nghĩa khí thì không có gì là xấu”

Có thể nói Vi Tiểu Bảo không thể đứng vào hàng anh hùng hay quân tử. Nhưng cái nết tốt nhất của chính nhân quân tử thì may mắn y lại giữ được. Đó cũng là  cái lạ ở nhân vật Vi Tiểu Bảo. Là điểm học thức khả dĩ ở y.

Luận chuyện Vi Tiểu Bảo mà không luận về học thức ở nhân vật này thì e rằng còn thiếu sót.

Vậy Vi Tiểu Bảo đại diện cho triết lý gì của  Kim Dung?

Xét lại nền học thức Trung Hoa với nhân nghĩa lễ trí tín làm rường cột đã ngự trị hàng ngàn năm, hoặc lâu hơn nữa khi đến với Vi Tiểu bảo thì chẳng trở nên nghĩa lí gì.

Y thuở nhỏ cũng nghe kể nhiều về anh hùng với mĩ nhân, về lễ nghĩa, trí tín. Nhưng chỉ toàn là những chuyện nghe mà không thấy. Đến khi y vào đời thì thứ học thức ấy toàn vô dụng vì không có lợi, dụng đến e khi mất mạng, mà mất mạng thì phỏng học thức có ích gì! Nên y toàn chế hóa từ vốn thực nghiệm mà thôi.

Ngẫm quần hùng Thiên Địa hội một lòng trung quân ái quốc mà đến chuyện thờ ai cho phải cũng cãi nhau đến thành một trường hồ đồ. Rốt lại chân lí không rõ ràng.

Trần Cận Nam nổi tiếng anh hùng mà vì tiếng trung quân nên bị Trịnh Khắc sảng làm hại, chết một cách phi lí và oan ức.

Thuận Trị bỏ ngai vàng mà đi tu cũng vì không biết xử đạo nhà ra sao cho phải.

Rốt lại những đám người có tri thức trong truyện hoặc là tri thức không đến nơi đến chốn, hoặc tri thức không thông, hoặc tri thức không thực tế.

Mà tri thức đời nào cũng thế, làm sao mà thực tế!

Rồi cứ đem cái hình bóng không có thật của lí tưởng để hại người, hại mình.

Vi Tiểu Bảo vì bản chất gian giảo nên không khó đọc ra cái gian giảo của lí thuyết.

Vì thế học thức với y cuối cùng rốt lại là những câu vui vui:

Một lời nói ra ngựa tử khó đuổi ( y nghiệm ý “ tứ mã nan truy” thành ngựa chết rồi thì khó đuổi theo)

Vua là  Điểu sanh ngư thang ( y nghiệm câu Nghiêu Thuấn Vũ Thang thành bát canh thịt chim cá)

Cái gì đó trong cái gì với cái gì ngoài ngàn dặm ( Chuyện trù tính trong trướng mà quyết thắng ngoài ngàn dặm với y chỉ là thứ rối rắm gì gì)

Rốt lại y là hiện thân của một thời kì tri thức suy tàn rỗng tuếch mà mớ lí thuyết chính trị chết khô chỉ tổ làm trò cười cho lũ tiểu lưu manh vô học.

Bao phe phái chính trị trong Lộc Đỉnh kí tan tành, chỉ Vi Tiểu Bảo nhơn nhơn đi nghêu ngao trí trá bên bờ lí thuyết mà tồn tại.

Và kịp thời lẩn khuất trước khi nhà Thanh đến lược mình cũng cáo chung!

Nhân vật Vi Tiểu Bảo đôi khi lại là một triết lí!

Xong hồi một

Hè 2010

Nguyễn Tấn Ái

THƯ TRƯỚC MÙA THI

Các em học sinh khối 12 yêu quí!

Ngày mai là một cuộc chiến đấu thật sự của các em.

Cuộc chiến chinh phục những đỉnh cao tri thức.

Cuộc chiến  đấu đặc biệt không có kẻ thù, chỉ có những người cùng lí tưởng.

Thầy tâm sự  với các em..

Tiếp tục đọc

Hạ Vàng

.

Hạ về  nắng đỏ ngoài trời

Chưa cầm tay đã nói lời chia tay.

Trông vời tà  áo ai bay

Ngày xưa, chưa đủ gọi ngày là xưa

Gọi trời xin gửi cơn mưa

Cho dày nỗi nhớ, cho thưa nỗi lòng

Cho thơ biết chảy thành dòng

Theo chân cùng bạn suốt trong nắng hè.

Ta đi khi nắng hạ  về

Thương ta nên mấy con ve khóc cùng

Xa ngời ánh mắt bao dung

Hình ai loáng thoáng cho chùng không gian

Chiều nghiêng, con nắng hắt vàng

Ngõ dài, cho ánh chiều càng mênh mông!

Mùa Thi

.

Mùa  thi đến trong sân trường lạnh ngắt

Tiếng trống buồn lay gọi nỗi niềm thương

Bé mang mùa thi về với sân trường

Cho ta đứng bên hiên sầu chất ngất

Mùa thi đến trong sân trường lạnh ngắt

Tiếng trống trường dài theo mỗi giờ thi

Mai mốt rồi xa bé có hiểu gì

Mà thương nhớ rụng trong lòng ngơ ngác!

.

Nguyễn Tấn Ái

Tặng các học trò lớp 12

Hạ và Em

Mùa hạ về trên cây, mùa hạ

Mây bay vung vải rụng rời

Em như mùa thu nấp tận cuối trời

Để dăm lá vàng thương nhớ

Ta xuyên thời gian tìm em cứ ngỡ

Thu rất gần đâu đây.

Mùa hạ về trên cây

Lá khô, phượng rơi, nước mắt

Dáng xưa, mây trời, gương mặt

Rất gần và rất xa

Đời ta em một lần ngang qua

Rồi xa không trở lại

Để giữa lòng ta tê tái

Nghe phượng rơi, hạ về!

.

Nguyễn Tấn Ái



Sự Lo Lắng

Một người nọ, giàu có đến có của ăn của để ba đời, mà vẫn lo tích cóp. Lí do thật chính đáng : Lỡ mai một con cháu chắc chít gì gì đằng sau nữa có không làm ra thì vẫn còn có cái ăn.

Và tuổi đã già ông vẫn không có được một ngày ngơi nghỉ.

Thỉnh thoảng lại thở than tuổi già sức yếu mỏi mệt.

Thấy thế , một người hỏi ông:

–         Ông gọi con của con ông bằng gì?

–         Bằng cháu.

–         Ông gọi con của cháu ông bằng gì?

–         Bằng chắt.

–         Ông gọi  con của chắt ông bằng gì?

–         Bằng chít.

–         Ông gọi con của chít ông bằng gì?

–         Không biết!

Người nọ cười mà rằng:

–         Buồn cười cho ông, ông đã không có lấy một ngày vui, quá lo lắng mệt nhọc chỉ vì cái không biết!

Và ông già tỉnh ngộ!

Đó là câu chuyện về sự lo lắng.

Đúng lo lắng là một đức tính, nó đo lường năng lực mình, nó dự trù những ngày chưa đến, nó lập kế hoạch cho tương lai… Nhờ biết lo lắng mà những ngày chưa đến dù biết khó khăn nhưng sẽ không là nan đề không thể giải quyết với những người biết lo lắng.

Người không biết lo cho ngày mai, đến đâu hay đến đó, lật đật cũng tới bến giang, lang thang cũng tới bến đò, nước đến trôn mới nhảy… thì không khỏi có ngày gặp tai họa. Bởi vậy mà ông bà ta hay khuyên câu cửa miệng:

–         “ Nhân vô viễn lự tất hữu cận ưu”.

Song biết lo lắng không có nghĩa là để cho cái sự lo nó đè nặng tâm trí con người, làm thành ung nhọt bệnh tật, lúc nào cũng nhăn nhó khổ sở. Như thế, đã không lo được gì mà lại rối thêm. Những lúc như thế tưởng cũng cần có ai đó gõ vào óc mình một cái để tỉnh ngộ như ông già trong câu chuyện trên.

Tôi không biết từ bài vở nào mà  học được một ứng xử khi có nan đề:

Lấy ra một tờ giấy

Ghi tên hết những việc mình lo lắng ra

Suy nghĩ cách giải quyết từng việc một.

Việc nào không giải quyết được thì dự đoán tác hại tối đa sẽ đến.

( Ví dụ tối nay mình ở nhà bạn, xỉn không về được, làm sao đây; tối đa là vợ sẽ nhằn, cằn nhằn đến tối đa là tối ngày mốt, vì ngày mốt nàng sẽ nhờ mình đi chở hàng, không làm mặt lạnh mãi được đâu, thôi, nghỉ cho khỏe)

Xong mọi việc rồi thì đi ngủ.

Kinh nghiệm này có giúp gì  cho các bạn được không?

.

Nguyễn Tấn Ái

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: