• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 908 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 908 người theo dõi

Thơ Thiền – Cao Huy Thuần

Nguyễn Duy qua chơi Pháp, mang theo quyển sách “Thơ Thiền Lê-Nguyễn” anh vừa xuất bản cùng với Nguyễn Bá Chung và Sam Hamill. Sách in mỹ thuật, giấy láng, bìa cứng, ảnh đẹp, sang trọng, cầm trên tay chỉ muốn nâng niu. Lời giới thiệu ở đầu sách, dưới ngòi bút của thầy Thích Phước An, xứng tầm với sách, đầy đủ trong nội dung, đạo vị trong lời lẽ, tưởng khó nói gì thêm. Được tặng sách, tôi chỉ biết cảm động, nói lên vài lời cảm tạ tác giả, cốt để cùng chia sẻ với nhau một cái mê chơi sách đẹp, sách quý.

Thiền sư Ryokan (1758-1831) của Nhật nói về thơ của mình như sau:

Ai bảo thơ của tôi là thơ?
Thơ của tôi không phải là thơ
Một khi đã biết thơ của tôi không phải là thơ
Khi đó ta có thể bàn luận về thơ

Các ông thiền sư làm thơ mà không nghĩ rằng mình là thi sĩ. Các ông làm thơ mà không nghĩ rằng mình làm thơ. Và thơ thiền thường là như vậy. Chỉ là một phút xuất thần ngộ đạo. Nhưng “ngộ” như thế nào, thấy cái gì, nói ra ai hiểu, mà chính mình nói ra cũng không được, vì cái mà mình thấy vượt lên khỏi ngôn ngữ, không diễn ra được bằng lời. Cho nên phải mượn thơ vì thơ có khả năng vượt lên khỏi ngôn ngữ. Trong thơ có hồn, hồn ấy đi thẳng vào trực giác của người đọc, không phải ai cũng cảm nhận được và cũng không phải ai cũng cảm nhận giống ai. Có lẽ thơ hay nào cũng vậy, nhưng thơ thiền nhắm thẳng vào tâm linh và tâm linh thì chỉ có thể cảm nhận sâu sắc qua trực giác. Dù là cùng nhìn cảnh cả, và dù nhà thơ nào cũng “đối cảnh sinh tình”, cảnh trong thơ thiền không phải là vô tình mà chính là cái tâm của sự vật hòa làm một với cái tâm của người ngắm. Đối tượng của thiền không có gì khác hơn là tâm gặp tâm, cái tâm nguồn cội sáng trong nói trong câu thơ của thiền sư Chân Nguyên:

Liễu liễu bản lai vô nhất vật
Chân nguyên trạm tịch phục hoàn nguyên

Nguyễn Duy dịch thơ:

Xưa nay vạn pháp vô thường
Chân nguyên sẽ trở về nguồn lặng trong

“Vạn pháp không hoa giai bất thực”, câu đầu của bài thơ là như vậy: mọi vật có đấy nhưng có cũng như hoa đốm giữa hư không, có mà không có thực. Biết như vậy rồi thì cái tâm vắng lặng của nguồn cội hiện ra. Câu thơ chứa đựng tính triết lý.

Rất nhiều khi câu thơ chẳng có gì triết lý, chỉ là cảnh vặt thôi, nhưng thiền vị bay lên như bướm thoát ra khỏi kén, và trực giác chợt sáng lên trong tâm của người đọc. Những phút xuất thần như thế thường nằm nơi câu cuối của bài thơ. Chẳng hạn: giữa làn mây trắng có hòn núi xanh. Thì có gì lạ đâu, cảnh vặt vẫn thấy hàng ngày. Vậy mà, lạ thật, tâm quyện lấy Phật, Phật quyện lấy tâm như núi với mây:

Phật tức tâm hề tâm tức Phật
Thanh sơn chi tại bạch vân trung

Nguyễn Bá Chung dịch thơ:

Dứt duyên đời thật thong dong
Lòng thanh tịnh sắc tức không chẳng lầm
Tâm là Phật, Phật là tâm
Ẩn trong mây trắng rạng tầm núi xanh

Câu thơ có thể hiểu như vậy, nhưng cũng có thể cảm nhận một cách khác, “thiền” hơn: mây trắng là mây trắng, cái ẩn sau mây trắng là núi xanh, sự vật hiển lộ như sự vật vốn thế, cái thấy không bị lăng nhăng chi phối là cái thấy thật, thấy sự vật như là sự vật. Cái thấy ấy, chính là thấy Phật. Chẳng có chữ nào là triết lý, nhưng học cả đời mới hiểu thế nào là cái tâm nhìn sự vật qua hai chữ sắc không.

Bác nông phu già nằm ngủ dưới gốc tùng, không nghe tiếng chuông chùa buổi trưa: thì có gì nhiệm mầu? Nhưng ôi, tĩnh yên, vắng lặng, cái tâm không vọng động của Nguyễn Khuyến lắng lại trong giấc ngủ buổi trưa, cả tiếng chuông cũng lắng:

Dã lão vị tri chung hưởng ngọ
Phóng ngưu sơn lộc tọa tùng miên

Nguyễn Bá Chung dịch thơ:

Lão nông đâu tiếng chuông khai
Thả trâu dưới gốc nằm say giấc nồng

Nguyễn Khuyến nằm trong quyển sách là quá đúng, vì thơ ông thấm đẫm thiền vị. Và thơ thiền, dù ở Việt Nam, Nhật Bản hay Trung Hoa, không phải là chỉ của các thiền sư. Có hai mùi vị trong thơ thiền: một là để nói lên chứng đắc của mình, như một số bài thơ của các thiền sư; hai là để diễn tả cảm giác đượm chất tâm linh như phần đông thi tứ của các thi hào. Cảnh chùa thường gợi lên thi tứ như thế, cho nên trong tuyển tập của Nguyễn Duy, nhiều bài thơ được làm khi các nhà thơ viếng chùa. Người đọc giật mình khi thấy trong số các nhà thơ đó có cả bà chúa của “cõi tục” là Hồ Xuân Hương. Hồ Xuân Hương cũng làm thơ thiền? Thì hãy xem bà leo lên núi Đông Sơn. Bà thấy gì ngoài mây khói sông nước và cò trắng?

Ngộ đạo cao tăng huề tích khứ
Hiển thân cổ Phật đáo kim truyền
Đăng lâm độc bộ cao sơn thượng
Thừa hứng lâm lưu nguyệt mãn thuyền

Nguyễn Duy dịch thơ:

Cao tăng cầm gậy viên thông
Hiện thân Phật tổ giữa lòng thế gian
Một mình dạo núi Đông Sơn
Trào dâng thi hứng, trăng tuôn đầy thuyền

Nếu hồn thơ của các nhà thơ lớn Việt Nam ở các thế kỷ trước cũng đầy thiền vị như thế thì đúng là mùi thiền đã đi vào hồn dân tộc và văn học Việt Nam như hương hoa sen lan khắp mặt hồ.

Cái thú đọc thơ thiền chữ Hán khiến tôi thông cảm với cái khó dịch thơ, nhất là dịch thơ ra tiếng nước ngoài. Tôi chỉ lấy một trong nhiều ví dụ: dịch thế nào cho đúng nghĩa và thật gọn từ “vô vi” gặp nhiều lần trong sách? Trong đạo Lão, “vô vi” không phải là không làm gì, mà là “vô vi nhi vô bất vi” , nghĩa là “không làm gì nhưng không có cái gì là không làm”. Trong đạo Phật, “vô vi” là làm mà “vô chấp”, “vô trụ”, làm trong trạng thái an nhiên, tự tại, không vướng mắc, xa lìa mọi nhân duyên tạo tác. Chỉ nói tóm tắt như vậy mà đã khó dịch, huống hồ là tìm cho được một từ, hai từ, để đưa vào cho đúng một câu thơ? Dịch là “non-doing” như trong sách là dịch chữ chứ không đúng nghĩa, dịch là “non-forcing” như Alan Watts e đạt hơn chăng?

Cao Bá Quát cũng có một câu thơ khó dịch khi dường như ông đem tích “niêm hoa vi tiếu” của thiền tông vào thơ. Trong một hội chúng ở núi Linh Sơn, đức Phật cầm một bông hoa đưa lên, chẳng ai hiểu Phật muốn nói gì, chỉ một mình Ca Diếp mỉm cười. Thiền tông lấy tích đó làm nguyên tắc, thiền đạo không truyền bằng lời, chỉ “tâm truyền tâm”. Cao Bá Quát lên chơi núi Sài buổi chiều sau cơn mưa, đề thơ trên vách đá:

Bình sinh lãng tích na trùng vấn
Thủ bả liên hoa tiếu tự tri

Nguyễn Duy dịch thơ:

Dấu xưa chi hỏi nhiều lời
Cầm sen mình tự mỉm cười với sen

Buổi chiều, mưa tạnh, mây núi giăng bốn phía, ông phải vạch rêu tìm dấu chân của người xưa, gọi thắp đèn để đọc văn bia còn đó, vậy hoa sen nào trong tay mà cầm? Mà cười? Ông cười mà tự biết. Ông biết cái gì? Ông cười với ai? Với ông? Hay với Ca Diếp? Ôi, khổ thay, ngôn ngữ đã hạn hẹp, mà ý thiền thì bao la, người nước ngoài làm sao thấm được câu thơ của ông Quát khi dịch ra tiếng nước ngoài?

Khép lại quyển thơ, tôi trở về với băn khoăn khi mở sách, đọc bài thơ đầu của Nguyễn Trãi, Du Nam Hoa Tự, với hai câu cuối dính với gốc thiền:

Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy
Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần

Nguyễn Duy và Nguyễn Bá Chung dịch thơ:

Tào Khê tuôn chảy một giòng
Tẩy cho muôn kiếp sạch bong bụi trần

Tào Khê là tên con suối chảy qua chỗ Lục tổ Huệ Năng ở. Thế còn “Nam Hoa Tự”? Chú thích trong sách: Nam Hoa là một ngôi chùa lớn ở huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Hồi nhỏ, tôi học sử, ghi tạc trong lòng câu nói của Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Nguyễn Trãi, khi bị quân Minh bắt giải qua Tàu. Đến ải Nam Quan, thấy Nguyễn Trãi đi theo, khóc lóc, Phi Khanh nói: “Con trở về, báo thù cho cha, rửa nhục cho nước, đi theo khóc lóc mà làm gì?” Vậy Nguyễn Trãi đi qua Tàu lúc nào mà viếng Nam Hoa tự?

Câu hỏi thuộc về lịch sử và văn bản học, không dính đến thiền nữa, tôi khép quyển sách đẹp và mong mỏi được các nhà chuyên môn về sử chỉ cho.

 

Cao Huy Thuần

______________________________

Thơ thiền Lê – Nguyễn ra mắt sau 12 năm thực hiện

TTO – Nhà thơ Nguyễn Duy vừa ra mắt tập ‘Thơ thiền Lê – Nguyễn’ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp sáng 28-8, giới thiệu 30 tác phẩm của 30 tác giả Việt Nam trong hai triều đại hậu Lê và Nguyễn.

Thơ thiền Lê - Nguyễn ra mắt sau 12 năm thực hiện - Ảnh 1.

Công trình tưởng giản đơn nhưng nhà thơ Nguyễn Duy và nhóm cộng sự gồm Nguyễn Bá Chung (chủ biên – dịch giải), Sam Hamill (dịch bản dịch thơ Việt sang Anh ngữ), Nguyễn Duy Sơn (hình ảnh), Võ Anh Thơ (thiết kế mỹ thuật) đã mất ngót 12 năm.

Đến nay khi tác phẩm ra đời, có hai người trong nhóm đã giã biệt cõi trần: Nguyễn Duy Sơn và Sam Hamill.

Chuyến tìm về minh triết Việt

Mất mười hai năm để dịch và ra mắt 30 bài thơ, công việc kỳ khu tỉ mẩn này kể cũng tương tự như tiến độ “Nhị cú tam niên đắc” (hai câu làm mất ba năm) của nhà thơ Giả Đảo đời Đường. Nhưng, quả thật đây là một cuộc đầu tư tâm lực trí tuệ và tiêu pha cảm hứng thật đáng. Bởi thơ thiền là một mảng nội dung đặc biệt quý giá của văn học Việt Nam.

Nguyễn Duy tâm sự rằng ông từng ôm mộng sẽ làm ba tập, với tập cuối là thơ thiền đương đại, nhưng tại buổi ra mắt lần này ông tự thấy mình đã không còn nhiều sức khỏe, không biết có tiếp tục được hay chăng.

Dù sao, nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có mặt tại buổi ra mắt sách, Nguyễn Duy và các cộng sự dày công tuyển dịch thơ thiền của tiền nhân chính là một chuyến tìm về minh triết Việt: “việc tìm lấy những minh triết Việt trong thiền sẽ là một chỉ dẫn để người Việt đi tới chỗ hạnh phúc”.

Về phần mình, Nguyễn Duy cho rằng chỉ làm ba mươi bài thơ của ba mươi tác giả thôi, mà kỳ công quá. Kỳ công cũng phải, bởi thơ thiền của các cụ đời Lê – Nguyễn không chỉ là thơ, mà chứa đựng trong công việc này là các vấn đề văn bản học, khả năng thẩm thấu thiền lý, cảm nhận tình cảm của người xưa, và còn có cả những khuất lấp của lịch sử.

Thơ thiền Lê - Nguyễn ra mắt sau 12 năm thực hiện - Ảnh 2.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đánh giá cao bản dịch thơ thiền Lê – Nguyễn – Ảnh: L.Điền

Nguyễn Trãi đi Trung Quốc vào những năm nào?

Tập này mở đầu bằng bài Du Nam Hoa tự của Nguyễn Trãi, giáo sư Cao Huy Thuần khi đọc sách, đã nêu thắc mắc rằng: “Nam Hoa là ngôi chùa lớn ở huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Hồi nhỏ tôi học sử, ghi tạc trong lòng câu nói của Nguyễn Phi Khanh – thân phụ Nguyễn Trãi – khi bị quân Minh bắt giải qua Tàu. Đến ải Nam Quan, thấy Nguyễn Trãi đi theo khóc, Phi Khanh nói: “Con trở về, báo thù cho cha, rửa nhục cho nước, đi theo khóc lóc mà làm gì?” Vậy Nguyễn Trãi đi qua Tàu lúc nào mà viếng Nam Hoa tự?”.

Đó là từ xuất xứ một bài thơ đụng đến các khuất lấp của lịch sử. Tư liệu ghi chép hành trạng của tiền nhân ở ta bị thất lạc quá nhiều, cho nên, bây giờ nêu vấn đề “Nguyễn Trãi đã từng đi Trung Quốc vào những năm nào trong đời” thì thật nan giải.

Tại buổi ra mắt sách, nhà thơ Nguyễn Duy trình bày rằng ông cũng có tìm hiểu chi tiết này, và ông từng đọc được một bài viết trên mạng, rằng thực ra Nguyễn Trãi có đi theo cha vào sâu trong đất Trung Quốc, cụ thể là đến Nam Kinh, cho nên chữ “thành Nam” trong câu thơ “Góc thành Nam lều một gian” là chỉ thành Nam Kinh.

Và Nguyễn Trãi ở với cha cho đến khi Nguyễn Phi Khanh mất thì ông mới về nước, nên những bút tích liên quan đến Trung Quốc của Nguyễn Trãi đều làm trong giai đoạn này.

Dù vậy, Nguyễn Duy cho biết đến nay tìm lại bài viết quan trọng kia thì không thấy nữa (!). Mà khi làm sách toàn tập về Nguyễn Trãi, chính các vị giáo sư, chuyên gia trong nước cũng đành để lại một khoảng mờ tương đương mười năm trong cuộc đời Nguyễn Trãi chưa làm rõ được.

Nhưng những vất vả của người soạn sách như trên, rốt cuộc vẫn là chuyện bên lề. Điều chính yếu là tập thơ thiền giới thiệu với bạn đọc hôm nay chính là một sự đồng điệu giữa người nay với người xưa, giữa thời buổi công nghệ vượt bật và tinh thần tĩnh lặng thể nhập chân như.

Thơ thiền Lê - Nguyễn ra mắt sau 12 năm thực hiện - Ảnh 3.

Giáo sư, tiến sĩ Huỳnh Như Phương chúc mừng nhà thơ Nguyễn Duy và khích lệ nên tiếp tục làm tập thơ thiền đương đại – Ảnh: L.Điền

“Thơ hay mới chọn”

Theo Nguyễn Duy, thơ thiền ở đây được hiểu là “thơ nói đến sự tĩnh tâm, thảnh thơi, thanh thản của con người, sống ôn hòa với cuộc đời, với thiên nhiên… tính thiền là như vậy”. Và khi tuyển chọn, Nguyễn Duy cũng cho biết ông không đặt ra tiêu chuẩn cụ thể để chọn ai, bài nào, mà cốt yếu “bài nào mình thấy hay thì mình chọn”.

Đây cũng chính là một cam kết có trách nhiệm với người đọc: thơ hay mới chọn. Hơn thế, chọn rồi còn phải dịch cho hay.

Thế cho nên, mất 12 năm mới có bản dịch thơ thiền Lê – Nguyễn này, chúng ta có thể vui mừng khi bắt gặp nhiều bài được chuyển dịch thật đắt như hai câu của Nguyễn Trãi “Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy/ Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần” được dịch là “Tào Khê tuôn chảy một dòng/ Tẩy cho muôn kiếp sạch bong bụi trần” có thể thấy dịch giả đã đem chữ bong để chuyển ý chữ tận trong nguyên tác.

Hay như hai câu của Cao Bá Quát “Tứ diện vân sơn nhàn chỉ cố/ Bách niên nhân thế kỷ hưng suy” được dịch thành “Tha hồ ngắm nghía núi mây/ Trăm năm hưng phế mấy đầy mấy vơi” rất gần gũi với lời ăn tiếng nói dân gian hiện đại.

Lại còn cả dư vị đằng sau con chữ, người đọc hôm nay nếu có chút lòng, hẳn sẽ tìm thấy ở quyển Thơ thiền Lê Nguyễn thấp thoáng ẩn hiện nhiều câu chuyện thật đáng kể của tiền nhân.

Thơ thiền Lê - Nguyễn ra mắt sau 12 năm thực hiện - Ảnh 4.

Như tiếp tục cuộc chơi của tập Thơ thiền Lý Trần từng ra mắt và được đón nhận nhiệt tình cả trong và ngoài nước hồi năm 2005 – 2007, tập Thơ thiền Lê – Nguyễn lần này cũng được thiết kế mỹ thuật, các trang in kèm hình ảnh đẹp, mỗi bài thơ của từng tác giả có nguyên tác chữ Hán, dịch nghĩa và phần dịch thơ có cả tiếng Việt và tiếng Anh – Ảnh:: L.Điền

Lam Điền – Tuổi Trẻ 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: