Lần đầu công bố lá thư Xuân chưa kịp gửi và cuốn nhật ký của một liệt sĩ Vị Xuyên – Nguyễn Việt Chiến

Cuốn nhật ký của liệt sĩ Trần Trung Thực đã khép lại nhưng chúng ta vẫn còn nghe thấy âm vang những lời tâm huyết của một tâm hồn cao quý trước lúc hiến dâng đời mình cho Tổ quốc ở biên giới Vị Xuyên. Tại đây, những trận đánh giành giật từng cao điểm ở vùng “Lò vôi thế kỷ” trên dãy núi Vị Xuyên đã đi vào lịch sử. Có trận đánh, chỉ huy tiểu đoàn hy sinh, chỉ huy đại đội hy sinh, nhưng bộ đội Việt Nam vẫn giữ vững đội hình chiến đấu theo phương án tác chiến được vạch ra trước đó và những người lính này quyết chiến đến người cuối cùng, đến hơi thở cuối cùng

Trong số những liệt sĩ của Sư đoàn 356 hy sinh tại biên giới Vị Xuyên, Hà Giang năm 1985, đồng đội đã tìm thấy một cuốn nhật ký và bức thư Xuân viết cho mẹ chưa kịp gửi trong tư trang của liệt sĩ Trần Trung Thực quê ở Phú Thọ. Đây là những trang viết nóng bỏng tình yêu quê hương, đất nước trước giờ anh hy sinh.

Ngày 14/7/2016, tại Hà Nội, Ban liên lạc Hội cựu chiến binh mặt trận Vị Xuyên – Hà Giang đã tổ chức buổi gặp mặt 600 đại biểu cựu chiến binh tham gia mặt trận này. Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 2, người trực tiếp chỉ huy chiến dịch công bố những con số: Hơn 4.000 chiến sĩ hy sinh bảo vệ biên giới Vị Xuyên thuộc 9 sư đoàn chủ lực; hơn 9.000 thương – bệnh binh cùng nhiều đơn vị bộ đội trực tiếp tham chiến, đẩy lùi sự xâm lấn của quân Trung Quốc. Đến nay vẫn còn hơn 2.000 liệt sĩ nằm rải rác trên khắp chiến trường Vị Xuyên mà chúng ta chưa tìm được hài cốt; nhiều thương binh chưa được hưởng chính sách; nhiều mộ liệt sĩ chưa có tên trong nghĩa trang.

 

“>  

 

“Có đợt chỉ trong vài ngày, Trung Quốc đã bắn cả mấy chục ngàn quả đạn pháo vào khu vực Vị Xuyên về đến Hà Giang. Sự ác liệt đến mức mà anh em gọi mặt trận này là “Lò vôi thế kỷ”. Sau kết thúc cuộc chiến tranh này, ta đã đo lại, có ngọn núi đá bị đạn pháo đánh bạt đi hơn 3m. Hẳn chúng ta còn nhớ những trận đánh giành, giữ đất của quân dân ta diễn ra vô cùng quyết liệt trên các cao điểm 1509, Đồi Đài, Cô Ích, Bốn hầm, Bạch Đích, Minh Tân, Pa Hán…, ta đã tiêu diệt và làm bị thương hàng vạn quân Trung Quốc xâm lược, buộc Trung Quốc phải rút quân về bên kia biên giới” – thiếu tướng Huy nhận xét.
Liệt sĩ Trần Trung Thực (tên thường gọi là Thanh), quê Phú Thọ ở Đại đội 7, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 149 – Sư đoàn 356, hy sinh ngày 14/1/1985 tại mặt trận Vị Xuyên. Người yêu của anh là ca sĩ Kim Thanh, nguyên văn công Sư đoàn 356 cho biết, hai người đã từng thề ước hết chiến tranh trở về sẽ sống chung một nhà, nhưng mong ước ấy đã không thể thực hiện được. Anh hy sinh trong một trận chiến khốc liệt, giành giật từng điểm chốt. Nhận được tin dữ, ca sĩ Kim Thanh rụng rời, tưởng không thể sống nổi. Sau khi ra quân, chị trở về quê nhà, xin nhận bố mẹ của liệt sĩ Trần Trung Thực làm cha mẹ nuôi và ông bà thương quý chị như con gái trong nhà.

 

“>  

 

Gia đình liệt sĩ Trần Trung Thực đã đưa cho ca sĩ Kim Thanh xem cuốn nhật ký và lá thư viết cho mẹ nhưng chưa kịp gửi của anh. Đây là những di vật thiêng liêng mà đồng đội đã tìm thấy trong tư trang của Trần Trung Thực sau khi anh hy sinh. Chúng tôi xin phép được giới thiệu lá thư cuối cùng gửi mẹ của liệt sĩ Trần Trung Thực:
Vị Xuyên – Hà Tuyên
Mẹ kính yêu của con !
Qua đài và báo mẹ cũng nghe nhiều tới vùng biên giới ác liệt này, con chẳng muốn ghi thư cho mẹ vì con không muốn để trái tim già nua của mẹ thêm khổ và thắt lại khi phải biết tin về những gì trong cuộc sống và công tác của con, con quyết định ghi lại những suy nghĩ của con – mà vì điều kiện con không thể ghi về cho mẹ, vào trang sổ công tác này, nếu sau này… con tin mẹ chắc sẽ hiểu con và đó cũng là kỷ niệm của con.
Mẹ của con!
Mẹ là đại diện của linh hồn và tình cảm của gia đình thay lời mẹ cho bố, anh và các em.
Mẹ ơi! Từ khi tới Hoàng Liên Sơn con sang đây còn là mùa Hè, tới nay đã được 7 tháng và sang mùa Đông rồi, mùa Đông ở đây lạnh lắm, vì độ cao lớn, núi rừng nhiều, suối nữa, sương muối rất nhiều và cứ đà này có khi có băng Tuyết nữa, khí hậu khắc nghiệt như thế mà cuộc sống và công tác của chúng con cũng vô cùng gian khổ
Nhà âm và trong hầm vì pháo cối địch, mùa rét thế này chỉ có manh áo phong phanh và chiếc chăn đơn thôi, khí hậu khắc nghiệt đã làm rút đi một phần sức khỏe con người, đã thế về điều kiện sinh hoạt cũng khó khăn, về nước dùng và tắm giặt rất phức tạp, về ăn uống cũng kham khổ không đảm bảo với sức lực đã sản ra để làm việc. Ở đây chúng con làm việc bất kể ngày đêm vì căn cứ vào hoạt động pháo, cối và súng các loại của địch, đòi hỏi của nhiệm vụ thì cao và nặng nề trong điều kiện ác liệt như thế mà sức khỏe thì có đâu, yếu đi nhiều rồi mẹ ạ, đêm về ngủ nghỉ cũng ít, còn phải canh gác nữa vì địch hoạt động cũng rất căng, sắp tới chúng con còn đi chiến đấu nữa đấy.
Mẹ yêu quý của con!
Mùa Xuân về lại có ngày Tết cổ truyền dân tộc là ngày vui nhất của mọi gia đình vì ngày ấy là ngày sum họp, đoàn tụ, với con bốn Xuân rồi con không được về, Xuân này là thứ năm rồi mà chẳng có hy vọng đâu mẹ ạ, cuộc chiến còn dài còn gian khổ ác liệt và hy sinh, không phải vì sự hy sinh của đồng đội tác động và cái ác liệt, nhưng với tình hình này con vẫn như thấy bản thân mình khó trọn vẹn. Song một khi con đã quyết định – vì sao? Đó là một vấn đề dài, móc xích thì con cũng quyết tâm bước tiếp cho trọn tới đích, thiệt thòi đã nhiều, kể chi một thời gian ngắn phải không mẹ, cho dù con phải chấp nhận những gì đi nữa mẹ tin rằng con vẫn vững vàng vượt qua để trở về với mẹ.
Kính chúc mẹ khỏe, trẻ mãi, luôn an tâm về con.

Con trai của mẹ.
Tr. Tr Thực

 

“>  

 

Trong lá thư trên, Trần Trung Thực đã nói với mẹ về cuốn nhật ký mình đang viết dở và anh đã có một linh cảm không lành về sự ra đi của mình. Và dưới đây là một trích đoạn trong cuốn nhật ký của anh:
“Tháng 5/1984 trước tình hình bọn bành trướng đưa quân đánh chiếm các điểm cao của huyện Yên Minh, Vị Xuyên tỉnh Hà Tuyên. Chúng tôi lại được điều động sang làm nhiệm, đơn vị hành quân bằng xe cơ giới đường trường. Chúng tôi đã thực sự bước vào cuộc chiến, bao gian khổ, hy sinh, hành quân mang vác nặng, đào công sự, vận tải trong tầm đạn pháo, nhiều bạn bè và đồng đội đã không trở về. Đường biên giới là đây, ta và địch cách nhau con suối trong tầm đạn bắn thẳng…
Ở đây giá rét vô cùng, cứ đà này sẽ có băng tuyết, núi cao, suối, thác, cơ thể chịu sao nổi khi sức đã yếu, lực kiệt, manh áo mỏng manh và chiếc chăn đơn, củi cũng hiếm chứ chưa nói tới sưởi, khói và ánh sáng thuộc quy định kỷ luật chiến trường, mà nhiệm vụ cũng không có lúc nào ngồi yên, khổ nhất là đêm gác sương lạnh… Muỗi ở đây nhiều vô cùng, con to như ruồi và độc, mà cũng lạ chiến tranh chỉ béo lũ chuột, chuột nhiều vô kể, chúng sinh sản rất nhanh và làm phiền nhiễu không ít cho lính…
Chết! Đó là từ chỉ chung cho những ai đã tắt thở, vĩnh biệt cuộc đời, còn chết ở đâu, như thế nào đó là vấn đề những ai là mẹ, là cha, là anh, là em, là cô, dì chú, bác của những người thân là lính khó biết. Lạy chúa máu thấm đẫm từng mảnh đất biên cương Tổ quốc, xương tan, thịt nát mãi mãi tôi không quên… Hình như ít có giây phút thảnh thơi để mà nhớ, mà vui, lúc nào cũng căng thẳng vì pháo, đạn cối của địch. Nằm nhà âm đã khó chịu, nhiều lúc phải nằm hầm bê tông, thật là ngột ngạt như cảnh tù đày, đã thế muỗi cũng lắm và lũ chuột thật khốn nạn, nhiều đêm dám chọc tức cả khi ta đang ngủ”.
Trong đoạn nhật ký sau cùng LS Trần Trung Thực viết trước lúc hy sinh 3 tuần, anh viết khá sâu về biên giới Vị Xuyên:
“Ở đây đồi núi trùng điệp nhấp nhô, có rừng xanh bao phủ, có dòng suối Thanh Thủy uốn khúc và dòng sông Lô đỏ ngầu phù sa chảy về xuôi. Đây là chưa kể tới những thác Bạc réo rắt như bản nhạc muôn thuở và sớm chiều mây trắng vờn quấn như đùa bỡn với cỏ, cây hoa lá cùng muôn cảnh vật. Bản ở đây nghe tên cũng đẹp, Thanh Đức, Thanh Hương, Nậm Ngoặt, Nà Cáy, Nà Toong, Nậm Tà… Quây quần bên những sườn núi, được con người từ bao đời tạo hóa nên những ruộng bậc thang trải dài thật đẹp, tựa như một kiến trúc hài hòa thêm cảnh đẹp biên giới của đất nước. Trước kia khi quân bành trướng chưa đánh sang, ở đây chắc là giầu đẹp lắm, còn bây giờ? Vẫn đất ấy, suối ấy sao cảnh vật nom thật xơ xác, tan hoang và tiêu điều, chúng tôi không gặp một người dân nào nữa cả, họ đã sơ tán hết hoặc có thể lắm một số đã chạy theo phía địch rồi để lại những bản, làng cháy thui vì đạn pháo, có nhiều cái đã đổ sập mặc sức cho cỏ dại, dây leo lên, thóc lúa ngổn ngang, quần áo, đồ dùng bừa bãi, nhiều cối nước không chủ như vô tình vẫn giã vào những chiếc cối bỏ không. Trâu, dê, chó, lợn, gà, vịt… còn rất nhiều nhưng vì vô chủ chúng đã trở thành hoang dã, chợt có bắt gặp chúng thì chúng cũng lủi nhanh, thoắt biến như người có phép lạ, nhiều ruộng lúa chưa gặt chín gục, mặc sức cho chim, chuột hoành hành. Cảnh đẹp ngày xưa đâu còn nữa, nhường vào đó là của những ngày này, tất cả mọi cảnh vật đều chìm trong mưa đạn pháo, cối, hỏa tiễn, súng bắn thẳng của địch. Không gian ngày đêm không ngừng tiếng rú rít của đạn pháo các loại, mặt đất ít nơi còn nguyên vẹn vì những đạn pháo cối, các sườn núi và các đỉnh cao đã đỏ loét vì hầm hào. Ai là người có lương tri và yêu chuộng hòa bình đến đây hẳn sẽ căm phẫn và xót xa biết chừng nào. Dải đất biên cương thanh bình, yên ả nay đã trở thành trận tuyến ác liệt.
Chúng tôi đến đây vào những ngày cuối tháng 6/1984 khi những điểm cao: 1800A; 1800B; 1648; 1545; 1509; 1250; 1030; 772; 685; 400; 300; 233 đã bị quân bành trướng chiếm đóng, ngày ngày nhìn thấy quân địch hoạt động ngang nhiên mà lòng căm thù sâu sắc, chúng đánh mìn, mở đường và từng đoàn xe tiếp tế cho các trận địa pháo và quân lính của chúng để gây tội ác cho chúng ta. Nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu ”Hễ còn một tên xâm lược trên đất ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi” và “Của họ vàng một khối ta không cần, của ta đá một phân ta cũng lấy”; “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Toàn thể chúng tôi đều nhận thức rõ âm mưu của kẻ thù, cùng vai trò trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc và Nhân dân. Dù gian khổ ác liệt cùng nhiều thiếu thốn, dù phải hy sinh đến tính mạng chúng tôi cũng quyết tâm giữ đất và đánh địch giành đất với mong muốn một ngày không xa, đất ta lại là của ta, non sông vẹn toàn và nơi đây sẽ mãi mãi thanh bình không còn tiếng súng giặc, đồng bào các dân tộc lại trở về xây dựng bản, làng quê hương giàu đẹp như xưa và cũng là làm giàu đẹp cho bộ mặt đất nước.
Nà Toong, 22/12/1984”…
Cuốn nhật ký của liệt sĩ Trần Trung Thực đã khép lại nhưng chúng ta vẫn còn nghe thấy âm vang những lời tâm huyết của một tâm hồn cao quý trước lúc hiến dâng đời mình cho Tổ quốc ở biên giới Vị Xuyên. Tại đây, những trận đánh giành giật từng cao điểm ở vùng “Lò vôi thế kỷ” trên dãy núi Vị Xuyên đã đi vào lịch sử. Có trận đánh, chỉ huy tiểu đoàn hy sinh, chỉ huy đại đội hy sinh, nhưng bộ đội Việt Nam vẫn giữ vững đội hình chiến đấu theo phương án tác chiến được vạch ra trước đó và những người lính này quyết chiến đến người cuối cùng, đến hơi thở cuối cùng. Có những trận giáp chiến, đánh gần bằng lưỡi lê và dao găm, những người lính cảm tử Việt Nam dẫu bị thương vẫn lao vào ôm chặt lấy địch, lao xuống vực sâu cả hai cùng chết. Có một tiểu đoàn trưởng của chúng ta bị thương nặng vào hai chân, vẫn lao vào chiến địa, vừa xả súng vừa kích nổ toàn bộ số lựu đạn mang trên người, khiến địch quân hoảng loạn. Những trận chiến sục sôi căm thù và đẫm máu ấy vẫn còn hằn dấu trong ký ức những người lính trận còn sống sót qua tháng năm lửa đạn ngút trời ở vùng “Lò vôi thế kỷ” trên đất Vị Xuyên đau thương ngày ấy.
.

Nguyễn Việt Chiến (kinhtedothi)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: