• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 911 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 911 người theo dõi

Khai Thị Về Ái Dục – Hòa Thượng Tuyên Hóa

Vô Minh Là Căn Bản Của Sanh Tử

Vô minh tức là tham, sân, si, mạn, nghi. Năm thứ ác nghiệp nầy có thể khiến cho con người điên đảo đếnphát cuồng.

1. Tâm tham: Là đối với cảnh thuận, chúng ta sẽ khởi lòng tham ái đến nỗi không có thì không được. Thậm chí có người vì muốn được mục đích của mình mà bất chấp các thủ đoạn, bằng không họ chẳng cam lòng.

2. Tâm sân:Là khi gặp cảnh nghịch, chúng ta sẽ giận hờn và nổi nóng, như không chửi người thì cũng đánh người, thậm chí còn giết hại người nữa. Đóđều là do tâm sân hận tác quái, nó khiến con người mất cả lý trí và ý chí xử sự mọi việc. Người có tâm như thế, ắt sẽ làm cho xã hội chẳng được an ninh, trật tự.

3. Tâm si: Là người không có trí huệ, không biết phải trái, cũng không phân biệt được thiện ác, cho nên hồ đồ điên đảo, hậu quả là thành kẻ bất lương, tạo nhiều nghiệp tội.

4. Tâm mạn:Là tựđề cao mình và đè ép người khác. Tự cho chuyện gì mình cũng hay hơn, nổi bậc hơn người. Thứ hành vi cống cao ngã mạn nầy là điều tối kỵ, chúng ta không nên có.

5. Tâm nghi:Là người đối với việc chánh đáng lại sanh lòng hoài nghi, không tin lời nói của bất cứ ai. Người có thứ tâm lý như vậy là bấtthường, là sai lầm vì đã tự hạ thấp mình.

Năm loại tâm lý nầyđều là không bìnhthường,đều là do cái nhân vô minh dẫn đến. Người tu hành nhất định phải tiêu diệt vô minh, đừng để nó gây sóng gió thành tai họa vô cùng tận như vậy.

Vô minh khiến cho kẻ phàm phu chỉ biết dụng công vào mấy thứ tình dục. Họ nghĩ rằng chuyện tình ái ở thế gian là thật, cho nên họ không thể xa rời và cũng không nỡ buông bỏ nó. Do đó họ gắn bó với lục thân quyến thuộc một cách rối ren mà buông xả không đành. Rồi họ tạo ra biết bao thiện ác lẫn lộn, họ cũng không phân biệt được giữa ô nhiễm và thanh tịnh. Đời đời kiếp kiếp, họ cứ quay quanh trong vòng sanh tử luân hồi, vĩnh viễn không bao giờ ngừng. Cho nên nói vô minh là căn bản của sanh tử.

Người tu hành không có mấy thứ rắc rối đó đè nặng trong tâm, cho nên họ dễ được thanh tịnh, giải thoát và hết sanh tử. Nếu không cắt đứt vô minh, chúng ta vĩnh viễn sẽ bị nó chi phối, để rồi xuống địa ngục, chạy lên núi đao, hay là vào chảo dầu sôi. Lúc bấy giờ, chúng ta sẽ hối hận là lúc đầu sao mình không chịu tu hành tinh tấn. Nhưng rất tiếc là đã không còn kịp nữa.

Tôi xin khuyên quý vị nên tu hành cho kịp thời, đừng có tưởng là ngày tháng còn dài mà hẹn lần, hẹn lựa.

Bậc cổ đức có nói: “Đừng đợi đến già mới học đạo, mồ lẻ loi lắm kẻ thiếu niên.” Học đạo được một ngày là gần được Tịnh Độ thêm một chút. Như vậy từng chút từng chút, quý vị sẽ đến được cõi Tịnh Độ. Nếu quý vị không chuyên cần tu đạo mà lại muốn đến Tịnh Độ, thì sẽ không đến được đâu! Công việc trên đời, dù chúng ta có lãng phí thời gian để làm, rốt cuộc cũng chẳng được lợi ích gì. Nhưng chỉ cópháp môn tu hành là không lãng phí thời gian. Nếu quý vị tu được một phút thì được một phút lợi lạc. Cho nên nói: “Gom cát thành tháp,” tức là từng bước, từng bước không ngừng tiến tới, tự nhiên quý vị sẽ đến được bờ bên kia.

Giảng ngày 5 tháng 7 năm 1984

 

 

Giữ Miệng Phòng Tâm

Cổ đức có câu: “Thiện ác lưỡng điều đạo, tu đích tu, tạo đích tạo” (thiện ác hai con đường, đường tu và đường tạo). Ðiều này nói ra hoàn toàn xác đáng. Tu cái gì? Tu đường thiện. Tạo cái gì? Tạo nghiệp ác. Thiện tri thức cảnh giác chúng ta mà không bao giờ chán, có điều chúng ta ngu si, không biết lãnh giáo những điều ngay, cứ việc ta ta làm, chỉ biết lợi cho mình mà không nghĩ lợi cho người khác và, nói cách khác là chỉ biết tạo nghiệp ác, không tu thiện, cho nên không thể nào ra khỏi sáu nẻo trong vòng luân hồi.

Ý nghĩ của chúng ta kể ra thì vô lượng, vô biên, vô cùng tận. Niệm thì chạy lên thiên đàng, niệm thì xuống địa ngục. Vọng tưởng về thiện tức thuộc phạm vị thiên đàng, vọng tưởng về ác thì thuộc về địa ngục, do đó, chúng ta nhất cử nhất động, một lời nói một công việc làm, lúc nào cũng phải thận trọng, từng giờ từng khắc lưu tâm, đâu đâu cũng phải chú ý, trong ngoài như một.

Trông bề ngoài thì hành động rất tốt, nhưng bên trong thì đầy vọng tưởng, cái đó cũng không mang lại kết quả. Phải làm sao cho trong ngoài như một, không chạy theo vọng tưởng mới được. Có những người trong tâm thì đầy vọng tưởng, nghĩ rằng người ngoài không ai biết, rồi cứ như vậy ngày ngày vọng tưởng, cho đến khi xuống địa ngục cũng mang theo, mà chính mình thì không biết tại sao đọa địa ngục. Những hạng người như vậy thật đángthương!

Chúng ta là người tu học, ở chung phải giữ miệng. Ðại chúng ở chung một nơi, phảiđề phòng chuyện thị phi. Có câu nói rất chí lý: “Họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập.” Nghĩa là họa do bởi lời từ miệng thốt ra, bệnh cũng do từ miệng mang vào. Chúng ta không nên bạ đâu nói đấy, cố tránh chuyện phiền phức, giữ miệng cho kín là tốt hơn cả. Lại có câu: “Thị phi chỉ vì hay mở miệng, phiền nãođều do cưỡng xuất đầu.” Ðộc tọa phòng tâm, nghĩa là khi ngồi một mình chúng ta phải cẩn thậnđề phòng tâm ý, chớ theo vọng tưởng, nhất là các tư tưởng về dâm dục. Người xuất gia càng phải đặc biệt chú ý, quản lý kỹ càng cái tâm, không cho những tư tưởng vô ích đến quấy nhiễu.

Vọng tưởng thì ai ai cũng có, nhưng khi đã khởi vọng tưởng thì ta phải vận dụng các phương cách để khống chế, không cho vọng tưởng làm mưa làm gió. Những phương cách đó là hoặc ta niệm Phật, hoặc ta trì chú, hoặc giả ngồi thiền, bái sám, tóm lại kiếm một cái gì khác để làm, sao cho tinh thần tập trung lại thì sẽ không có vọng tưởng.

Người tu đạo, thứ nhất phảiphá được cánh cửa sắc dục. Nếu khôngphá được nó thì không có hy vọng tu tập thành công. Cả ngày mà đầu óc hồ đồ, tâm điên đảo, cũng không thành công. Cho nên tôi thực thà nhắn quý vị là chúng ta phải hàng phục cái tâm này. Hàng phục tâm chính là dứt cái niệm dâm dục. Nếu không đoạn trừ được nó thì dù tu cho đến tám vạn đại kiếp cũng chẳng khác gì nấu cát để hòng có cơm ăn, xưa nay chẳng có chuyện đó bao giờ.

Các vị có muốn tu thành quả thánh vô lậu không? Ðoạn dục cắt ái, thanh tâm quả dục, thì còn có chút hy vọng, nếu không, không hy vọng gì, tốt hơn là mau mau hoàn tục kẻo lãng phí thời gian!

Bất kể làphái nam hayphái nữ, hoặc giả là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, là người già hay trẻ nít, ai nói đạo lý chánh đáng thì ta nghe, ai nói không chánh đáng thì đừng có tin, chúng ta nhất định phải có con mắt chọnpháp (trạchpháp nhãn). Hợp đạo lý thì đi tới, không hợp đạo lý thì rút lui; chọn điều thiện mà theo, bất thiện thì sửa đổi, đó là quan điểm hết sức cơ bản của người tu.

Có người biết rõ lỗi của mình mà không sửa đổi, biết mà vẫn làm quấy. Những hạng người này rất khó giáo hóa, họ chẳng kham nổi Phậtpháp, chẳng thể học gì thêm. Người ta nói: “Gỗ mục khó đẽo gọt, tường bằng phân khó trét,” nếu chính mình không tự giúp cho mình, tự mình coithường mình, thì ai còn coi trọng mình, ai còn giúp đỡ mình nữa? Ðó là điều cần phải tự xét cho kỹ.

Phụ Lục: 

Kinh Lăng Nghiêm

Bốn Điều Răn Dạy Minh Bạch Về Tánh Thanh Tịnh

Hòa Thượng Tuyên Hóa lược giảng

Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thánh Thành

 

Không Dâm Tâm

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Nhược chư thế giới Lục-đạo chúng sanh, kỳ tâm bất dâm, tắc bất tùy kỳ sanh tử tương tục.”

Việt:  “Nếu chúng sanh trong Lục-đạo ở các thế giới mà tâm không dâm dục thì sẽ không bị cuốn theo dòng sanh tử tương tục.”

Giảng nghĩa:

“Nếu chúng sanh trong Lục-đạo ở các thế giới mà tâm không dâm dục thì sẽ không bị cuốn theo dòng sanh tử tương tục.”  Giả sử tại mọi thế giới, tất cả những chúng sanh trong sáu cõi là cõi trời, cõi A-tu-la, cõi người, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, và cõi súc sanh,đều không còn lòng dâm dục, hết sạch dục niệm, thì dòng sanh tử của họ sẽ dứt hẳn, họ sẽ không còn bị tùy thuộc vào dòng sanh tử cứ tiếp diễn liên tục, không hề gián đoạn đó nữa — sự sanh tử của họ được chấm dứt.

Kinh Văn: Hán Việt:  “Nhữ tu Tam-muội, bổn xuất trần lao, dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất.”

Việt:  “Ông tupháp Tam-muội vốn để thoát trần-lao, nhưng nếu không trừ bỏ tâm dâm-dục thì chẳng thể ra khỏi trần-lao.”

Giảng nghĩa:

“Ông tupháp Tam-muội vốn để thoát trần-lao.”  “Ông” ở đây là chỉ ngài A-Nan. Đức Phật nói rằng:  “Này A-Nan! Ông tu Định-lực cốt yếu là để vượt thoát trần-lao, ra khỏi sanh tử; nhưng nếu không trừ bỏ tâm dâm dục thì chẳng thể ra khỏi trần lao.  Nếu ông không đoạn trừ cái tâm dâm dục thì việc thoát khỏi trần-lao là chuyện chẳng thể có được, không thể nào thực hiện được!  Vì sao?  Vì tâm dâm dục chính là ‘trần’ (bụi bặm), tức là một thứ ‘trần lao’ kia mà!  Do đó, đừng nói là vi phạm bằng hành động, chỉ cần trong lòng ông dấy khởi một ý tưởng dâm dục, có cái dâm-tâm tồn tại, thì đó cũng chính là trần-lao rồi, và như thế là ông cũng vẫn chưa thoát ra khỏi nó được.  Cho nên, nếu muốn tu Đạo, muốn được khai ngộ thành Phật, mà lại không chịu dứt bỏ dâm-tâm, thì là chuyện chẳng thể nào xảy ra được.”

Do vậy, chỉ có những kẻ vô cùng si mê mới vừa muốn giữ cái tâm dâm dục lại vừa muốn được khai ngộ.  Tư tưởng này thuộc loại ngu si tột đỉnh, và những người mang tư tưởng này là những kẻ khó có thể giáo hóa nhất; cho dù bây giờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có giáng thế đi chăng nữa thì Ngài cũng không có cách nào làm cho họ đắc Đạo hay chứng quả vị được cả!  Cho nên, hạng người này là ngu dốt nhất, si mê nhất!

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Túng hữu đa trí, Thiền-định hiện tiền, như bất đoạn dâm, tất lạc Ma-đạo,thượng phẩm Ma-vương, trung phẩm ma-dân, hạ phẩm ma-nữ.”

Việt:  “Dầu có đa trí, Thiền-định hiện tiền, mà nếu chẳng dứt trừ dâm dụctất sẽ lạc vào Ma-đạo–thượng phẩm thì làm Ma-vương, trung phẩm thì làm ma-dân, hạ phẩm thì làm ma-nữ.”

Giảng nghĩa:

“Dầu có đa trí, Thiền định hiện tiền, mà nếu chẳng dứt trừ dâm dục tất sẽ lạc vào Ma-đạo.” Đức Phật lại bảo ngài A-Nan : “Cho dù ông có trí huệ và hễ ngồi Thiền là đạt được cảnh giới khinh an, cảm thấy tốt đẹp vô cùng, nhưng nếu ông không đoạn trừ tâm dâm dục thì ông sẽ bị trở thành Ma-vương.” “Thiền định hiện tiền”  tức là đã có khả năng nhập Định, công phu đã có chỗ thành tựu.  

“Thượng phẩm thì làm Ma-vương.”  Làm ma thì bậc cao nhất là gì? Đó là làm Ma-vương ở Lục Dục Thiên.  “Trung phẩm thì làm ma-dân, hạ phẩm thì làm ma nữ.”  Bậc trung bình của loài ma là gì?  Là ma dân, tức là dân chúng bìnhthường của loài ma.  Còn bậc thấp kém nhất của ma đạo là gì?  Là ma nữ, tuy là xinh đẹp nhưng vô cùng hèn hạ.  Về điểm này, người có trí huệ cần phải thận trọng và người thông minh cần phải chú ý! Đừng để cho mình bị hại bởi sự thông minh của chính mình, đừng tự cho mình là tài giỏi, phithường:  “Các người không hiểu được đâu, chỉ có tôi mới hiểu nổi!  Các người không biết gì cả, chỉ có tôi mới biết rành rẽ mà thôi!” Đó chẳng qua chỉ là thứ “tiểu trí tiểu huệ,” cái hiểu biết hạn hẹp, nông cạn.  Song, cái “tiểu trí tiểu huệ” ấy của quý vị có thể huỷ hoại cả tiền đồ của chính quý vị đấy!

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Bỉ đẳng chư ma, diệc hữu đồ chúng, các các tự vị thành Vô-thượng Đạo.”

Việt:  “Những loại ma ấy cũng có đồ chúng, tất cảđều tự xưng đã thành tựu Đạo Vô-thượng.”

Giảng nghĩa:

Quý vị xem, hạng người có chút “tiểu trí tiểu huệ” ấy vì không đoạn trừ dâm-tâm nên nói toàn những chuyện ái dục – anh yêu em, em yêu anh – cứ yêu qua yêu lại như thế rồi cuối cùng họ thành ma luôn!  Thành ma rồi thì sao nữa?  

“Những loại ma ấy cũng có đồ chúng.”  Chúng ma ấy cũng có đồ đệ, cũng có kẻ ủng hộ chúng.  “Tất cảđều tự xưng đã thành tựu Đạo Vô-thượng.”  Bản thân loài ma không biết xấu hổ, kẻ nào cũng tự xưng rằng:  “Tôi chính là Phật!  Chúng tôi đâyđều là những đấng tối cao, vôthượng!”  Hễ cái gì là to lớn, thì chúng xưng chúng là cái đó.  Chúng vốn là ma nhưng lại không chịu thừa nhận mình là ma, mà cứ xưng là Phật.  Phật thì cũng có Phật giả mạo vậy.  Trên thế gian này cái gì cũng có giả được cả, cho nên loài ma cũng có thể làm ông Phật giả.  Song le, chúng không chịu nhận chúng là thứ giả.  Chúng cho rằng chúng là thứ thiệt, và cũng là “thiênthượng thiên hạ duy ngã độc tôn”  (trên trời, dưới trời, chỉ mình ta là tôn quý) nữa!

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Ngã diệt độ hậu, MạtPháp chi trung, đa thử ma-dân xí thạnh thế gian, quảng hành tham dâm, vi Thiện-tri-thức, linh chư chúng sanh lạc ái kiến khanh, thất Bồ-đề lộ.”

Việt:  “Sau khi Ta diệt độ, trong thời MạtPháp sẽ có nhiều loại ma dân ấy hiện ra đông đảo ở thế gian, mở rộng sự tham dâm, lại tự xưng là Thiện-tri-thức, khiến cho chúng sanh bị sa vào hầm ái-kiến, lạc mất con đường Bồ-đề.”

Giảng nghĩa:

Trước khi nhập diệt, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng:  “Hiện nay Ta còn ở tại thế gian thì bè lũ Ma-vương không dám xuất hiện.  Song le, sau khi Ta diệt độ, trong thời MạtPháp, lúc PhậtPháp đang ở vào giai đoạn tàn lụn, thìsẽ có nhiều loại ma dân ấy hiện ra đông đảo ở thế gian, mở rộng sự tham dâm.”  “Thời MạtPháp” chính là thời đại của chúng ta hiện nay.  Vào thời điểm này, loại ma-dân ấy rất đông đúc và chúng đi khắp nơi nói chuyện dâm dục.  Bất luận nam hay nữ, kẻ nào cũng ưa thích dâm dục và đồng thời cũng muốn thành Phật, muốn được khai ngộ.  

Làm sao tôi nhận biết được “con ma” loại này ư?  Trước kia, có lần tôi gặp một người nọ – không cần phảiđề cập đến tên của ông ta – tự xưng mình là Phật.  Khi tôi nói rằng ông ta là ma, ông ta liền hỏi lại:  “Ai là ma?”  Tôi đáp: “Ông chính là ma đấy!”  Vì sao tôi biết được ư?  Vì ông ta cứ giở những trò của ma!  Ông ta chuyên môn nói chuyện tình cảm, yêu đương; lúc nào cũng:  “I love everybody.”  Ông ta lấy tư cách gì màthương yêu tất cả mọi người?  Thật là không biết xấu, không biết hổ thẹn!  

Thời MạtPháp, ma-dân nhan nhản khắp nơi khiến cho thế gian này như trong cơn hỏa hoạn, đâu đâu cũng rừng rực ngọn lửa dâm dục.  Những người thiếu hiểu biếtđều hùa theo bọn chúng:  “Họ nói nghe được lắm!  Những điều họ nóiđều rất có lý!” Đặc biệt là những thanh niên trẻ tuổi, ai nấyđều cảm thấy những điều chúng nói rất “tâm đầu ý hợp.”  Có câu:  

«Cùng mùi thối thì hợp nhau. »

(Xú vị tương đầu.)

Người này thì hôi hám, người kia cũng thối tha, bởi “cá mè một lứa” cho nên người này bảo người kia giỏi, người nọ khen người này hay.  Nếu không cùng “mùi,” chẳng cùng sở thích, thì sẽ không khen ngợi lẫn nhau ; bởi:  

« Khác chí hướng ắt không cùng nhau mưu sự được. »

(Đạo bất đồng tắc bất tương vi mưu.)

Tuy nhiên, nếu chí hướng giống nhau, lối suy nghĩ giống nhau, thì sẽ có trường hợp “người mù dắt người đui” xảy ra.  “Người mù dắt người đui” có nghĩa là kẻ đui mù mà lại dẫn đường cho người mù đui.  Quý vị thấy như thế có đángthương hay không chứ?  Tôi nói như vậy chẳng phải là muốn trách mắng người nào cả, nhưng quý vị phải biết rằng:

Hồ đồ dạy hồ đồ,

Dạy rồi chẳng ai hiểu,

Sư-phụ đọa địa ngục,

Đệ tử cũng xuống theo!

Gặp lại nhau ở địa ngục, sư-phụ mới ngỡ ngàng hỏi đệ-tử : “Ủa, sao con cũng ở đây?” Đệ-tử đáp:  “Thì thầy tới trước kia mà. Lẽ dĩ nhiên là con đi theo thầy thôi!”  Thì ra đôi bên đều không biết làm thế nào mình lại lọt vào đó được! Quý vị thấy có đángthương hay không?  

“Lại tự xưng là Thiện-tri-thức.”  Bọn chúng còn khoe khoang không ngượng miệng : “Tôi đến chỗ nọ để giảng Kinh. Tôi tới chỗ kia để give lecture. I give lecture to everybody.” Thật là buồn cười hết sức!  

“Khiến cho chúng sanh bị sa vào hầm ái-kiến, lạc mất con đường Bồ-đề.”  Chúng làm cho tất cả chúng sanhđều bị rơi vào hầm hố dâm dục và đi lạc ra khỏi con đường Bồ-đề.  Con đường Bồ-đề đã mất, không còn nữa, thì chạy đi đâu?  Chạy vô địa ngục!  Bấy giờ, sư phụ trông thấy đệ-tử lù lù bước vô thì kinh ngạc hỏi:  “Sao con cũng tới đây vậy? Đây chẳng phải là chỗ tốt đâu!” Đệ-tử chưng hửng đáp:  “Thầy mới là người tới trước kìa!  Con thì đương nhiên là phải theo thầy rồi, thầy là sư phụ của con mà!”  Thầy thở dài ngao ngán:  “Ui chao!  Lẽ ra con không nên theo thầy, bởi đây là một nơi đầy thống khổ!”

Kinh văn:

Hán Việt:  “Nhữ giáo thế nhân tu Tam-ma-địa, tiên đoạn tâm dâm, thị danh Như Lai, tiên Phật Thế Tôn, đệ nhất quyết định thanh tịnh minh hối.”

Việt:  “Vậy ông dạy người đời tupháp Tam-ma-địa, trước hết phải dứt trừ tâm dâm dục. Đó là lời minh huấn quyết định thứ nhất về tánh thanh tịnh của Như-Lai và chư Phật Thế Tôn thuở trước.”

Giảng nghĩa:

Sự khác biệt giữa “phản” (trái) và “chánh” (phải) – giữa Ma-vương và Bồ-tát – vốn rất vi tế; khác biệt như thế nào?  Bồ-tátthương xót và che chở tất cả chúng sanh với lòng từ-bi, chứ tuyệt đối không có lòng dâm dục.  Trong khi đó, Ma-vương đối với chúng sanh thì cứđề xướng “ái”, chuyên môn nói chuyện dâm dục, chú trọng dâm dục; thậm chí chúng còn nói rằng hễ tâm dâm dục càng nặng bao nhiêu thì khai ngộ được quả vị càng cao bấy nhiêu, và dùng tà thuyết ấy để hại người.  

Bồ-tát thì không có tâm dâm dục, các ngài đối với tất cả chúng sanh hoàn toàn không có sự phân biệt.  Có tâm dâm dục tức là ma.  Không có tâm dâm dục, chỉ đơn thuần xótthương và cứu giúp tất cả chúng sanh – đó mới chính là cảnh giới của chư Phật và chư Bồ-tát.  Mathương người là có mưu đồ, có tham dục.  Bồ-tát thương người thì không có tham dục.  Không có tham dục tức là không có tâm dâm dục.  Cho nên, trong Phật giáo có giảng về Thập Nhị Nhân Duyên như sau:  

Vô minh duyên Hành;

Hành duyên Thức;

Thức duyên Danh, Sắc;

Danh, Sắc duyên Lục Nhập;

Lục Nhập duyên Xúc,

Xúc duyên Thọ;

Thọ duyên Ái;

Ái duyên Thủ;

Thủ duyên Hữu,

Hữu duyên Sanh;

Sanh duyên Lão, Tử.

Và, đó cũng chính là điểm bất đồng giữa Phật-giáo với các giáo phái của Ma-vương ở thế gian.  

“Vậy ông dạy người đời tu pháp Tam-ma-địa, trước hết phải dứt trừ tâm dâm dục.Ông phải dạy cho tất cả mọi người ở thế gian muốn tupháp-môn Định-lực này biết rằng việc đầu tiên họ cần phải làm là dứt bỏ dâm-tâm, quét sạch dục-niệm. Đó là lời minh huấn quyết định thứ nhất về tánh thanh tịnh của Như-Lai và chư Phật, Thế-Tôn thuở trước.” Đạo lý này vốn do chính Đức Như-Lai và tất cả chư Phật, Thế-Tôn thuở trước dạy bảo.  Các ngài đã đưa ra lời giáo huấn rất rõ ràng:  “Nhất định phải cắt đứt, loại trừ tâm dâm dục!” Đây là điều kiện tất yếu thứ nhất, dứt khoát không được sửa đổi một mảy may. Đạo lý này là “quyết định nghĩa,” chứ không phải là “bất định nghĩa”; cũng chẳng phải là “không nhất định” – chẳng phải là có cũng được mà không có cũng được.  Cái tâm dâm dục dứt khoát phải không còn tồn tại.  Có tâm dâm dục tất sẽ bị lạc vào đường ma.  Nếu vẫn giữ tâm dâm dục mà mong khai ngộ, thì chắc chắn sẽ trở thành quyến thuộc của Ma-vương!

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Thị cố A-Nan, nhược bất đoạn dâm, tu Thiền-định giả, như chưng sa thạch dục kỳ thành phạn, kinh bách thiên kiếp, chỉ danh nhiệt sa.  Hà dĩ cố?  Thử phi phạn bổn, sa thạch thành cố.”

Việt:  “Cho nên, A-Nan, nếu kẻ tu Thiền-địnhmà không dứt trừ dâm tâm thì cũng như nấu cát sạn mà muốn thành cơm, dầu có trải tới trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là sạn nóng.  Vì sao?  Vì đó không phải là gốc của cơm, mà chỉ là cát sạn!”

Giảng nghĩa:

Quý vị xem, ở đây Phật lại nêu ra một tỷ dụ nữa. Đức Phật bảo ngài A-Nan:  “Ông chưa tin ư? Ông chưa tin thì Ta sẽ giảng nghĩa cho ông rõ.”  Và Đức Phật dạy tiếp:  “Cho nên, A-Nan, nếu kẻ tu Thiền-địnhmà không dứt trừ dâm tâm thì cũng như nấu cát sạn mà muốn thành cơm.  Vì lẽ ấy cho nên, A-Nan à, giả sử ông không đoạn trừ tâm dâm dục mà ngày ngày cũng ngồi Thiền, cũng tu hành, tất ông sẽ vừa tu hành vừa bị lậu thoát. Ông tu được một phần thì lậu thoát mười phần, tu được mười phần thì lậu thoát mất một trăm phần. Ông muốn ngồi Thiền mà lại không chịu dứt bỏ dâm-tâm ư? Ông vừa muốn ngồi Thiền để được khai ngộ, lại vừa muốn tìm cầu thứ lạc thú điên đảo ấy, thì chẳng khác nào muốn nấu cát và sạn cho thành cơm vậy.

Ông đem cát sạn đi nấu, dầu có trải tới trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là sạn nóng.  Dù ông cứ nấu như thế trong suốt cả trăm ngàn kiếp đi chăng nữa, thì cũng chỉ có thể gọi đó là ‘sạn nóng’ mà thôi, chẳng có công dụng gì cả.  Vì sao?  Do duyên cớ nào ư?  Vì đó không phải là gốc của cơm, mà chỉ là cát sạn!  Thứ mà ông đem nấu chính là cát sạn, chứ không phải là gạo, không có chất liệu của cơm!  Nếu ông muốn khỏi dứt bỏ dâm tâm mà vẫn được khai ngộ thì cũng tương tự như nấu cát sạn mà mong thành cơm, ao ước cát sạn biến thành lúa gạo vậy.”  

Khi không còn dâm-tâm thì sẽ không thấy có tướng nam tướng nữ, không còn phân biệt giữa mình với người, và cũng không thấy có tướng chúng-sanh, tướng thọ-giả nữa.  Có những người không biết hổ thẹn, dám nói rằng: “Tôi là người như thế đấy!”  Chỉ nói suông như vậy thì chẳng đáng tin.  Không có gì làm bằng chứng thì làm sao quý vị biết được mình là người như thế?  Nếu quả thật quý vị là người như thế thì quý vị phải là người hoàn toàn không biết mình là người như thế mới đúng; và quý vị cũng sẽ không nói:  “Chứ sao!  Tôi không có tâm dâm dục!”  Người đã hết sạch dục niệm thì không có thứ kiến giải ấy.  Không có, tức là không có.  Họ chẳng làm rùm beng, chẳng quảng cáo, chẳng đăng báo, và cũng chẳng khoe khoang:  “Tôi là người như thế đấy!” Chỉ một việc tự rêu rao, tự quảng cáo cho mình là đã không phải rồi; cho nên mọi người cần phải chú ý đến điểm này!  

Nếu quý vị quả thật không có tâm dâm dục, thì quý vị sẽ:

Mắt nhìn hình sắc, trong chẳng có,

Tai vẳng chuyện đời, tâm chẳng hay!  

(Nhãn quán hình sắc, nội vô hữu

Nhĩ thính trần sự, tâm bất tri.)

Khi mắt nhìn biết bao hình sắc mà trong lòng chẳng thấy có gì hiện hữu và tai nghe những âm thanh êm dịu mà tâm trí lại không hay không biết gì cả, tức là đã có được chút “hỏa hầu.”  Tâm phải không dao động, không một ý nghĩ nào dấy khởi, dục-niệm phải hoàn toàn không còn nữa, thì mới là đúng thật.  Nếu có những lúc quý vị vẫn còn tơ tưởng đếnphái nữ, thì vẫn chưa được.  

Có một người nọ sau khi khai ngộ rồi thì tới báo cho Sư-phụ của mình biết và thỉnh ngài khai thị ấn chứng.  Vị Sư-phụ hỏi:  “Ông khai ngộ cái gì thế?”  Anh tathưa:  “Ồ!  Trước kia con hoàn toàn không hiểu, nhưng nay thì con biết được rằng sư-cô là đàn bà!”  Thì ra bây giờ anh ta mới biết rằng sư-cô, tức là Tỳ-khưu-ni, là đàn bà!  Vị Sư-phụ bèn dùng Phật-nhãn để quán xét:  “Ờ!  Người này quả thật đã khai ngộ rồi,” và liền ấn chứng cho anh ta:  “Ông được rồi đó!”  

Hẳn quý vị sẽ nghĩ:  “Ai mà không biết điều đó?”  Thế nhưng, người chưa khai ngộ thì sẽ không nói được câu ấy.  Nhờ được khai ngộ rồi, cho nên người đệ tử này mới thốt ra một câu như thế!  Vả lại, anh ta không thể nào dối gạt người khác được, vì Sư-phụ của anh ta có Phật-nhãn, ngài đã dùng Phật-nhãn quán sát và biết được đệ tử của mình đã đắc Đạo, đã chứng được Sơ-quả A-la-hán, nên ngài mới ấn chứng cho, nói rằng:  “Đúng vậy!”

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Nhữ dĩ dâm thân, cầu Phật diệu quả, túng đắc diệu ngộ, giai thị dâm căn, căn bản thành dâm, luân chuyển Tam-đồ, tất bất năng xuất.  Như Lai Niết-bàn, hà lộ tu chứng?”

Việt:  “Ông lấy dâm-thân mà cầu diệu-quả của Phật, cho dẫu có đắc diệu-ngộ thì cũng đều là dâm-căn.  Căn bổn đã thành dâm, tất phải luân chuyển trong Tam-đồ, không thoát ra được.  Thế thì Niết-bàn của Như-Lai do đường nào mà tu chứng?”

Giảng nghĩa:

Đức Phật dạy ngài A-Nan:  “Ông có thích cô con gái của Ma-Đăng-Già ấy, như thế có nghĩa là không những tâm dâm dục mà ngay cả cái thân dâm dục của ông đều vẫn còn tồn tại. Ông lấy dâm-thân mà cầu diệu quả của Phật, cho dẫu có đắc diệu-ngộ thì cũngđều là dâm-căn.  Nếu ông dùng cái thân dâm dục để cầu mong chứng đắc quả vị nhiệm mầu của Phật, cho dù ông có đạt được đạo lý vi diệu đi chăng nữa, thì cũng còn vướng mắc cái gốc rễ dâm dục mà ông chưa chặt bỏ được.  Căn bổn đã thành dâm, tất phải luân chuyển trong Tam-đồ, không thoát ra được.  Với cái gốc là dâm dục, thì tương lai ông nhất định sẽ bị đọa vào Tam-đồ.  (“Tam-đồ” hay “Tam ác đạo,” tức là ba con đường xấu ác–địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.)  Như thế, ông dứt khoát không thể nào ra khỏi ba đường ác ấy được, mà chắc chắn sẽ bị chuyển thân sanh làm súc sanh, ngạ quỷ, hoặc đọa địa ngục.  Thế thì Niết-bàn của Như-Lai do đường nào mà tu chứng?  Vậy ông căn cứ vào cái gì, nương theo con đường nào để có thể chứng được quả vị Niết-bàn của Phật?”

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Tất sử dâm cơ thân tâm câu đoạn, đoạn tánh diệc vô, ư Phật Bồ-đề tư khả hy ký.”

Việt:  “Phải làm cho dâm-cơ của thân và tâmđều dứt, và tánh ‘dứt’ ấy cũng không còn, thì mới mong đạt được quả Bồ-đề của Phật.”

Giảng nghĩa:

 “Phải làm cho dâm-cơ của thân và tâmđều dứt. Ông nhất định phải dứt bỏ dâm-cơ của thân và dâm-cơ của tâm.”  “Dâm cơ” tức là một niệm dâm dục nhỏ nhất, vi tế nhất.  “Dâm cơ” cũng có nghĩa là vô minh; do đó, cần phải dứt trừ vô minh.

“Và tánh ‘dứt’ ấy cũng không còn, ngay cả cái biết về tánh ‘dứt’ ấy ông cũng phải không được có nữa, như thếthì mới mong đạt được quả Bồ-đề của Phật, mới có thể nuôi hy vọng trên con đường giác ngộ của Phật vậy.”

Kinh Văn:

Hán Việt:  “Như ngã thử thuyết, danh vi Phật thuyết; bất như thử thuyết, tức Ba-Tuần thuyết.”

Việt:  “Như lời Ta nói đây mới gọi là lời Phật nói; nếu chẳng nói như vậy, tức là lời của Ma Ba-Tuần.”

Giảng nghĩa:

 “Như lời Ta nói đây mới gọi là lời Phật nói; nếu chẳng nói như vậy, tức là lời của Ma Ba-Tuần.  Những lời như Ta giảng đây mới đích thực làPháp do Phật nói ra.  Nếu lời nói không phù hợp với đạo lý của Ta thì đó là lời của Ma-vương vậy.”  “Ba-Tuần” là tiếng Phạn, có nghĩa là “ác giả,” kẻ ác.  Ma Ba-Tuần tức là Ma-vương, vua của loài ma.  

Người đến nghe Kinh nhất định làđều sáng mắt.  Người mù thì không thể đến nghe Kinh, cả người điếc và người câm cũngđều không thể đến để nghe Kinh được.  Những kẻ đến đây nghe Kinh thìđều càng nghe càng thông minh, chứ không phải càng nghe càng ngu si.  Do đó, bây giờ mọi người nên mở con mắt trí huệ chân chánh của mình ra và hướng nhĩ-căn chân chánh của mình vào trong để lắng nghe tự tánh, chứ đừng lăng xăng tìm kiếm ở bên ngoài nữa. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói với quý vị trong ngày hôm nay!  

 

Túy Phượng chuyển bài

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Blog Chuyên Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d người thích bài này: