• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 899 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 899 other followers

Khuyết Tật ( Phạm Phù Sa)

Có những kẻ luôn đeo kính râm
mà chẳng bao giờ mù
Có những người mù
chẳng khi nào chịu đeo bất cứ thứ gì lên mắt Tiếp tục đọc

‘Khám phá’ những trầm mặc Hội An

Người ta vẫn nhắc nhiều đến Hội An với một vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc nhưng không buồn tẻ. Bởi ở đây, lúc nào cũng có những điều kỳ lạ, nếu bạn chịu khám phá… Tiếp tục đọc

Siêu Tưởng (Phạm Phù Sa)

Một giọt nước cũng làm tràn ly

một chậu nước có  thể tràn hồ

một giọt rượu tràn gì ? Tiếp tục đọc

Tiếng của gió – Ngày về (Phạm Phù Sa)

http://www.skydoor.net/Download?mode=entry&id=51

Ta về
Xa Đà Lạt ngàn thông Tiếp tục đọc

Nguyễn Việt Chiến chiêm nghiệm ‘Tổ quốc nhìn từ biển’

“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa/ Ngàn năm trước con theo cha xuống biển/ Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa”, những vần thơ được Nguyễn Việt Chiến viết ra từ năm 2009, đang được lan truyền mạnh mẽ trong cộng đồng. Tiếp tục đọc

Từ Ô Cửa Sổ Trái Tim ( Phạm Phù Sa)

Tôi nhìn đất nước tôi qua ô cửa sổ nhà

một ban mai dưới vòm cây chim hót

những bông hoa còn ngậm sương đêm trong vắt

tiếng con trẻ ngân nga từ trang sách Tiếp tục đọc

Cho sắc màu tuổi thơ xanh mãi ( Phạm Phù Sa)

Tặng cháu Ban Mai và các bạn

Cuối đông

Cái rét không thể đóng băng lòng nhiệt thành tuổi nhỏ

Những hoạ sỹ tí hon

Dưới nét cọ Tiếp tục đọc

Thơ viết ở nghĩa trang (Phạm Phù Sa)

 

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi…”( Trịnh Công Sơn ) Tiếp tục đọc

Cà phê em – Ban Mê ( Phạm Phù Sa)

Anh lại về Ban mê

Giữa mùa phong lan nở

Tháng ba như duyên nợ

Tháng ba, mùa ươm thơ Tiếp tục đọc

Ban Mê Ngày Trở Lại ( Thơ Phạm Phù Sa)

Ban Thuột – bụi mù trời

Thanh âm bàng bạc một thời đã xa

Cao  nguyên xanh như bài ca

Bốn mùa trăng, ngỡ như xa, như gần Tiếp tục đọc

Đường thi xướng họa – Bài họa kết (Phạm Phù Sa)

Thân gởi chị Huỳnh Huệ và Ban Mai Hồng.

 Thật cảm động khi trang Ban Mai Hồng đã đăng tải giới thiệu mảng thơ đường luật về Đản sanh. Chưa vội nói về nội dung, cũng đủ thấy trang BMH dung nạp và giới thiệu những gì thuộc về văn hoá và nghệ thuật chính thống, phù hợp với tiêu chí , phương châm hành động của mình, mà đối tượng chính là học sinh, sinh viên. Chị đã mạnh dạn đưa lên một thể thơ mà dường như lớp trẻ bây giờ rất rất hiếm người đọc, chưa nói đến ưa thích, thưởng thức, thẩm định… Tiếp tục đọc

Đường thi xướng họa – Cảm Niệm Đản Sanh (Phù Sa…- Doãn Lê và các thi hữu)

Thân gởi chị Huỳnh Huệ và Ban Biên Tập cùng các Cộng tác viên, bạn đọc BMH.

Mùa đản sanh sắp đến. Thượng toạ Thích Hạnh Niệm-trụ trì chùa Pháp Bảo  Hội An- Q. Nam có sáng tác bài thơ luật Đường “Cảm niệm Đản sanh”. Phạm Phù Sa xin phép phụng hoạ hoà cùng thi hữu gần xa, được thầy chấp thuận.Xin gởi đến Ban Mai Hồng để  giới thiệu bài thơ, và nếu được sự hưởng ứng của anh chị em hưởng ứng hoạ thơ thì thật là diễm phúc.

Thầy Thích Hạnh NiệmPhó Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Tỉnh Quảng Nam. Khi làm thơ Thầy  lấy bút hiệu Kim Tâm. Thầy đã xuất bản nhiều tập thơ cả đạo lẫn đời, phát hành sang tận Mỹ- Úc…Hiện thầy đang là chủ nhiệm tập san HƯƠNG SEN của Thành Hội Phật Giáo Thành phố Hội An, mỗi năm phát hành 3 số vào các ngày đại lễ và Tết NguyênĐán . Chùa Pháp Bảo là nơi đặt văn phòng của Ban BiênTập  và tổ chức các sinh hoạt của Hương Sen.

Kính mời anh chị em cộng tác.

Tiếp tục đọc

Sông Hàn Ngũ Đoản Khúc (Phạm Phù Sa)

* Tặng Mai Hữu Phước, Nguyễn Xuân Sơn

Chiều bên ni Sông Hàn

Nắng và gió miên man

Gió như là duyên nợ

Nắng như ươm tơ vàng

*** Tiếp tục đọc

Ơn Đời Những Ban Mai (Phạm Phù Sa)

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy

Ta được thêm ngày nữa để yêu thương”

                        ( thơ Kahlil Gibran).

Xin chào một ban mai sương mềm cỏ lá

một bình minh non tơ trên thảo nguyên bao la Tiếp tục đọc

Nỗi Nhớ Tôi

Tặng “người dưng khác họ”

 Có những nỗi nhớ đi qua thế kỷ đời người

bồng bềnh trong cơn mơ  dặc dài ký ức

Phơ bạc mây – sợi mù xa nhưng nhức

Con Sông chở chuyên bao số phận lở bồi   Tiếp tục đọc

Với Lời Tự Tình “Ai Dỗ Đừng Xiêu”

Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu

Mưa mai có  bạn, nắng chiều có ta

( Ca dao Quảng Nam) Tiếp tục đọc

Bài Thơ Không Chỉ Viết Riêng Ngày Một Tháng 4

Ai xui Trịnh ra đi trong ngày Một Tháng Tư

ngày đầu hè chan hạ trắng !

Ngày mà thế giới thích đùa

Ngày người ta không tin vào sự thật.

Ngày người ta biến cười thành khóc

lấy khóc làm đề tài dè bỉu nhau

Cái ngày mà một nửa ngờ,

một phần tư tin, một phần tư phớt

Thế giới văn học ngỡ ngàng

Thế giới âm nhạc ngỡ ngàng

Bà bán nước, ông xe ôm, người phu quét đường

khắc một vành tang lên cái tên người nhạc sĩ

Cái ngày dành cho những sự không tin vẫn cứ phải bùi ngùi

vẫn cứ ngỡ Trịnh hát vang trên những xác người

Trịnh không bao giờ chết !

Giai điệu buồn, mõ thiền khua lốc cốc

Cát bụi lăn tròn sau chiếc xe tang

Một nốt nhạc bật khỏi thang âm

Cõi đi về trời mây miên viễn

Ngày Một Tháng Tư, một ngày đầu hè chan hạ trắng

Con ve sầu im tiếng

Âm vọng còn râm ran

Khi định phần ngày giỗ của một tài danh.

Tạo hóa đã quá công bằng

dành cho một ngày nhắc nhớ.

.

Phạm Phù Sa

Hội An- Tình Yêu Và Nỗi Nhớ 2

2.

Những dấu hỏi mẹ tôi ném lên không gian

hằn lên nét hoa văn trên vòm mái cong hình con thuyền lướt sóng

mẹ cõng những dấu hỏi trên lưng qua ngày tháng

in trên vầng trán

trĩu phận người long đong

 

Mẹ tôi

một đời lận đận nuôi con

oằn nặng vai gánh hàng rong sớm tối

Tiếng rao cất lên

hi vọng

lặng im

tuyệt vọng

mẹ lại rao hàng

– ai… mua…không …

– ai… mua…không …???!

con cò vỡ giọng kêu sương

những dấu hỏi rơi xuống giếng sâu không đáy!

 

Đêm từng đêm

đường phố in ngàn vạn dấu chân của mẹ

ngày mẹ lìa trần thế

dấu chân in khắp mặt địa cầu

tiếng rao ngàn đêm vọng tới trăng sao

mẹ cứ ném vào không gian khúc ca cũ mòn của một thời lam lũ

tiếng vạc khô lăn qua từng mái cổ

lông lốc len theo khắp nẻo đường

tiếng kêu như mũi tên xuyên qua thời son trẻ

lúc tôi ngủ quên trong tấm chăn hồn nhiên ngày tấm bé

là lúc mẹ lặng lẽ ra đi

đem tiếng rao tung vãi khắp phố phường

và khi cắp sách đến trường học được dăm ba chữ

tôi mới hiểu được phần nào những gì mẹ cưu mang

 

Đêm nay qua phố-phố ngủ chìm trong sương

tiếng guốc ai xa gõ nhịp cuối đường

nghe thân thương một tiếng rao trong như giọt nước

Một dấu hỏi lại rơi vào khoảng không

cuộn tròn theo chân bước

như duyên nợ từ muôn kiếp trước

nếu vắng người – phố nhỏ biếng trầm tư

Đêm nay tôi đi tìm ký ức tuổi thơ rơi

nhặt lại mảnh trời xưa mẹ gọi

đêm nay phố đi ngủ , và tôi đi trong cơn mơ của người

Đêm nay mẹ tôi ngủ

Tôi đi tìm hộ mẹ quãng đời

Không như ngày xưa con ngủ, mẹ đi

Con đi nhặt lại những lời mẹ xưa

Tiếng rao giờ biết của ai

Ngàn câu hỏi ấy

giờ này ở đâu ?!!!

.

PhạmPhù Sa

 

 

Pleiku Ngày Cỏ Hẹn

* Thân mến tặng Các bạn Văn nghệ GiaLai-

* Mừng Sinh nhật lần thứ 82 của Thành phố PLeiku

Bụi lầm từ buổi chia ly

Ngày về khản giọng chim Ri nhớ rừng…”

 

Cơn gió vô thanh thổi suốt hành trình

Thông thốc bụi đường, tung mù ký ức

Cơn gió vô tình quất vào đời ta thuở trước

bằng triệu triệu con roi mót,

còn đau rưng rức bây giờ…

Dã quỳ xưa vẫn trải nắng bên rào,

mà gió đâu cứ ầm ào xao xác

Ngọn kiếm mang hình lá thông nhọn hoắc ,

xuyên suốt  đời ta một thì xuân xanh…

Rát rạt đời em – đời ta – chớp bể mưa nguồn

Chiếc vòng cầu hôn, căn gác nhà sàn

Hiển hiện lên khuôn mặt thôi miên,

khuôn mặt thần tiên, MariA thánh thiện.

Gió không mang theo lời kinh nguyện

mà mang hình giọt sương chuông ,

lay rung thánh thót giáo đường,

rớt xuống đầm đìa Biển Hồ không cạn.

Là biển mà chẳng khi sóng trào , muối mặn.

Thà như em – mùa biển động,

cứ triều dâng cuồn cuộn, cho suối sông lũ cuốn,

để  mặn tràn nước mắt đặc phù sa.

Em hồ thu dậy sóng giang hà,

em rượu cần cho đời ta bão giật!

Ta nghe sử thi âm vang huyền hoặc,

nhà Rông sáng đuốc, chiêng cồng rưng rức thung xa.

Ta như chú nai tơ lạc giữa rừng già

, đắm đuối cỏ non, vàng thông trút lá

Xanh núi, xanh rừng, xanh hồn tượng đá.

Phố người dưng, ta cơn gió lạ

Chiều hôm phóng đãng rong chơi.

Con đường đưa ta ngược chân mây,

nẻo thiên đường lượn giồi như sóng .

Sơn nữ chân trần não nùng thổ cẩm.

Rừng rú em – đồng bóng đến sa đà !

Huyền hoặc em – ánh mắt cánh rừng xa,

thảng thốt  Sơn ca xao vàng cõi vắng.

Phố núi ngày về trời không ươm nắng,

và con nai ngày xưa đã già.

Gõ gót vô hồi nhịp phách ngày qua,

ném vào giấc đêm những khuyên tròn tĩnh lặng,

Phố khuya hoàng hôn trăng.

Một nốt trầm khan rơi trên cung đàn.

Gió đại ngàn hoà âm

Tình – ca – tây – nguyên .

 

Phạm phù Sa ( Hội An)

Pleiku  –  Tháng ba Tây nguyên

 

Ăn Chay Có Thể Chống Lại Phóng Xạ Bom Nguyên Tử

Ngày 9.8.1945, Mỹ thả một quả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki sau khi đã thả 1 trái vào thành phố Hiroshima vào ngày 8.8.1945.
Ở Nagasaki, phần lớn dân chúng bị nhiễm phóng xạ chết rất nhiều; duy có bệnhviện Urakami do bác sĩ AKIZUKI làm giám đốc thì hoàn thể nhân viên và bệnh nhân
đều bình an không bị nhiễm phóng xạ. Ban đầu người ta tưởng đó là một phép lạ vì bệnh viện đóng  tại tu viện của dòng “Franciscain”.

Song sau đó người ta mới biết do bác sĩ AKIZUKI đã nuôi dưỡng mọi người bằng một loại thực đơn đặc biệt hoàn toàn chay gồm : có gạo lứt (còn cám chưa giã trắng),
xúp Viso (tương đậu nành đặc), rong biển (sea vegetable) và vài món ăn dương tính khác, trong đó có đậu đỏ (aduki bean). (1)  

Ông cấm ngặt dùng đường (sugar) vì rất âm và làm máu xấu.
Sau này các khoa học gia Nhật tìm thấy chất Zybicolin có trong tương đậu nành(soÄa) có tác dụng loại bỏ các chất độc kim loại, hóa chất và phóng xạ ra khỏi
cơ thể con người cũng như có thể giải chất độc “nicotine” của thuốc lá. (2)
Còn trong gạo lứt có chất “glutation” cũng có tác dụng chống lại các loại phóng xạ. (3)
Nếu chúng ta không ăn như thế thì khi bị phóng xạ, cách ăn uống để chữa bệnh như thế nào ? Cách chữa của phái thực dưỡng (macubitic) và cũng được các
bác sĩ y khoa tại Nagasaki áp dụng là :
Bệnh nhiễm phóng xạ có những biến chứng như sau :
Cháy ngoài da, tóc, môi, miệng.
Đau bao tử, đại tiện ra máu, chảy máu răng, ói mửa, rụng tóc, da bị xuất huyết
(như bị sốt xuất huyết).
Nhìn vào họng màu tím. Tất cả đều là cực âm. Vì vậy cách chữa thông thường là :

thoa dầu mè lên da và tóc.
Cấp tốc cho uống một dung lượng nước hòa muối mặn.
Cho ăn cơm gạo lứt trộn muối. Rang gạo lứt rồi nấu cơm, xay bột gạo lứt rang  khuấy uống, cơm chiên gạo lứt, nghĩa là dương hóa gạo lứt.
Ăn xúp Viso (tương đặc) mặn + rong biển.
Dùng tương nước (tameri) và muối thiên nhiên không biến chế qua kỹ  nghệ chế biến thực phẩm.
Sau 40 ngày, các triệu chứng ói mửa, đại tiện ra máu chấm dứt và tóc  ngừng rụng.
Sau này người ta tìm ra thêm vài loại thực phẩm khác để chống lại phóng xạ như :

Là chè (tea) loại già 3 năm (tiếng Nhật gọi là bancha) hoặc trà xanh (green tea) trị xuất huyết dạ dày, ruột, não và suy yếu mao mạch.
Rễ cây bồ công anh (dandelion) sao vàng cầm máu (tôi đã áp dụng trị máu cam, máu răng, trĩ ra máu có sinh tố A và chất K (potassium) rất nhiều ngừa ung thư.
Dùng chanh muối làm nước uống, ăn cả vỏ trái chanh. (4)

Theo G. OHSAWA có thể cải tạo màu trong 10 ngày bằng cách ăn thực đơn số 7 (gạo lứt + muối mè) rồi ăn uống theo cách chữa phóng xạ. (5) Có thể uống thêm trà mu
(16 vị thuốc bắc) (6) rất dương và sâm (ginseng) mỗi ngày để giúp bệnh mau lành.
Và bồi dưỡng bằng các loại ăn có nhiều sinh tố và khoáng chất.

CƯỚC CHÚ :
(1) Xem Tatsuichiro Akizuki : Nagasaki 1945, bản dịch tiếng Anh KEIICHI NAGATA,
Nhà xuất bản GORDON HONEYCOMBE – LONDON QUARTET BOOKS 1981.
(2) Xem “Phương pháp thực dưỡng OHSAWA”, anh Minh Diệu Hạnh 1972 – Việt Nam .
(3) Xem “ăn uống và bệnh tật”, Bác sĩ Lê Minh, 1987 – Việt Nam .
(4) Xem “Zen và ý thức nói về ăn chay”, Thái Khắc Lễ (trang 413 và 443)
(5) Theo OHSAWA phải ăn thực đơn số 7 trong 3 tháng. (trang 267 sách này)
(6) Mua ở Macrobiotic Food hay Health Food.
——————————-
 Trích tạp chí Chánh Tâm, số 12, tháng 5/1999 do Hội Phật Giáo VN tại
Queensland, Australia phát hành.
Phạm Phù Sa sưu tầm

Phố Trăng

Cứ mỗi rằm Phố cổ lại vàng hơn

Phơ  phất ngàn cây bềnh bồng lụa trải

Lấp lánh Hoài Giang suối vàng êm chảy

Chưa vào thu sao cúc rựng lưng trời ?

Thu đi qua trên mái phố rạng ngời

Nhuộm sắc tươi lên từng con đường nhỏ

Thu rải mật trên tường rêu mái phố

cứ  vàng mơ theo mỗi độ mùa nhen

Trăng phiêu du nơi cuối bể non cùng

Về  góp hào quang thêm hồng trang thiên  kỷ

Thêm lung linh ánh đèn lồng  phố  thị

Để mắt người thương vương nắng ấm xuân nồng

Tay trong tay khi vũ trụ lên đèn

Xây mơ  ước bên vành trăng đầy tháng

Hoa hạnh phúc trên môi em bừng rạng

Sóng triều dâng lai láng đôi bờ

Trăng này  đây là trăng đợi, trăng chờ

Của ngàn xưa và ngàn sau chung bóng

Trong tiếng chuông ngân, trầm hương khói quyện

Trăng đêm này – trăng hiển của ngàn đêm

Thắp  đời tình lên mỗi ngọn hoa đăng

Gởi  trong gió lời tâm thành khấn nguyện

Em thả ngọn sầu riêng trôi theo sóng

Có  vầng trăng minh chứng chuyện đôi mình

Sông không trăng sông cũng dỗi hờn

Đêm không phố, đêm quầng thâm nỗi nhớ

Trăng với Phố như là duyên, là nợ

Như  anh với em, hoa nở một rằm xuân

Xa Cửa  Đợi –Sông Hoài, xa phố  người thương

Anh tương tư  những mùa trăng tao ngộ

Đêm từng đêm neo hồn bên góc phố

Nghe sóng ru hời  rào rạt tình em !

.

Phạm Phù Sa

Tiếng vĩ cầm của gió

Nghệ sĩ vĩ cầm Taro Hakase

Tiếng vĩ cầm rít lên

xé toang màn đêm

băng qua đại dương

vượt trùng trùng biên giới

 

Nào những cơn đại hồng thuỷ đại hắc thuỷ

những cuồng ba ma quỷ khốc tàn

những bức tường nước cao mười, mươi lăm mét

những hãi hùng tiếng thét, những nung rung ầm ì trong ruột đất

những cái miệng há toác mở toang huyệt lạnh hoang mồ

Tháng ba

tiếng vĩ cầm của Taro Hakase (1) từ Luân Đôn

Hồn Hoa Anh Đào tím bầm phương mặt trời mọc !

 

Tôi lại nghe tiếng vĩ cầm

tịch u màu đêm tang tóc

những nguyên tử hạt nhân, napan, đại bác

những cột lửa chọc trời tàn độc

tiếng xương rơi, da thịt khét nồng

những làng quê xác xơ

những khuôn mặt người hằng đêm hiện về trong ký ức

những đôi mắt xanh ngơ ngác hỏi vì sao ?!!!

Tháng ba

tiếng vĩ cầm của Roy Mike Boehm (2)

cất lên từ dưới chân tượng đài Mỹ Lai

trải khúc hồng hoa Washington lên nửa ngàn nấm mồ Sơn Mỹ (3 )

 

Tiếng đàn ở hai đầu thế kỷ

phương đông và phương tây

tiếng vĩ cầm của hai người nghệ sỹ

sóng nhạc tràn chân mây

Những nốt nhạc mang theo tiếng gió hú trùng dương và lời của sóng

của  âm tần rung chấn, của nứt vỡ thuỷ tinh, lửa và súng

từ thiên nhiên và con người

giọt giọt đàn rơi

giọt giọt chuông thay lời kinh nguyện

suối nhạc lấp tràn mọi mạch ngầm nứt vỡ

đi qua bao bồi lỡ phận người

Trên giọt đàn rơi

đầu ngón tay bật máu

một dấu lặng cắm vào tim tôi

chạm đáy.

.

Phạm Phù Sa

( tháng 3/2011 )

 

(1) Nghệ sỹ violon nổi tiếng gốc Nhật Bản. Sau thiên tai động đất- sóng thần kinh hoàng ở Nhật Bản ngày 11/3 vừa qua, anh đã tổ chức một buổi hòa nhạc từ thiện bên vỉa hè, tại thủ đô London nơi anh sinh sống để gây quỹ ủng hộ các nạn nhân tại quê nhà.

 

(2) Cựu Binh Mỹ ở chiến trường Việt Nam. Sau chiến tranh, hàng năm cứ đến ngày 16/3 ông cùng những người bạn lại đến Mỹ Lai dâng hoa tưởng niệm và chơi đàn Violon chiêu hồn sám hối  dưới chân tượng đài với thông điệp vì một thế giới hòa bình

(3) Xã Sơn Mỹ , thôn Mỹ Lai, nơi ngày 504 đồng bào Sơn Mỹ bị thảm sát ngày 16/3/1968

Chim Nhỏ Mồ Côi

*  Kính  mẹ yêu của con và những người mẹ Việt quá vãng.

* Riêng tặng chị Huỳnh Huệ nhân lễ thất tuần thân mẫu và những ai không còn mẹ

Tàn thu, gió trở mùa

trời lất phất mưa

ao ạt gió lùa,

sầu đông vàng rơi đầy ngõ

sàng cây thân quen còn đó

mà lòng bỗng hoá người dưng

Con về đây sao lặng lẽ quá chừng

đã sang đông sao cúc tần không vàng hoa đón tết ?

vắng tiếng guốc khua trên nền gạch

như vừa hôm qua, chiếc chõng tre ọp ẹp

bên hiên áo trắng mẹ ngồi !

 

Đêm cô đơn vì thiếu mặt trời

Con – chim nhỏ lạc bầy vì thiếu mẹ

còn đâu tiếng gọi con khe khẽ

đêm khuya nghe tiếng chân về

như vừa hôm qua,

bàn viết con ngồi khuất ánh đèn che

vẫn không làm người yên giấc

tàn đêm bóng gầy in lên vách

tiếng thở dài lê thê

 

Trời trở heo may tuổi già hành hạ mẹ

tiễn đưa một thời son trẻ

vì con thân thể hao mòn

trên giường bệnh mẹ nằm

cơn ho xối xả từng cơn

con nghe trăm vạn Ngũ hành sơn đè lên ngực

muối xát lòng con nhưng biết làm sao được

vai rộng lưng dài mà đành bất lực

nguyện cầu trời thôi bão tố phong ba

 

Nay mẹ bỏ con rồi, ra đi thật xa

con côi cút bên cõi đời quạnh quẽ

xuân này – mùa xuân đầu tiên con không còn mẹ

ngập hồn con muôn vạn nấm hoang mồ

mẹ bỏ con rồi, về nơi thật xa

bên lối nhỏ đâu còn ai ngóng đợi

thèm bàn tay vuốt ve làn tóc rối

Cho con cứ dại khờ như thuở lên ba

 

Câu hát mẹ ru con từ thuở rất xa

như còn đâu đây trong căn nhà nhỏ

Bồng con mà bỏ vô nôi

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi Chợ Quán Chợ Cầu

Mua cau Bất Nhị, mua trầu Hội An

 

Nhìn lên nghi ngút khói nhang

lời ru sao cứ xốn xang những chiều …

.

Phạm Phù Sa

(Tháng 11/1994)

 

 

 

Sao Băng Trên Đỉnh Phong Kiều

Di ảnh cư sĩ Phạm Công Thiện

Nhà văn,  nhà thơ, nhà tư tưởng, dịch giả, giáo sư, cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện vừa qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, thọ 71 tuổi.

Ông tên thật là Phạm Công Thiện, thời trẻ còn có bút hiệu Hoàng Thu Uyên cho các tác phẩm dịch, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Thiên Chúa giáo.

Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh Ngữ Tinh Âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ.

Từ những năm cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn.

Ðầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc “khủng hoảng tinh thần.”

Tại đây ông quy y ở chùa Hải Ðức, lấy pháp danh Nguyên Tánh.

Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.

Từ năm 1966-1968, ông là giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Ðại Học Vạn Hạnh.

Từ năm 1968-1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Cố cư sĩ Phạm Công Thiện người thanh niên Việt Nam trong kiếp sống tha phương thời thập niên 70

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Ðức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông trút áo cà sa để lấy vợ và sau đó làm giáo sư Triết học Tây phương của viện Ðại Học Toulouse.

Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, giữ chức giáo sư viện Phật Giáo College of Buddhist Studies.

Từ khoảng năm 2005, ông sang cư ngụ tại Houston, tiểu bang Texas cho đến ngày ông qua đời.

Giữa thập niên 1960, Giáo Sư Phạm Công Thiện bắt đầu nổi tiếng với các tác phẩm xuất bản tại Sài Gòn, mà cuốn đầu tiên gây chú ý nhiều cho giới vănnghệ và thanh niên sinh viên là Ý Thức Mới Trong Văn nghệ và Triết Học(1965), rồi đến Yên Lặng Hố Thẳm (1967), Hố Thẳm Của Tư Tưởng (1967), Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực(1967).

Về tôn giáo có “Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, Tổ sư Thiền Tông” (1964), thơ thì có “Ngày sinh của rắn” (1967), các tác phẩm văn học thiên về tư tưởng: “Trời tháng Tư” (1966), “Bay đi những cơn mưa phùn” (1970).

Tất cả các tác phẩm này đều do hai nhà An Tiêm và Lá Bối tại Sài Gòn ấn hành.

Tại hải ngoại ông đã xuất bản khoảng mười tác phẩm, hầu hết trong thập niên 1990, như Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất (1988), Sự Chuyển Ðộng Toàn Diện Của Tâm Thức Trong Tư Tưởng Phật Giáo (1994),Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên (1995), Tinh Túy Trong Sáng Của Ðạo Lý Phật Giáo (1998), v.v…

Ông cũng đóng góp nhiều cho báo chí, chẳng hạn viết cho tạp chí Thế Kỷ 21, nhật báo Người Việt.

Có thể nói, tác phẩm cuối cùng của ông là bài viết cho Giai Phẩm Xuân Người Việt 2011.

Từ khi còn rất trẻ cho đến cuối đời, Phạm Công Thiện đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa Việt Nam về các phương diện ngôn ngữ, thơ, văn và đặc biệt về tư tưởng triết học.

Ðối với Phật Giáo ông cũng là người có công lớn với các công trình nghiên cứu Phật học, và đặc biệt, đã góp nhiều công sức xây dựng viện Ðại Học Phật Giáo Việt Nam đầu tiên Vạn Hạnh tại Sài Gòn từ năm 1966, trong đó có tập san Tư Tưởng là cơ quan phát huy tư tưởng Phật Giáo quan trọng nhất của Việt Nam trong thời cận đại.

Theo http://www.phattuvietnam.net

– Lễ Hoả táng lúc 1:30 chiều Chủ Nhật ngày 13/3/2011. tại Hoa Kỳ
– Ngày 15.3.2011, tại chùa Già Lam (TP.HCM) sẽ tổ chức lễ cầu siêu cho ông.

Là kẻ hậu sinh, dẫu chỉ được  được đọc dăm ba trang viết trong kho tàng vô giá của ông. Quý trọng một tâm hồn, một tài năng đất Việt, ngày hoả táng ông( 13/3) Phạm Phù sa đã chắt những câu thơ bằng ngôn từ phàm quê kiểng,  mạn phép tiên sinh góp”Chút tro than vun tưới mộ phần” tiễn đưa người về chốn an nhiên.

SAO BĂNG TRÊN ĐỈNH PHONG KIỀU

* Cung tiễn GS- nhà văn -nhà triết học Phạm Công Thiện

.

Một Bùi Giáng

một Nguyễn Tôn Nhan

một Phạm Công Thiện

về cõi niết bàn

 

và sẽ còn ai nữa

mở cổng  thiên đàng …

Họ

Những người điên say chữ

Khêu đuốc thiền trong thế giới u linh

Những ngọn lửa mật ngôn thổi bùng cơn thoát tục

Những hồi chuông tuệ mẫn khai kinh

Nhìn đời bằng nhãn quan quán thế

Bằng những cái điên theo kiểu riêng mình

 

Họ thành danh khi tôi chưa khai sinh

Có người

chỉ mới nghe tên , chưa lần gặp mặt

Có người

đôi chung hiếm hoi trà dư tửu thiểu

tàng thư kinh các ngộ đa phần

 

Tôi nay

hạt cát phàm trần khóc ánh sao băng

nghe sa mạc cuồng nung lửa hạ

Ở nơi nào rất xa đầy hoa và cỏ lạ

mặt trời hiền như trăng

trên đỉnh phong kiều trắng phơ  lụa trải *

một linh hồn vừa hoá thiên thu

 

Đêm nay

trần gian tôi kính người chung biệt tửu

Rót vào thinh không

Chút tro than vun tưới mộ phần.

.

PHẠM PHÙ SA

( 13/3/2011)

*“Ðã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Ðã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều…”

( Thơ Phạm Công Thiện)

Thơ Viết Cho Mùa- Bài Không Tên Cuối Cho Đông

Sau một thời gian lâm bệnh nặng, cô giáo Lê Thị Thu Đông -giáo viên dạy Hóa trường THPT Sào Nam, huyện Duy Xuyên ( người mà Phạm Phù Sa đã có bài thơ “Thơ viết cho mùa” riêng tặng cô giáo, “Văn Thơ Việt” và”Lá lành đùm lá rách” đã đăng ngày 18-11-2010 ) đã từ trần hồi 06 giờ 00 ngày 05 tháng 03 năm 2011 (nhằm ngày 01 tháng hai năm Tân Mão) tại nhà riêng, hưởng dương 32 tuổi. Cô đã vĩnh viễn yên nghĩ tại quê nhà (nghĩa trang Nỗng Ngàn xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) lúc 07 giờ 30 ngày mồng 4 tháng Hai năm Tân Mão- đúng vào ngày 08 tháng 03 năm 2011 – Ngày Quốc tế phụ nữ . Tôi đang dự định sẽ nhờ một số trang Web Từ thiện kêu gọi giúp đõ Đông để điều trị, nhưng công việc đang tiến hành thì Đông đã không còn.

Trong đám tang, Phạm Phù Sa đã cảm tác bài thơ “Bài không tên cuối cho Đông” ( chưa kịp đặt tên). Xin gởi bài thơ đến bạn đọc đã từng chia sẻ với  Phạm Phù Sa và Thu Đông qua bài thơ “TVCM” để cùng hướng vọng tiễn đưa.

Sao Thu Đông lại ra đi vào ngày 8/3 kia chứ?

THƠ VIẾT CHO MÙA

(Riêng tặng Lê thị Thu Đông)

Tôi có người em
Lê thị Thu Đông
Cô giáo làng
bên dòng Thu gió nổi
những bấc chướng, sấm giăng
triều dâng sóng dội
như tuổi thơ buồn
Đêm ký ức mù sương

Vàng thu rơi
xao xác lá sân trường
mơ cúc vườn xưa, rằm trăng tháng tám
Một giọt ngâu
cũng hồ xao biển động
gót nhỏ bờ quê nghe nhói những con đường

Điệu hát mồ côi
ru
tái tê lòng !
Mái lá nhà tranh tư bề gió lộng
trái ầu ơ …chiều nao lũ cuốn
Mẹ sinh em ra
một chiều cuối năm

Giọt phù sa nuôi em lớn lên
nợ hạt lúa, củ khoai
em đi làm cô giáo
Niềm vui chưa chạm ngõ

Sỏi đá quặn đau qua vòng bánh xe lăn
mỗi khoảnh khắc trôi
ngọn đèn trước gió
Còn máu trong tim còn niềm trăn trở
Em
đi gieo những hạt vàng
cho bình minh khai sinh

Em-
ngọn đèn khơi trong trái tim mình
thắp lên những mùa vui rộn rã
cho mắt lá thêm xanh
trống trường thêm giục giã
mơ ước thêm trong, trang sách thêm hồng

Ta
nửa đời chẳng thiếu long đong
với một đời sông bên bồi bên lở
năm tháng ruổi rong
lắm quên nhiều nhớ
bỗng trĩu hồn theo những hạt mưa đông

Một mình em đứng lại
đợi sang sông !
Đợi đến phũ phàng những bão giông nghiệt ngã
Sợ Đông sẽ tàn
hoàng hôn trôi vội vã
Nên bài thơ
Tôi
hối hả
viết – cho – mùa.

Phạm Phù Sa

( 2008 )

**Lê thị Thu Đông sinh 1979  là giáo viên dạy Hóa, Trường PTTH Sào Nam huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Bị bệnh ung thư xương từ năm 2004 khi cô gái đang nuôi dưỡng những ước vọng lớn lao cho đời mình, đâu biết rằng định mệnh gọi đúng tên mình. Bệnh tật, ngồi xe lăn nhưng Đông vẫn đều đặn đến trường vì đàn em thân yêu, tích cực tham gia các hoạt động phong trào, cống hiến sức mình cho xã hội, cho nhà trường

BÀI KHÔNG TÊN CUỐI CHO MÙA

* Thành tâm chia buồn cùng gia đình và tang quyến
* Cầu nguyện vong linh Thu Đông siêu thoát

Những cánh chim câu trắng ngày xưa đã tung cánh phương trời
bỏ lại mình em bên triền sông gió nổi
và rồi , em cũng ra đi sau hơn hai ngàn năm trăm ngày chờ đợi
từ ngày số phận gọi tên

“Một mình em đứng lại
đợi sang sông !
Đợi đến phũ phàng những bão giông nghiệt ngã
Sợ Đông sẽ tàn
hoàng hôn trôi vội vã
Nên bài thơ
Tôi
hối hả
viết – cho – mùa”.

Câu thơ năm xưa nét mực chưa nhòa
mờ ảo hơi sương, dập dềnh như sóng
cứ ám ảnh tôi những sớm hanh chiều muộn
hắt hiu sông buồn đợi ngày  phong ba
Nhưng tôi có vội vàng chi rồi Đông cũng đi xa
sáng nay
mặt trời mây che
hoàng hôn rụng  rồi -bên kia núi
biết rồi em sẽ đi nên tôi cứ vội
cũng chẳng níu được thời gian ngừng trôi
Phũ phàng chi này hỡi Đông ơi !
ba mươi hai tuổi đời
bảy năm khắc khoải đợi chờ định mệnh
vẫn tin, vẫn chờ một phép màu huyền nhiệm
mà Tiên Phật vô tình , chúa cũng nỡ quay lưng

Đã vắng từ nay bóng dáng thân quen
đâu nữa bạn bè, người thân, thầy yêu bạn mến
tiếng giảng bài rơi vào xa vắng
ngơ ngác trường xưa đàn em thân yêu…
Duy Trung em tôi đến một chiều
biển yên mà sấm động
nghe dâng lũ tràn và bão giông!
Ngày tám tháng ba người tặng hoa cho nhau
Em im lìm bên rừng hoa huệ trắng
trời Quảng Nam hôm nay đột nhiên trở lạnh
khóc ai  mà mưa rơi ?!…

Vội vàng chi rồi em cũng đi thôi
Tôi tiễn em đi với vành thơ khô lệ
câu thơ ướt rồi khô từ dạo ấy
xác xơ chiều, đau những dấu chim ri…
một thiên thần đã mây khói bay đi
vai hạc đó, tinh khôi thời áo trắng
nụ cười tươi rạng ngời di ảnh
tôi không khóc
sao tràn môi vị mặn
nến nhang ơi,
nói hộ tôi câu thơ cầu nguyện
Cúi tạ người
Trùng biệt THU ĐÔNG. !
.

Phạm Phù Sa
( 20h00 -7/3/2011- viết trong đám tang Thu Đông )

 

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ THU ĐÔNG

1/ Với Cô giáo cũ Ngọc Thuý

2/ Với Nghệ sĩ ngâm thơ Ngọc Sang ( TP Hồ Chí Minh)

Khúc Tự Thoại Tám Tháng Ba


Tung thơ lên tận thiên hà

Nửa đời dệt gấm thêu hoa phương nào

Giật mình nghĩ lại mà đau

Bấy lâu chẳng có nửa câu cho nhà

Làm thơ khen khắp người ta

Mà không khen để cho nhà mình vui

Bạc đầu những chuyện đâu đâu

Lửng lơ chi những nông- sâu -khuyết- tròn

Cái cò lặn lội bờ sông

Úp mặt xuống đồng cõng nắng trên lưng

Cho thơ mặn muối cay gừng

Đọt rau muống, bát cơm lưng cuối mùa…

Thơ tôi đẫm những cơn mưa

lẫn trong tiếng sấm gió lùa đầu truông

Đem thơ tôi thả lên nguồn

Giữa đêm vọng tiếng ru buồn thiết tha

Lời ru trở giấc tháng ba

Chao nghiêng vòm lá sau nhà -lung linh

Làm thơ khen nửa hành tinh

Mà không dám viết cho mình, mình ơi!

Tằm tơ ruột đã cạn rồi

Ơn dâu tôi trả một đời không xong.

.

Phạm Phù Sa

Giai Thoại Về Một Bài Hát Ru Xứ Quảng

Trong kho tàng văn nghệ dân gian Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng có không ít câu hò, lời hát được nhiều người, nhiều vùng đất biết đến. Nhưng liệu mấy ai biết xuất xứ từ đâu, và không dễ biết tác giả là ai, bởi đặc trưng của Văn nghệ dân gian là truyền khẩu. Do vậy, không ai nghĩ đến việc phải đi tìm tác giả của một câu ca dao, một bài vè hoặc một câu hát ru, bởi việc ấy là quá khó. Ấy vậy mà tình cờ tôi được một nữ lão nghệ nhân của một đội hát hò khoan ứng đáp trong lúc say chuyện đã kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện về những câu hát ứng tác của những nghệ nhân xưa mà chính bà ta là chứng nhân, là người trong cuộc. Có lẽ tôi là người hiếm hoi được cái may mắn ấy. Cái may mắn được biết hoàn cảnh ra đời bài hát ru gan ruột của Đất Quảng đã tồn tại qua nhiều thế hệ người, đã quá phổ biến trong dân gian, bài hát mà các nghệ nhân cho rằng mẫu mực trong thể loại hát sinh tử, một trong những nội dung trong loại hình hát Hò khoan, một loại hình sinh hoạt Văn nghệ dân gian miền sông nước nhiều thập niên trước, là món ăn tinh thần không thể thiếu ở nông thôn xứ Quảng ngày xưa mà cho đến nay còn và có quá nhiều người thuộc.

Thời ấy, những nghệ nhân hát hò khoan ứng đáp giỏi, nổi danh khắp vùng thường được mời đi Hát ở nhiều nơi, có khi ra đến tỉnh bạn. Trong giới “ngôi sao” ngày đó hẳn không thể thiếu tên tuổi ông giáo Lương, dân khắp vùng chẳng ai không nghe tên biết tiếng. (Có lẽ lúc ấy ông cũng là một ông giáo làng nên người ta mới gọi thế.) Ông tên thật là Phạm Đình Lương, quê ở thôn Cẩm Sa, huyện Điện Bàn ( một địa danh thuộc xã Điện Nam, huyện Điện Bàn bây giờ ).

Theo bà lão nghệ nhân thì ông rất giỏi ứng biến, sáng tạo trong hát đối đáp, nhiều tình huống đối phương ra vế đối quá khó, tưởng chừng đội nhà sẽ thua cuộc nhưng nhờ tài năng của ông đã chuyển bại thành thắng, buộc đối thủ phải tâm phục, khẩu phục.

Một bận, nhân dịp rảnh rỗi, ông ghé thăm nhà một người cháu trong tộc tên là Phạm Đình Tỳ (Hai Tỳ). Thời điểm này vợ ông Hai Tỳ vừa mới mất trong một cơn bạo bệnh, để lại một gia cảnh bời bời, con cái nheo nhóc với 3 đứa trẻ thơ mà đứa bé nhất hãy còn nằm nôi. Vừa đến đầu ngõ ông đã nghe tiếng trẻ khóc thét lên trong cơn khát sữa, mặc cho người cha ru nôi hò hụi khản cả cổ, vã cả mồ hôi mà tiếng khóc càng lúc càng như xé ruột khiến người nghe như lửa đốt trong lòng.

Vào nhà, chứng kiến cảnh gà trống nuôi con, nhà cửa nhếch nhác, bừa bộn do thiếu vắng bàn tay người phụ nữ. Cảm thương người cháu tội nghiệp phải vất vả trăm bề, xót xa cho cháu bé còn đỏ hỏn phải sớm lìa mẹ, chịu phận cút côi. Cảnh tình ấy như một động lực thúc đẩy, một chất xúc tác cực mạnh khơi dậy mạch nguồn sáng tạo trong con người nghệ sỹ công chúng Phạm Đình Lương. Cầm lòng chẳng đặng, ông bèn bước lại giành lấy tao nôi, vừa ru cháu, vừa ứng tác hát luôn:

” Nơi chín suối em vào miền hạc lộ

Cảnh dương trần anh gánh cõi trần ai

Đêm năm canh nước mắt láng lai

Tay anh bồng con dại, miệng anh nhai hột (1) ngọc trời

Phần cha không sữa con ơi

Nhai cơm suốn(2) nước, con ăn chơi cho cha nhờ

Con còn non sữa(3) ấu thơ

Tay cha ru, miệng cha hát ầu  ơ năm canh trường

Bồng con mà để trên giường

Con ơi, con hỡi không biết thương cha rày !

Cha ru con đà mỏi hai tay

Hay là con nhớ mẹ đêm ngày con khóc luôn

Vừa ru, cha vừa hát, vừa hun(4)

Thấy con thêm đau ruột, lệ cha tuôn hai hàng

Ngó  vô trong cảnh gia đàng

Nhơn sầu, cảnh dị(5) , hoa tàn, nhuỵ khô

Một mình quày(6) quả ra vô

Bải nước trầu còn đó, mẹ  con đi mô không thấy về

Hay là em ly biệt phu thê

Em hẹn hò non nước, bỏ  bê chốn dương trần(7)

Em đi đâu bỏ nợ bỏ nần

Bỏ  con thơ kêu khóc, khổ  chín mười phần em ơi !

Ngắn hơi kêu chẳng thấu trời

Trên dương gian, dưới âm phủ  đôi nơi khó tìm…”

Bài hát miêu tả tâm trạng, gia cảnh người cháu rất thực, rất xúc động, nhưng tôi có cảm giác như độ dài của nó không phải chỉ chừng ấy. Khi tôi nêu nghi vấn này thì người nghệ nhân cao tuổi ấy quả quyết rằng bài hát chỉ có thế. Để bảo vệ cho lập luận của mình, bà lý giải : “Tôi là cháu bà con bên ngoại với ông hai Tỳ, là người nhà và có mặt ngay lúc ông giáo Lương đến nhà, tôi chứng kiến từ đầu chí cuối và vẫn nhớ như in, lúc đó tôi đã 14 tuổi rồi còn gì ! sở dĩ bài hát kết thúc đột ngột là vì sao chú biết không ?”

Khi thấy tôi háo hức muốn biết thực hư thế nào, bà thư thả như để thử tài suy đoán của tôi rồi tiếp :“Khi hát tới đó thì đứa bé đã nín khóc và ngủ say nên ông chỉ nhè nhẹ đưa nôi chứ không tiếp tục hát nữa. Do đó bài hát chỉ có chừng đó thôi “.

Quái lạ, Không hiểu vì lẽ gì, do giọng ru truyền cảm  hay một tác động mang yếu tố tâm linh thiêng liêng nào đó mà đứa bé cảm nhận được chăng ? Tôi băn khoăn mãi, bài hát chỉ vỏn vẹn có 24 câu mà đủ thời gian cho đứa bé ngủ say hay sao ?! Sau này khi đi sâu vào tìm hiểu về nhạc tính trong dân ca tôi mới biết là trong hát ru, một chữ, một câu hát thường được kéo dài ra bằng những từ đệm, những nguyên âm như  A…à… …ơi…ớ …ơ… và cái đuôi rall nhẹ ở âm tiết cuối mỗi câu. Hơn nữa, những luyến láy, những khoảng lặng, những tái câu, tái đoạn v.v…được sử dụng thường xuyên, cho nên 24 câu ngắn ngủi trở thành bản trường ca đủ thời lượng trải dài trong không gian êm ả của tiếng hát ru. Và khi tôi hỏi lý do làm sao để một bài hát “ngẫu hứng đột xuất ” không văn bản như thế lại được người ta nhớ và được phổ biến, lưu truyền, thì được bà cho biết : “Khi thấy ông giáo bước đến cầm tao nôi, ông Hai Tỳ biết sẽ được nghe những câu hát mới do tài kiến tại của ông Lương, cho nên ông bảo người con lớn đem giấy bút ra cùng ông ngồi chép lại tại chỗ từng câu”.

Quả nhiên, việc làm của cha con người cháu bất hạnh ấy không uổng phí. Một tác phẩm xuất thần gây rung động lòng người nhờ vậy đã không bị đi vào quên lãng. Và theo quy luật, cái gì thuộc về nghệ thuật, về văn hóa một khi đã thẩm thấu được thì tất nhiên sẽ tồn tại. Đúng là như thế, bài hát “sinh tử” này từ lâu tôi đã được nghe mẹ tôi hát, nghe nhiều người hát trên cả mọi vùng đất ở tỉnh Quảng Nam, và không biết nó còn bay xa đến tận đâu. Bài hát mà dù đã nghìn vạn lần nghe, mà mỗi lần như thế tôi đều thấy lòng  trĩu xuống, rưng rức khôn nguôi. Bài hát đã đi vào công chúng, sống ở đó và góp phần cảm hóa, thanh lọc tâm hồn bao thế hệ người, làm phong phú thêm đời sống tình cảm con người, làm giàu có thêm cái nền đạo đức của xã hội, góp một hạt ngọc thô mà vô cùng quý giá cho nền văn học dân gian của dân tộc.

Một chi tiết thú vị khác được bà Huệ cho biết là một trong 3 người con của ông Hai Tỳ thuở ấy hiện nay đang sinh sống tại Thành phố Đà Nẵng ( quận 3 cũ ) nay là quận Ngũ Hành Sơn. Thêm một minh cứ để xác nhận rằng câu chuyện trên là có cơ sở. Biết đâu người ấy chính là đứa bé nằm nôi khát sữa năm xưa ? hay chính là người đã cùng cha chép lại bài hát ấy cũng không chừng. Đúng hay không, độ tin cậy là bao nhiêu ? liệu còn phát lộ thêm những hạt ngọc, những xâu chuỗi ngọc nào nữa? những câu hỏi đó chỉ các nhà folklore, những nhà chuyên môn, chuyên trách mới có thể trả lời.

Câu chuyện thú vị không ngờ, một giai thoại trong đời sống văn nghệ dân gian hiếm có không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Người kể chuyện: Bà Nguyễn Thị Huệ hiện nay đã hơn tám mươi tuổi, đang sống cùng con cháu tại khối 8 phường Thanh Hà thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, vẫn còn say mê hát hò khoan và đang là một thành viên của Đội Hò khoan ứng đáp của thành Phố. Một nhân chứng sống.

Quả là có cơ duyên nên trong một lần cao hứng hiếm hoi của người nghệ nhân già, tôi được nghe bà kể chuyện. Và thật đáng tiếc nếu một ngày nào đó, những nghệ nhân cao tuổi như bà Huệ lần lượt ra đi mà không kịp để lại cho con cháu bao điều còn nằm sâu trong ký ức, những báu vật vô giá mà chúng ta luôn miệt mài truy vấn khảo tìm. Và tôi cảm thấy mình mắc nợ, là có lỗi với tất cả, nếu không làm một cái gì đó trong khả năng có thể, chẳng hạn như ghi lại thật trung thực tình tiết câu chuyện, về bài hát ru có số phận kỳ lạ này.

Thiết nghĩ, cho dù là văn chương truyền miệng, nhưng khi đã có những cứ liệu thuyết phục thì việc trả lại tên cho người đã sáng tạo ra bài hát ru mẫu mực giàu tính nhân văn ấy là việc làm chính đáng lắm chứ ? Tại sao không ? !

.

Phạm Phù Sa

( Hội An – Quảng Nam)

Chú  thích :

(1)     hột: hạt cơm (thổ ngữ Q Nam )

(2)     mớm thức ăn đã nhai nhuyễn từ miệng cha sang miệng con

(3)     còn lâu nữa mới đủ tuổi cai sữa

(4)     hun : Hôn (thổ ngữ Q Nam )

(5)     người buồn sầu áo não, cảnh quạnh quẽ đổi thay

(6)     vội vã, hấp tấp, luôn vất vả bận rộn

(7)     có dị bản :

Hay là phu đã lìa thê

Em dạo chơi non nước, bỏ  bê chốn dương trần.

Chùm Thơ Tứ Tuyệt

MẸ

( Kính tặng Mẹ )

Mẹ gánh thời gian đi bán dạo

Tiếng rao khan, lăn mỏi mái hiên đời

Con thảng thốt nghe tiếng mình dội lại

Sương muối dãi dầu – ai mua giúp mẹ tôi !

.

HOA VĂN CỦA NHỮNG ĐÓA HOA VĂN

( Tưởng nhớ Cha và kính tặng những người thợ tài hoa của Phố cổ)

Như trầm luyện ngàn năm cho lõi thơm ròng ruột gió ( Dó )

Như sông quê mỡ màu âm thầm bồi đắp bãi bờ xanh

Người nghệ sĩ khắc miệt mài áo cơm và tình yêu mình lên tường rêu mái phố

Là lúc đem tài hoa thả giữa trần những tuyệt tác vô danh

.

XÍ MÀ (*)

Riêng tặng ông lão bán Xí mà

Đã đành

một xí thôi mà!

Đâu hay một xí(**)

để là trăm năm

Vai gầy

khô một nhánh cung

Tiếng rao như tiếng

tơ chùng giữa trưa.

*. Xí mà: Một loại chè mè đen có từ lâu đời do người Hoa nấu bán tại Hội An

**. Xí: Tí, chút. Phương ngữ Quảng Nam.

.

APSARA

Vẫn em, điệu múa ngàn năm tay vói mây trời

Vẫn mắt xa xăm, nhìn phù trầm thế cuộc

Ta nghe thấy trong trùng sâu vết khắc

Huyết lệ Huyền Trân rơi trũng đá kinh Hời

(Mỹ Sơn)

.

Phạm Phù Sa

Vòng Hoa Ngày 8/ 3

* Kính viếng hương hồn nhà văn, nhà báo liệt sỹ Dương thị Xuân Quý,

kỷ niệm 42 năm chị hy sinh

.

“Thôi em nằm lại

Với đất lành Duy Xuyên

Trên mồ em, có mùa xuân ở mãi

Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên”(*)

Câu thơ

Nhói cả trăm miền !

***

Họ mất nhau như  mất nửa cuộc đời

Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc

Thi Thại, Duy Thành

năm một ngàn chín trăm sáu chín

Dòng Thu phù sa đặc quánh

Trời đêm hạt hạt mưa sa

Tám tháng ba

thảng thốt sông Hồng một ngày cả gió

thảng thốt bờ Thu cồn dâng phong ba

Một đoá đào xuân đất Bắc

Nở giữa tình quê Đất Quảng quê nhà

Đoá thanh Xuân đã kết thành ngọc Quý

Cho trang văn, trang đời lấp lánh ngàn hoa

***

Ngày tám tháng ba

Một nửa loài người

tặng một nửa của nhau vòng vàng, xuyến  bạc

Nụ cười đô la, trái tim địa ốc

Xe hơi gá nghĩa cuộc đời .. .

Ai còn nhớ những bông hoa vội trở về với đất

từ đạn bom khắc nghiệt

Khi cây tình yêu chưa kịp xanh chồi !

***

Hạnh phúc là gì, hỡi cả loài người ?

Ai- ngày vui loan phượng hoà đôi

có nhớ những mùa xuân phôi pha từ rất trẻ

những người chị, người em, ngươì mẹ…

mãi ra đi về cuối chân trời

***

Hơn bốn mươi năm Đất Quảng ơn người

Để hôm nay  tôi hát tặng ai

lời vô ngôn từ niềm rung của lá

Tôi hái tặng ai đoá thơm miền đất lạ

với riêng người- đồng bóng của riêng tôi

***

Xanh vô bờ những câu hát đưa nôi

Đời vẫn đẹp sao những Bài thơ hạnh phúc

Đoá thiên hương

trong gió xuân lặng thầm toả ngát

Rưng rức vành thơ tôi kết tạ người

.


.

Phạm Phù Sa

Quảng Nam- tháng 3/ 2011

.

Chú thích của tác giả:

(*) Những câu thơ của nhà thơ Bùi Minh Quốc, viết tặng vợ trong  “  Bài thơ về hạnh phúc”và khắc trên bia đá nơi vợ ( chị Xuân Quý ) yên nghỉ.

* Những chữ in nghiêng là thơ và ý thơ  Bùi Minh Quốc . 

* Chị Dương thị Xuân Quý ( quê Hưng Yên ) sinh tại Hà Nội .Tốt nghiệp Trường Báo chí trung ương và về làm phóng viên báo Phụ Nữ Việt Nam từ năm 1961, đến tháng 4-1968 chị xung phong vào chiến trường miền Nam. Hy sinh ở chiến trương Quảng Nam đúng vào ngày  8.3.1969 .

Tháng Chạp – Rượu Xuân Đêm Nguyện (Phạm Phù Sa)

Tháng Chạp

Tháng Chạp – hiền như con gái
Trời se se như thể để làm duyên
Và tôi, bao giờ vẫn thế
Cứ nao nao như cái thưở hồn nhiên

Tháng Chạp từ bao đời vẫn thế
Nghe lung linh huyền ảo đến vô chừng
Cứ man mác một cái gì rất thật
Rung ngân từng lời da diết Quê hương

Gió cuối năm ru mềm sắc lá
Hồn tinh khôi , thôn xóm ngập màu xuân
Hơi ấm tỏa lan từ mái rạ
Mùi rất riêng, mùi vải mới thơm lừng

Tháng Chạp bừng ran bếp lửa
Và dáng cha bên cửa đêm sương
Ánh mắt mẹ giấu điều chi rất lạ
Nâng niu từng sợi chỉ , đường kim

Tháng Chạp vàng mơ hoa cải
Thơm tho hương cốm ươm đòng
Thậm thịch chày khuya trỗi nhạc
Vườn ai tiếng hát trong ngần

Tháng Chạp, phố phường lên cơn sốt
Rộn ràng chợ cuối ba mươi
La liệt hàng may mặc sẵn
Phố mai, xúc xích, rượu tây…

Chợ xuân Đào, Mai khoe sắc
Hoa không hương plastic phơi đầy
Chỏng chơ đội đòn bánh tét
Ơ hờ gói mứt gừng cay

Thấy thương từng khoanh dây, nuột lạt
và dáng cha phơi tấm lưng gầy
Thấy nhớ từng đường kim, múi chỉ
ngọn đèn khuya bóng mẹ hắt hiu lay

Tháng Chạp tự bao giờ vẫn thế
Trời se se như thể để làm duyên
Tháng Chạp- hiền như con gái
Mà tôi, lòng bỗng rưng rưng.

.


Rượu xuân đêm nguyện

Một chén kính ngang mày
Chúc trời bao la tuổi
Một chén nâng tầm ngực
Cầu đất thọ thiên thu
Một chén gởi sa mù
Cùng gió , mây, và nắng
Chén gởi người xa vắng
Từ muôn kiếp xưa, sau
Chén này dành tặng nhau
Chia đều, ta mời bạn
Chén lòng xin uống cạn
Men cay đắng tình đời
Say tràn đi bạn ơi
Buổi giao thoa trời đất
Khải lòng đêm trừ tịch
Cùng Thiên sứ rong chơi
Chén tình với bao người
Giữa màn trời chiếu đất
Khóc cười cùng nhật nguyệt
Ngửa mặt chiều ba mươi
Chén sầu giữ lại tôi
Chắp hai tay dâng nguyện
Trong trầm hương khói quyện
Mong yên ấm bao người

.

Phạm Phù Sa

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: