• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 900 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 900 other followers

Bát Nhã Tâm Kinh – TS Peter Della Santina ( Doãn Lê )

BÁT NHÃ TÂM KINH

Tiến sĩ Peter Della Santina
(Doãn Lê dịch)

Lời Giới Thiệu

Bát Nhã Tâm Kinh là chương 16 trong tác phẩm gồm 41 chương THE TREE OF ENLIGHTENMENT (Cây Bồ Đề) của Tiến sĩ Peter Della Santina ấn hành năm 1997. Ông sinh ở Hoa Kỳ, Tiến sĩ Phật học tại Đại Học Đề-li (Delhi), Ấn Độ năm 1979. Ông làm việc cho Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Thế Giới trong 3 năm ở New Jersey dịch thuật những bản kinh Phật Giáo tiếng Tây Tạng thế kỉ thứ 8. Ông dạy tại nhiều trường đại học và các trung tâm Phật giáo ở châu Âu và châu Á, đại học Pisa ở Ý, đại học Quốc gia Singapore, Trung Tâm Tibet House ở Đề-li, Ấn Độ, dạy triết học ở Học viện Phật Giáo Trung Hoa Fo Kuang Shan, Đài Loan, và là nhà lãnh đạo nổi tiếng của truyền thống Phật Giáo Tây Tạng Sakya.
Các tác phẩm đã xuất bản: Thư của Bồ Tát Long Thọ gởi vua Gautamiputra (1978 & 1982), Các trường phái Trung Luận ở Ấn Độ (1986), Trung luận tông và Triết học Tây Phương hiện đại, Triết học Đông và Tây (1986)

**O**

Trong chương này chúng ta sẽ thảo luận một chủ đề rất quan trọng trong văn học Đại Thừa liên quan đến trí Bát Nhã (prajnaparamita). Nhưng trước khi xem chính những kinh sách này, thật hữu ích để khảo sát ý nghĩa của từ prajnaparamita và lịch sử của những tạng kinh Bát Nhã. Từ prajna thường được dịch là “trí tuệ” hoặc “tuệ giác”, gồm tiếp đầu ngữ “pra” và gốc “jna” có nghĩa là kiến thức. “Pra” thêm vào gốc “jna” có nghĩa là sự tự phát, sự thông thái, sự siêu việt. Vì thế có thể dịch từ “pra” chính xác hơn là kiến thức đặc biệt, kiến thức thông thái hay trí tuệ. Từ paramita thường được dịch là “viên mãn”, những cách dịch phổ biến khác gồm có “qua bờ bên kia”, “siêu việt”, và cả đến “trí tuệ tối thượng”. Chúng ta sẽ hiểu từ ngữ này rõ hơn nếu ta nhận thấy sự tương tự của nó với tiếng Anh “thông số” và “mét”, cả hai chữ này đều liên quan đến đo lường hay giới hạn. Cho nên trong paramita, chúng ta có từ chỉ “vượt qua giới hạn”.
Bởi vậy cả từ “prajnaparamita” phải được hiểu với nghĩa “trí tuệ thông thái” hay “tuệ giác vượt qua giới hạn”. Nếu ta nhớ điều này chúng ta sẽ tránh được nguy cơ nghĩ trí Bát Nhã như là cái gì đó tĩnh hay cố định.
Điều này chắc chắn xảy ra vì chữ “viên mãn” khêu gợi lên hình ảnh về một trạng thái không thay đổi, hoàn hảo. Tuy nhiên trong trí tuệ viên mãn, chúng ta có một ý niệm năng động – ý niệm về trí tuệ thông thái hay tuệ giác vượt qua giới hạn, đó là siêu việt. Trí Bát Nhã là một trong lục độ Ba la mật trong truyền thống Đại thừa( 1 ). Đó cũng là tên của một số lớn kinh điển Đại Thừa được gọi chung là Văn Học Bát Nhã hay Kinh Bát Nhã.
Lớp kinh điển này gồm các bài giảng như kinh Kim Cang, kinh Bát Nhã có 8 ngàn dòng, kinh Bát Nhã 25 ngàn dòng và Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm kinh với hơn một trang (2 ). Tổng quát người ta đều đồng ý rằng mỗi một kinh ấy đều là một sự mở rộng hay sự tóm lược của kinh căn bản về những bài giảng của kinh Bát Nhã được trình bày với nhiều lối diễn dịch và độ dài khác nhau để thích hợp với thị hiếu của những người đọc khác nhau.
Nói chung các học giả hiện đại thừa nhận rằng những bài giảng của kinh Bát Nhã đã có từ đầu công nguyên, và chúng ở trong số những những kinh Phật giáo đầu tiên được phiên dịch ra tiếng Trung Hoa vào thế kỉ thứ 2 sau công nguyên. Trên cơ sở đó, cộng thêm bằng chứng từ Ấn Độ, chúng ta có thể tin tưởng nói rằng văn học Bát Nhã là trong số các kinh cổ nhất sẵn có cho chúng ta từ bất cứ truyền thống Phật Giáo nào.
Thí dụ đặc biệt mà chúng ta sẽ thảo luận nơi đây là Bát Nhã Tâm Kinh hay Tâm Kinh cho ngắn gọn, là một thí dụ tuyệt vời về cốt tủy của giáo lí Bát nhã. Ba gương mặt xuất chúng tham gia vào cuộc thảo luận trong kinh này – Đức Phật, Bồ Tát Quán Thế Âm và đệ tử -ngài Xá Lợi Phất. Sự có mặt của Xá Lợi Phất là một chỉ dấu khác về tính kế thừa của truyền thống Phật giáo bởi vì, chính Xá Lợi Phất xuất hiện một cách nổi bật trong Vô Tỉ Pháp (A tì đạt ma)( 3), cho nên Ngài là gương mặt chính trong kinh Bát Nhã.
Một sự kiện quan trọng khác là, mặc dù cuộc đối thoại giữa Xá Lợi Phất và Quán Thế Âm được nói đã diễn ra qua thần lực của Đức Phật, nhưng ngay từ lúc bắt đầu, Đức Phật suốt thời gian ấy đã nhập sâu vào thiền định. Chỉ đến lúc cuối, Ngài mới rõ ràng bước vào cuộc đối thoại và khen ngợi đức Bồ Tát Quán Thế Âm về sự diễn giải. Đây là một chỉ dấu khác về thần lực phi thường mà ta không thể nhận thức được của Đức Phật – một sự phản ánh của tầm nhìn Đại Thừa về bản chất siêu phàm của Đức Phật mà chúng ta đã xem xét trong cuộc thảo luận của Kinh Pháp Hoa ở chương 15.

_________________________________

  Các chú thích trong bài là của người dịch:
(1 )Lục Độ Ba La Mật, gọi tắt Lục Độ, gồm: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục,Tinh Tấn, Thiền Định, và Trí Tuệ
(2 ) Gồm 260 chữ âm Hán Việt
(3 ) A Tì Đạt Ma dịch nghĩa là Thắng Pháp, Vô Tỉ Pháp, là tên của Tạng thứ ba trong Tam Tạng. A Tì Đạt Ma chứa đựng các bài giảng của đức Phật và các đệ tử về phân tích tâm và hiện tượng của tâm. Kinh này là gốc của Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Lần kiết tập cuối cùng của A Tì Đạt Ma là khoảng giữa năm 400 và 450 sau công nguyên.

—————————-

***

Tâm Kinh, giống như những bài giảng khác về trí Bát Nhã nói rõ để hoàn thành một công việc quan trọng: giảng giải và khuyến khích sự chuyển hóa trí tuệ thành trí Bát Nhã. Nó trình bày để bổ túc cho trí tuệ có tính phân tích (thuộc về chính trí tuệ) với trí tuệ quan hệ (thuộc về trí Bát Nhã). Những phương pháp phân tích và quan hệ được sử dụng trong văn học Vô Tỷ Pháp, trong quyển thứ nhất và quyển thứ bảy Luận Tạng A Tỳ Đạt Ma. Chúng ta có thể minh họa tính chất của hai phương pháp này phép loại suy: qua phương pháp phân tích, cái xe không phải là một đơn vị tổng thể thuần nhất, nhưng đúng hơn là nó gồm có những bộ phận riêng rẽ. Sự hiểu biết về tính chất phức hợp của cái xe là kết quả của trí tuệ phân tích. Tuy nhiên qua phương pháp quan hệ, ngay cả những bộ phận riêng rẽ của cái xe cũng được thấy không phải là hiện hữu cuối cùng. Dưới ánh sáng của trí Bát Nhã, bây giờ chúng được thấy là phụ thuộc, tùy thuộc, tương đối.
Vì vậy, con đường từ trí tuệ đến trí tuệ Bát Nhã là con đường từ cái nhìn thực tại mà đặc điểm là sự nhận thức và chấp nhận những thành phần riêng biệt của thực tại đến một cái nhìn có đặc điểm là sự nhận thức về cái trống rỗng, hay tính KHÔNG (shunyata)( ) ngay cả những thành phần riêng biệt. Điểm này rất rõ ràng trong Tâm Kinh có liên quan đến 5 uẩn và 18 thành phần( 4), đó là kết quả trong phương pháp phân tích của Phật Giáo về việc nghiên cứu thực tại.

_________________________

( 4) KHÔNG là khái niệm trung tâm của đạo Phật, quan trọng nhất và cũng trừu tượng nhất.. Không, theo Đại Thừa, là mọi hiện tượng thân tâm đều không có tự tính. Mọi pháp đều chỉ là những dạng trình hiện (appearance) xuất phát từ tính Không. Trong tác phẩm “The Heart of the Buddha’s Teaching” Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã giảng: “KHÔNG không có nghĩa là không hiện hữu . Nó có nghĩa là Duyên Khởi, Vô Thường và Vô Ngã (Emptiness does not mean nonexistence. It means Interdependence Co-Arising, impermanence, and nonself – p.146).. Quán KHÔNG là cách tiếp xúc với cuộc sống như nó là, nhưng phải thực hành, không chỉ nói suông. …(the Concentration on Emptiness is a way of staying in touch with life as it is, but it has to be practiced and not just talk about). Nếu chúng ta nghiên cứu Tánh KHÔNG như là một triết học thì đó không phải là pháp môn Giải Thoát. Tánh KHÔNG là pháp môn giải thoát khi chúng ta thấm nhập một cách thâm sâu và chúng ta nhận thức được lý duyên khởi và bản chất tương ưng của mọi sự vật (If we only study Emptiness as a philosophy, it will not be a door of liberation. Emptiness is a door of liberation when we penetrate it deeply and we realize Interdependent Co-Arising and the interbeing nature of everything that is – p. 148)
( 5) 18 thành phần tức 18 giới, gồm 6 căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) đối với 6 cảnh, hay trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) sanh 6 thức, hiệp thành 18 giới. Giới có nghĩa là Nhơn, cũng tức là chủng tử. Chữ pháp của pháp cảnh cũng là nghĩa của tất cả các pháp, nó bao trùm 5 cảnh, bất luận nhận thức đối tượng nào cũng đều thuộc về pháp cả (Dharma)

—————————-

***

Trong Tâm kinh đức Bồ Tát Quán Thế Âm nói sắc, thọ, tưởng, hành, thức chính bản thân nó là KHÔNG – tức là bản chất của 5 uẩn cũng Không trong sự tồn tại độc lập. Và vì 5 uẩn đều Không, 18 thành phần nằm trong kinh nghiệm cá nhân cũng Không.
Phân tích cho thấy ba yếu tố liên quan đến mỗi sáu căn về kinh nghiệm cá nhân (năm giác quan cộng với tâm). Thí dụ hoạt động của cái nhìn có thể phân tích thành: (1) yếu tố về sắc, đó là đối tượng được nhìn thấy, (2) yếu tố về mắt, đó là khả năng giác quan nhìn thấy, và (3) yếu tố về thức thị giác, đó là yếu tố tinh thần. Tương tự như vậy trong mỗi hoạt động về nghe, ngửi, nếm, đụng chạm hay suy nghĩ, có (1) yếu tố bên ngoài, hay khách quan, (2) khả năng cảm giác chủ quan bên trong và (3) thức nảy sinh cùng với đối tượng bên ngoài và khả năng cảm giác. Vậy thì có 3 thành phần cấu tạo cho mỗi trong sáu hoạt động, tổng cộng là 18 thành phần kết quả từ sự nghiên cứu phân tích kinh nghiệm cá nhân. Theo Đức Quán Thế Âm 18 thành phần này không thực sự hiện hữu, giống như 5 uẩn chúng là Không.
Tuy nhiên, Không không phải là một thực thể siêu hình. Theo giáo lí về trí Bát Nhã và các tổ sư Đại thừa, Không đồng nghĩa với cả lí nhân duyên và Trung Đạo. Nó đồng nghĩa với lí nhân duyên vì tất cả mọi thứ hiện hữu đều có điều kiện, và có liên quan với những yếu tố khác, không có sự hiện hữu độc lập. Tánh Không đồng nghĩa với Trung Đạo vì hiểu được Không làm chúng ta có thể vượt qua sự chọn lựa một trong hai khả năng hay tính nhị nguyên về sự hiện hữu hay không hiện hữu, sự giống nhau và khác biệt v. v…
Tánh Không không phải là một quan điểm. Điều này đã được minh họa rất lâu trong những tác phẩm của Ngài Long Thọ, người sáng lập ra trường phái Trung Đạo, ủng hộ về tánh Không. Không tự nó là tương đối và không có sự hiện hữu độc lập. Đây là lí do tại sao Haribhadra(6 ) trong phần bình luận của Ngài về A Tì Đạt Ma Tập Luận, cuốn kinh soạn thảo tỉ mỉ về bức thông điệp về văn học Bát Nhã, liệt kê nhiều loại tánh Không, “Không của Không”: Không cũng tương đối và trống rỗng.
Thực ra Không là một cách điều trị bệnh. Nó là một chất điều hòa cho quan điểm có tính chất phân tích riêng biệt mà đã để lại cho chúng ta niềm tin tồn tại vào sự hiện hữu thật sự của các yếu tố kinh nghiệm. Tánh Không là một phương cách khiến chúng ta có thể vượt qua niềm tin đa nguyên về sự tồn tại độc lập của sự vật. Vì lí do này, tánh Không giống như một thứ thuốc chữa trị niềm tin tồn tại về sự hiện hữu độc lập của các thành phần. Không cũng giống như muối làm cho thức ăn ngon.

______________________________

( 6) Sư Tử Hiền, một luận sư thuộc Y Khởi Trung Quán – Du Già Tông

—————————-

***

Giống như thuốc và muối, tánh Không dùng thái quá, hay không đúng lúc, đúng nơi, có thể bị nguy hiểm và không ngon. Đây là lí do vì sao người ta không nên theo hay bám víu vào tánh Không. Giống như thuốc, Không được thiết kế để chữa lành bệnh nhận thức về sự tồn tại độc lập của sự vật. Một khi bệnh đó được chữa khỏi, ta nên ngưng sự chữa trị, không nên dai dẳng dùng thuốc nữa.Tương tự như thế, Không là muối làm kinh nghiệm ngon, nhưng chính muối thì không ngon, nên Không tự nó là một chế độ ăn kiêng không ngon.
Đó là vì Không đã tiết lộ và bày tỏ tính tương đối của các hiện tượng, nó trở thành chìa khóa đưa đến sự hiểu biết tánh bất nhị. Chúng ta có thể thấy sự công nhận tính tương đối – và theo sau là tính siêu việt – của những các đối nghịch ngang bằng như thế nào đối với nhận thức về tính bất nhị, hay không-khác biệt .
Tại điểm này, chúng ta đi vào giáo lý trung tâm của Đại Thừa về tính bất nhị, hay không khác- biệt về luân hồi và niết bàn. Điều này được chỉ ra trong Tâm Kinh khi Quán Thế Âm Bồ Tát nói Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc. Các uẩn khác cũng chẳng khác Không và Không cũng chẳng khác các uẩn. Bởi vậy, luân hồi và niết bàn, các uẩn và tính Không, các hiện tượng và những sự không tùy thuộc, có tùy thuộc và siêu đẳng, tất cả đều là những sự lựa chọn có quan hệ với nhau, chúng đều không hiện hữu độc lập. Thật thế, vì chúng có quan hệ nhau, nên mỗi một thứ rốt cuộc là không thật và Không. Cho nên tính nhị nguyên của luân hồi và niết bàn bị mất đi trong cái nhìn của Không. Không là con đường ra khỏi tất cả các thái cực, ngay cả các thái cực luân hồi và niết bàn.
Thật thế, giống như sự phân biệt giữa luân hồi và niết bàn chỉ là tương đối – là sự phân biệt chủ quan thuộc về cách nhận thức của chúng ta và không thuộc về chính luân hồi và niết bàn – vậy nên trong tánh Không, vắng mặt các lựa chọn khác, vắng mặt những đặc điểm về nguồn gốc và tịch diệt mà chỉ tương đối với nhau và không thật. Theo Tâm Kinh, vô minh, lão, tử, diệt vô minh, lão và tử; Tứ Diệu Đế đạt được và không đạt được cũng là không thật; Giống như những cái xà nhà, không một quan niệm nào mà không tùy thuộc lẫn nhau, có thể hiện hữu một cách độc lập được.
Tâm kinh dạy dựa vào trí Bát Nhã có đối tượng là Không, mà tất cả những Như Lai trong quá khứ đã đạt được giác ngộ viên mãn tối thượng. Vì lí do này, mà trí Bát Nhã, qua đó tánh Không được biết đến, được gọi là “Mẹ của Như Lai” – nói cách khác, từ đó mà Như Lai xuất hiện.
Trí Bát Nhã cũng giống như một người hướng dẫn mắt sáng dẫn một đám người mù đi tới mục tiêu. Những ba la mật khác (rộng lượng, đạo lí, kiên nhẫn, năng lực và tập trung) tự chúng cũng mù. Chúng không thể tìm ra đường đi tới mục tiêu Phật quả. Nhưng với sự giúp đỡ của con mắt Bát Nhã, chúng có thể đến mục tiêu ấy.
Lại nữa, trí Bát Nhã được so sánh với việc nung một cái bình đất chống vỡ trong lúc đi tới Phật quả, cũng vậy khi một Bồ Tát được huấn luyện và bước vào trí Bát Nhã, Ngài trở nên bền bĩ, vững chãi rất khó vỡ.
Nỗ lực nhằm cô đọng giáo lí bộ kinh Bát Nhã lớn hơn trở thành chỉ dẫn cốt tủy của Tâm Kinh được phản ánh thêm trong sự xuất hiện của thể thức miệng và lời chú mà chúng ta tìm thấy trong truyền thống Đại Thừa. Nhiều nỗ lực đó là những cô đọng về những ý tưởng tỉ mỉ dùng để phụ giúp trí nhớ cũng như cho thiền định. Trong Tâm kinh chúng ta thấy lời chú về trí Bát Nhã mà kinh dạy làm cho những cái không bình đẳng thành bình đẳng. Chúng ta có thể hiểu vì sao như vậy nếu chúng ta nhớ lại rằng trong tánh Không, tất cả sự trái ngược, tất cả sự chọn lựa, tất cả những thái cực, tất cả những đặc tính đều không hiện hữu. Lời chú trí Bát Nhã cũng được nói là để làm êm dịu tất cả sự khổ đau.Điều này cũng rất rõ ràng từ sự hiểu biết rằng, trong tánh không, chẳng có chúng sinh mà cũng chẳng có khổ đau hiện hữu.
Chúng ta có thể thấy tinh túy của trí Bát Nhã được diễn bày bằng vài hàng trong câu chú, Tadyatha, om, gate, gate, paragate, parasamgate, bodhisattva. “Vì vậy, Om, qua khỏi, qua khỏi, vượt qua khỏi, vượt qua khỏi, tới giác ngộ”(7 ). Đó là sự siêu việt tất cả những chọn lựa, tất cả những quan điểm, tất cả tính nhị nguyên biểu thị lối vào giác ngộ qua sự vượt khỏi tất cả các giới hạn, tính nhị nguyên và giáo điều.
Khởi từ sự thiền định thâm sâu suốt trong cuộc đối thoại giữa Quán Thế Âm Bồ Tát và Xá Lợi Phất trong Tâm Kinh, Đức Phật ngợi khen Đức quán Thế Âm về sự trình bày của Ngài về trí Bát Nhã, một sự trình bày phản ảnh quan điểm tối hậu, không phải quy ước. Tóm lại quan điểm tối hậu là quan điểm mà các chúng sinh, các đối tượng và nghiệp không có chỗ tại đó, trong khi quan điểm quy ước phù hợp với sự sử dụng quen thuộc trên thế gian, trong đó chúng sinh, các đối tượng và nghiệp được coi như hiện hữu thực sự. Kinh Trí Bát Nhã phản ánh quan điểm tối hậu, sinh ra bởi kinh nghiệm niết bàn. Ngay cả theo kinh điển Nguyên Thủy, đức Phật nói về trạng thái này rằng không phải đất mà cũng không phải nước, chẳng phải lửa mà cũng chẳng phải không khí, vô thủy vô chung, hiện hữu trong đó, và cũng không thể mô tả bằng từ ngữ hiện hữu, không hiện hữu, cả hai hoặc không phải cả hai.

_______________________________

( 7) Dịch nghĩa của câu chú: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ Đề Tát bà Ha

—————————-

***

Văn học Bát Nhã gợi ý rằng chúng ta có thể nhìn thấy tất cả mọi biểu tượng của tánh Không trong kinh nghiệm của riêng chúng ta – các vì sao, lầm lẫn của thị giác, đèn, ảo tưởng phép thuật, giọt sương, bong bóng nước, giấc mộng, ánh chớp, mây v.v… Tất cả những hiện tượng như vậy là những biểu lộ có thể nhìn thấy hay những biểu hiện của tánh Không. Trong bản chất có điều kiện, tùy thuộc và không thực chất của những hiện tượng này, chúng ta thấy những gợi ý của tánh Không được mở ra trong trí Bát Nhã./

 

**O**

Doãn Lê

2 phản hồi

  1. Cám ơn anh Doãn đã dịch bài này. Bát Nhã Tâm Kinh và Kinh Kim Cang là hai bài kinh Đại Thừa mà em Phượng thích nhất.

    Em thăm anh luôn khỏe mạnh, an vui.

  2. Phật pháp thậm thâm vi diệu. Lấy trí phàm phu mà diễn giải trí Bát Nhã của chư Phật cũng giống như lấy đèn cầy mong soi sáng thêm ánh mặt trời. Huống nữa, Bát Nhã Ba La Mật Đa là một trong những bộ kinh cốt tủy của tư tưởng Đại Thừa. Chỉ ước cùng nhau trao đổi, học hỏi, tu tập trong cái giới hạn hiểu biết của mình trong kiếp này. Cám ơn T. Phượng rất nhiều đã đồng hành cùng anh. Hãy luôn vui với cuộc sống nhé. Thực hành câu: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” sẽ “qua tất cả mọi khổ ách”. Chúc Ph. mọi điều an lạc.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: