Phạm Duy, Người Viết Nhạc Tình – Bùi Bảo Trúc

Đọc thêm : Phạm Duy: Âm nhạc, nhục tình và sự chết

Phạm Duy có một số lượng ca khúc hết sức đồ sộ. Nói rằng ông là người viết nhiều nhất trong số các nhạc sĩ Việt Nam thì chắc chắn không phải là điều còn cần phải đem ra tranh cãi nữa.

Ông viết đủ mọi thể nhạc: trường ca, truyện ca, kháng chiến ca, bé ca, đạo ca, tục ca, tình ca… Nhưng căn bản, đầu tiên và cuối cùng, ông vẫn là một nhạc sĩ viết tình ca, trước sau vẫn chỉ như thế. Ông có thể được biết tới qua những loại nhạc khác, nhưng ông vẫn trung thành và thuỷ chung với nhạc tình hơn hết.http://www.phattuvietnam.net/thumbnail.php?file=2011/bl/phamduy_504941771.jpg&size=article_medium

Bản nhạc tình đầu tiên ông viết là bài Cô Hái Mơ, ca khúc ông đóng góp phần nhạc cho một bài thơ của Nguyễn Bính. Cô Hái Mơ ra đời năm 1942, như ông cho biết, là một trong những ca khúc cải cách sơ khởi của nền tân nhạc Việt. Bài hát này, cũng như tác phẩm của các nhạc sĩ tuổi tác trên dưới, cùng thời với ông, được viết để đáp ứng đòi hỏi của giới thanh niên thời đó, thế hệ chỉ được nghe các ca khúc Tây phương du nhập vào Việt Nam với những giọng ca của âm nhạc Pháp. Tuổi trẻ muốn có những ca khúc mà Lê Thương gọi là “bài hát ta, điệu Tây”, những ca khúc viết về tình yêu sử dụng ngôn ngữ và nhịp điệu mới, trình tấu bằng nhạc cụ Tây phương, đi ra khỏi những dòng nhạc cổ truyền với nhịp xênh, tiếng phách không còn hấp dẫn giới nghe nhạc trẻ tuổi và Tây học nhiều nữa.

Như thế, ông bước vào con đường sáng tác, khởi đầu bằng một tình khúc. Ông có thể không coi đó là một đóng góp hoàn toàn của riêng ông vì phần lời ca vẫn là của một người khác. Bài Cô Hái Mơ được ông đem đi hát ở nhiều nơi trong nước, đem tới người nghe nhạc Việt, một sinh hoạt mới mẻ đầu thập niên 40, một ca khúc khác hẳn những gì người ta được nghe trước đó. Thành phần thính giả trẻ tuổi, Tây học ở các thành thị lúc ấy đang muốn có những đổi mới trong âm nhạc.

Khởi đi bằng một tình khúc, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945 đã kéo Phạm Duy đi sang một hướng đi khác. Con đường kháng chiến chống Pháp mà ông và những người cùng tuổi ông từ bỏ cuộc sống ở các thành thị, một cuộc sống tương đối yên lành để dấn thân vào. Điều này thấy rõ qua tư tưởng trí thức thành thị, tiểu tư sản trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Cuộc kháng chiến, có cái lãng mạn và rất nhiều nét làm dáng tiểu tư sản mời gọi. Những thành phần này lần đầu tiên có được chuyến lên đường có một mục đích hẳn hoi, không chỉ là “rũ áo phong sương trên gác trọ”, không chỉ để đi một chuyến, để có thể làm “người ấy bên sông đứng ngóng đò” nữa. Kháng chiến và cách mạng là những cái cớ rất thuận tiện cho trí thức trẻ để làm một chuyến lên đường mặc dầu không ai có thể phủ nhận lòng yêu nước rất có thực của họ.

Cái lãng mạn tiểu tư sản làm dáng đó khiến cho Phạm Duy bỏ thành phố đi kháng chiến, nhưng trong ba lô của ông vẫn là các tình khúc.

Bài Chinh Phụ Ca viết năm 1945 của ông đầy những hình ảnh lãng mạn tình ái mượn từ những Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, từ tráng sĩ Tiêu Sơn. Đây là chàng:

…Chàng ngồi trên yên, mơ bóng dáng em

Mịt mù trong đám khói tên

Bâng khuâng mắt nhìn tay kiếm

Không sao dấu đôi lệ hiền

Còn đây là nàng:

...Rồi nhìn qua song em thấy trước sông

Ngựa hồng âu yếm bước sang

Trên lưng có chàng trai tráng

Mang theo biết bao nhiêu ngày vàng…

Ở giữa những tình khúc lồng trong khung cảnh lãng mạn cổ điển, ông viết Xuất Quân (1945), Chiến Sĩ Vô Danh (1945), Thu Chiến Trường (1946), Nợ Xương Máu (1946)…

Nhưng ông lại vẫn trở về với những ca khúc đẫm mùi lãng mạn. Như Cây Đàn Bỏ Quên (1945) hay Khối Tình Trương Chi (1945). Làm thế nào chối bỏ được nét tình ái trong những câu:

Hôm xưa tôi đến nhà em

Ra về mới nhớ rằng quên cây đàn…

Hôm sau tôi đến nhà em

Cây đàn nằm đó nhưng em đâu rồi...

mặc dù lời ca Cây Đàn Bỏ Quên còn giản dị đến hơi ngây ngô và thêm nét khờ dại ở trong?

Bài Khối Tình Trương Chi được viết ở một trình độ cao hơn nhờ khung cảnh và cái gốc cổ tích của câu truyện. Phạm Duy đưa vào phần lời ca của bản nhạc những hình ảnh vô cùng lãng mạn:

…Hoa lá quên giờ tàn…

Ấu yếm nâng tà quạt

Hôn gió đưa về thuyền

Tưởng người trên sóng ru thần tiên…

Nâng chén nơi ngàn trùng

Lệ sầu tuôn xuống câu hò khoan…

Trở về Hà Nội năm 1946, cuộc tình với một vũ nữ đã trở thành cảm hứng cho bài tình ca mà ông cho là đích thực và đầu tiên của ông, bài Tình Kỹ Nữ. Bài ca làm nhớ đến Tì Bà Hành của Bạch Cư Dị, cũng “cùng một lứa bên trời lận đận ” tuy chiều dài của bài hát không thể so sánh được với bài trường thi kể chuyện người ca kỹ bến Tầm Dương:

Đêm nay đôi người khách giang hồ

Gặp nhau tình trăng nước

Sánh vai nhịp bước giang hồ

Kề vai ước xây nhà bên suối

Kề môi ước gây vài đường tơ

…Ta nâng niu làn dư âm

Của khách năm xưa yêu nàng…

Lòng ta nhớ cung đàn mùa xưa…

Năm 1946, ông lại bỏ Hà Nội đi lên những tỉnh miền Bắc và khởi viết một loạt ca khúc mới, những bài mà ông gọi là Thanh Niên Ca để đáp lại nhu cầu trong giai đoạn này. Đó là các ca khúc Nhạc Tuổi Xanh, Về Đồng Hoang, Đường Về Quê, Thanh Niên Ca, Thanh Niên Quyết Tiến…

Trong năm 1947, người ta ghi nhận ông viết khoảng 40 bài hùng ca, quân ca, kháng chiến ca như thế. Tuy đa số mang những hình ảnh, ca từ hùng tráng, nhưng thảng hoặc, vẫn có những ca khúc kháng chiến mang theo rất nhiều hình ảnh lãng mạn. Chính ông cũng nhìn nhận điều đó như ông viết trong hồi ký: “Những bản nhạc kháng chiến ngoài nhạc tính hào hùng, còn có thêm chất lãng mạn” (Hồi Ký Thời Cách Mạng Kháng Chiến trang 92).

Giữa không khí nhạc hùng, nhạc kháng chiến như thế, ông cho ra đời, cũng ở Lào Kai năm 1947, một ca khúc rất tiểu tư sản, từ nhạc điệu đến lời ca. Phần nhạc, ông dùng Tango, loại nhạc lúc ấy đi liền với Ấu châu ăn chơi, với đèn mờ, tiếng phong cầm, tiếng chổi quét trên mặt trống. Lời ca ông viết là một bâng khuâng giữa cây cầu, nhìn xuống dòng nước, một lựa chọn:

…Người đi chưa hết hương sầu lữ thứ

Hồn theo cánh gió quên tình xa xưa

Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa

Mộng về đêm đêm khát vùng trán ngây thơ

Bên cầu biên giới

Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi

Lòng tôi sao vẫn còn biên giới

Đời tôi sao vẫn ngừng nơi đây

Bài Bên Cầu Biên Giới là một bản nhạc tình hiếm hoi vào thời đó nên được phổ biến rộng rãi và nhanh chóng.
……..

Sau bài Bên Cầu Biên Giới, Phạm Duy viết một ca khúc khác cũng lãng mạn không kém. Bài Tiếng Đàn Tôi viết năm 1947 ở Chợ Đại, Cống Thần là một tình khúc …..

Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt

Với bao tiếng tơ xót thương đời

Vì cuộc tình đã chết một đêm nao

Lúc trăng hãy còn thơ ấu…

Ở đoạn gần cuối, Phạm Duy viết:

Có tiếng hát ru hồn tôi

Ru cho đau thương linh hồn đắm đuối...

Phạm Duy có thể bỏ văn nghệ kháng chiến nhưng ông không thể bỏ tình ca. Những tình khúc lãng mạn ông viết trong những năm cuối của thập niên 40 đưa đến một quyết định dứt khoát: ở với tình ca …..

Câu cuối của Tiếng Đàn Tôi là:

Lạnh lùng em đã rời tôi.

Nhưng trước khi trở về Hà Nội, ông còn viết một hai bài tình ca cho một khúc quanh tình cảm quan trọng trong đời sống của ông. Bài Đêm Xuân viết ở Chợ Neo, Thanh Hoá năm 1948:

Đêm qua say tiếng đàn

Đôi chim uyên tới giường

Chim báo tin Xuân đã về trong giấc mộng

Đêm Xuân là bài hát ngợi ca hạnh phúc đầu tiên và lớn nhất của ông. Rồi bài Chú Cuội trong đó thấp thoáng tình yêu dành cho cô Hằng ông cũng viết trong năm 1948 tại Thanh Hoá.

Phần lời ca của hai bài tình ca này cho thấy nhạc tình của Phạm Duy mang những nét cá nhân hơn, không còn là những ca khúc viết cho những mối tình mà chính ông gọi là vu vơ, tưởng tượng hay ở ngôi thứ ba nữa. Những bài ca trước đó, trong cái nhìn của Phạm Duy, không phải là những tình khúc viết cho mình, cho chính ông, cho tác giả. Ngôn ngữ dùng để đặt lời cho hai ca khúc Đêm Xuân và Chú Cuội thoát ra khỏi những ước lệ của những bài hát đề cập đến tình yêu trước đó, khi ông còn phải mượn chút Chinh Phụ Ngâm, chút cổ tích. Ngôn ngữ giản dị, thân mật, gần gũi nhưng không phải là không lãng mạn và thiếu chất thơ:

… Chưa quen nhau lúc đầu

Em nghe theo tiếng sầu

Ôi khúc ca nuôi mối tình muôn sắc mầu

Em phôi pha tháng ngày

Vì lúc trăng khúc đây có đàn đêm ấy

Đã ru trái tim này

Hồn em tìm nương náu

Tình em chờ thương đau

Lòng em chưa tàn, xin đừng phụ nhau…

….

Bài Cành Hoa Trắng viết sau đó, năm 1950 ở Thanh Hoá nghe đầy không khí lãng mạn cổ tích kể chuyện nang tiên Giáng Hương bị đầy xuống trần chính là ẩn dụ của chuyến đi khỏi vùng kháng chiến của nhạc sĩ họ Phạm. Ông từ Thanh Hoá về Hà Nội và đi thẳng vào Sài Gòn giữa năm 1951.

Cành Hoa Trắng với ca từ lãng mạn cũng là bài tình ca cuối cùng ông viết khi còn ở với kháng chiến. Thái độ dứt khoát nhạc khẩu hiệu để về lại với tình ca cũng được Phạm Duy khẳng định từ đó.

Phạm Duy và gia đình vào Sài Gòn định cư, nhưng qua những bản nhạc ông viết trong mấy năm sau đó, người ta thấy ông vẫn còn loay hoay với cuộc sống, với một khung cảnh sống mới mà những kỷ niệm về miền đất cũ, quê hương miền Bắc bỏ lại vẫn níu kéo những tình cảm của ông: con sông đào, vòm tre non, khói ấm hương thôn, mảnh đời ngây thơ, tóc sương mẹ già, tiếng ru nỗi niềm thơ ấu, khói lam vương, tâm hồn chìm xuống….

Ông viết Tình Hoài Hương, Bà Mẹ Quê, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê… và một loạt những bài hát về miền đất dung thân mới như Tiếng Hò Miền Nam, Tình Nghèo, Hò Lơ…

Tiếp tục dòng nhạc đó cho đến năm 1957. Nhìn lại, ông thấy là khoảng gần 10 năm, từ năm 1948 đến năm 1957 là những năm nhạc tình của ông đã ngủ một giấc khá dài.

Ở trang 88 của cuốn Ngàn Lời Ca, Phạm Duy viết rằng trong những năm đó, ông đã không soạn một bản nhạc tình nào cho riêng ông. Ông nhìn nhận trong những năm đó, ông chỉ viết được những bài ca xưng tụng tình yêu của những đôi tình nhân khác ở thôn quê (Vợ Chồng Quê) hay ở thành thị (Phố Buồn)… Ông cũng đem một số thơ ra làm công việc phổ nhạc, cho chúng một đời sống âm thanh. Và vẫn là những bài thơ tình là những bài ông thành công nhất khi phổ nhạc, những thơ của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư…

Nhưng thực ra, Phạm Duy không hề xa rời hẳn tình ca như ông nói vì chính những bài ca ông nói là viết cho những cặp tình nhân, những đôi lứa khác như Vợ Chồng Quê hay Phố Buồn cũng là những tình ca, những ca khúc nói về tình yêu đôi lứa…

Và luôn cả những bài mà ông cho là những bước đi vào với thiên nhiên như Hoa Xuân (1953), Xuân Thì (1953), Tơ Tình (1956), Dạ Lai Hương (1953)… chất tình ca vẫn thấy rất rõ cả trong lời ca cũng như thể nhạc dùng để chuyên chở.

Nhưng năm 1957, ông lại trở về với việc viết tình ca. Và những bài tình ca viết trong giai đoạn sau 10 năm đã rất khác với những tình ca của những năm trước. Thuở ” tình xanh khi chưa lo sợ” đã qua đi.

Những bài Tìm Nhau, Thương Tình Ca… của gia đoạn này không còn là những bài ngợi ca tình yêu trong sáng như buổi sáng, như bình minh của mùa xuân hoa cỏ tốt tươi nữa:

…Tìm nhau như Thiên Cổ tím Ngàn Thu

Tìm nhau trong thống khổ

… Tìm nhau trong câu than thở

Tìm đâu môi em đỏ

Tìm đâu mây trong mắt

Tìm cho ra mái tóc ngây thơ đó…

Đó là những tình ca tan nát, bất hạnh, những bước dìu nhau sang bên kia thế giới, dìu nhau nương thân ven chín suối… đưa nhau vào ngàn thu.

Và chính trong những năm từ giữa thập niên 50 đến đầu thập niên 60, Phạm Duy lại quay trở lại với việc phổ nhạc những bài thơ tình mỗi khi ông thấy “không đủ lời ca và có đủ tấm lòng để nói lên tất cả những hoan lạc và khổ đau của cuộc tình” (Ngàn Lời Ca trang 110) trong đó có một số thơ của Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Bích Khê, Cung Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên…

Việc chọn những bài thơ của các nhà thơ vừa kể và phổ rất thành công những bài thơ tình đó cũng lần nữa cho thấy Phạm Duy là người viết nhạc tình và viết thành công nhất. Sự kiện các ca khúc phổ từ thơ được phổ biến rộng rãi, đem tên tuổi của các nhà thơ này tới cho những người thông thường không đọc thơ hay rất ít khi đọc thơ cho thấy thành công của Phạm Duy. Phải có một hồn nhạc tình mới làm được công việc ông đã làm khi đem âm nhạc vào thơ.

Điều đó cũng còn được thấy qua những đoạn ca dao được ông đem viết thành nhạc, phát triển thêm để thành những tình ca mới bằng cái nền dân ca. Chẳng hạn như Bài Ca Sao, Bài Ca Trăng, Đố Ai…

Đem những đầu tư của ca dao, ông đưa vào các trường ca Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam để một số tiểu khúc có thể một mình trở thành những tình ca ngắn mà Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi là một thí dụ.

Những tình khúc kế tiếp như Ngày Đó Chúng Mình (1959), Đừng Xa Nhau (1958), Mưa Rơi (1960), Đường Em Đi (1960), Mộng Du (1959), Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời (1958), Còn Gì Nữa Đâu (1960), Nước Mắt Rơi (1961), Tạ Ơn Đời (1959), Một Bàn Tay (1959) đều nói đến chia cách, lìa xa, đứt đoạn, chết chóc của một hay những mối tình mà người trong những cuộc tình ấy, trong gặp gỡ đã có chấm dứt, biệt ly và tan vỡ.

Người viết những nhạc khúc như thế không phải tự nhiên mà mượn ý của Hoài Trinh để viết Kiếp Nào Có Yêu Nhau năm 1958:

… Hoa xanh đã phai rồi…

Môi nhăn đã quên cười…

Kiếp nào có yêu nhau

Thì xin hẹn đến mai sau

Hoa xanh khi chưa nở

Tình xanh khi chưa lo sợ...

Trong khoảng một thập niên, nhạc tình của Phạm Duy, sau khi thức dậy từ giấc đông miên đằng đẵng, lại cất lên, nhưng bằng những khổ đau của cuộc tình không trọn vẹn, không thể đi lùi mà cũng không thể đi tới.

Trong ca khúc Đừng Xa Nhau ông viết:

… Đừng đi mau để mãi mãi

Là chiếc bóng đậm mầu

Còn theo nhau tới muôn đời sau...

Trong Ngày Đó Chúng Mình:

…Ngày đó có em ra khỏi đời rồi

Và mang theo trăng sao chết cuối trời u tối…

Ngày đó có bơ vơ lạc về trời

Tìm trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới

Ngày đó có kêu lên gọi hồn người

Trùng dương ơi! Có xót xa cũng hoài mà thôi!

Và đây là mấy câu trong Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời:

… Nếu một mai không còn ai

Đứng bên kia đời trông vòi vói

Không còn ai! Đâu còn ai?

Trong ngày mai có dư hương người

Chỉ là giăng dối mà thôi

Nếu về sau em có qua cầu

Không chẳng vì sầu, thương chẳng còn đâu?

Mà nói chuyện quên nhau

Nếu vì sao quay gót cuốn mau

Dấu chân in sâu vết không lâu

Chẳng nợ gì nhau…

Dường như Phạm Duy, trong đời sống sáng tác của ông, cứ mỗi 10 năm, ông lại tự làm mới mình. Thập niên 1947 đến 1957, rồi 1957 đến 1967.

Nếu thập niên 1947 đến 1957 được đánh dấu bằng những tình ca tan nát khổ đau, thì thập niên kế tiếp lại đem tới cho Phạm Duy, người viết nhạc những cảm hứng mới. Như bừng thức dậy, vùng lên, bước qua vùng bóng tối của những mối tình mang lại toàn thương tích, bất hạnh thương đau, Phạm Duy viết một loạt tình ca mà ông gọi là Tình Ca Mùa Hạ, trong đó, mùa hạ bừng lên chói chan trước khi mùa thu của cuộc đời tràn tới. Ông viết Phượng Yêu, Hạ Hồng, Ngày Tháng Hạ, Gió Thoảng Đêm Hè trong mấy năm đầu của thập niên 70.

Ngôn ngữ dùng để đặt lời cho những ca khúc này là những ngôn ngữ táo bạo, không còn mềm mại, tròn trĩnh như trong Thương Tình Ca, Ngày Đó Chúng Mình, Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời… nữa. Ngôn ngữ hừng hực, nóng bỏng, hối hả đầy dục tính như trong Hạ Hồng:

…Đôi ta chỉ có một mùa Hè thôi

Đôi ta chỉ có một cuộc tình thôi

Mùa hè vừa tới nơi rồi

Đôi ta chỉ có một mùa mà thôi

Đôi ta chỉ có một lần đời vui…

Mùa hè đi qua như làn gió

Mùa hè trong ta đã đỏ hoe

Mùa hè đôi ta bốc lửa cháy...

Khoảng mấy năm giữa cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, không biết vì nguyên do gì, Phạm Duy một loạt ca khúc mà ông gọi là Tình Ca Một Mình. Khi xếp tựa của những bài ca này cạnh nhau, có thể phần nào người ta nhìn ra được những biến cố xẩy ra quanh đời sống tình cảm của ông: Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài (1969), Nghìn Trùng Xa Cách (1969), Nha Trang Ngày Về (1969), Cỏ Hồng (1970), Mùa Thu Chết (1970), Giết Người Trong Mộng (1970) Trả Lại Em Yêu (1971)…

Từ ngôn ngữ ẩn dụ của Cỏ Hồng thấp thoáng dục tính qua những đau đớn chia xa của Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài, Nghìn Trùng Xa Cách tới vĩnh biệt đành đoạn Mùa Thu Chết, Giết Người Trong Mộng… người viết cho thấy ông đang từ từ dẫn người nghe nhạc của ông sang một khúc đời mới của những chuyện tình không có hạnh phúc ông gặp trên đường đi. Những sáng tác trong giai đoạn này có thể được coi là những bài nhạc tình hay nhất của ông. Đó là những chung khúc cho những mối tình ở hồi cuối với đoạn kết đớn đau phải tới. Cỏ Hồng về mặt nhạc ngữ xứng đáng được coi là một trong những tình khúc hay nhất của ông:

Rước em lên đồi, cỏ hoang ngập lối

Rước em lên đồi, hẹn với bình minh

Đôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép

Hãy vứt chiếc dép. bước đi ôm cỏ mềm…

Đồi quen quen, cỏ ngoan ngoan

Tưởng mơn man làm tóc rối mềm

Rồi nghe thêm lời van xin

Từ trong em, đồi choáng váng

Rồi run lên cùng gió bốn miền

Cỏ không tên nằm thênh thang

Rồi vươn lên vì ta yêu nàng

Hỡi ôi con đồi ngoan! Hỡi ôi cỏ hồng hoang!

Năm 1975 Phạm Duy viết Chỉ Chừng Đó Thôi, bài tình ca ông nói là bài cuối cùng để sau đó không bao giờ réo gọi nhau nữa. Lời của bài hát như những đoạn ngũ ngôn buồn bã:

…Ta yêu em tình cờ

Như cơn mưa đầu mùa

Rơi trên sân cỏ nhà

Làm rụng rơi cánh hoa

Chỉ cần một cơn mưa

Là vai gầy thêm nữa

Cho ướt môi mềm da...

Ông muốn khép lại những chuyến đi của trái tim, cám ơn những người tình lần cuối nhưng rồi chu trình sáng tác của Phạm Duy lại mở ra một thập niên mới. Bài tình ca đau đớn viết năm 1975 tưởng như đã chấm dứt cuộc đời sáng tác tình khúc thì lại mở ra những không gian mới.

Nhưng những tình khúc của ông trong những năm của thập niên trước đó vốn đã là những ca khúc đầy những tan nát, thương đau của những cuộc tình cuối cùng, thì những bài ông viết sau năm 1975 lại càng đau xót, chập chùng khổ đau hơn:

…Đôi ta đã mất cả mộng mơ

Chỉ còn xác xơ, hình bóng xưa

Dĩ vãng mịt mù

Buồn như chiếc lá rụng, mùa Thu

Ngồi lại đây, xin ôm chặt lấy

Bàn tay này chứa đựng hôm nay

Năm ngón gầy đưa nhau tìm lối...

Trong bài Chỉ Còn Nhau (1978), cũng như những bài tình ca khác viết sau đó, người ta thấy luôn luôn là những ngoái nhìn lại, những mơ ước trở về, những hồi ức về những mối tình cũ, căn nhà xưa, nơi hẹn một thời:

…Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà

Nhà của đôi ta xinh xinh nhỏ bé

Có vườn rau xanh ngát ngoại ô…

Về nơi công viên yên vui lặng lẽ

Nếu mưa rơi sẽ mát lòng em

Về đây ta sẽ tới ngôi của cũ

Róng tiếng chuông xưa tiếng nghe tình tơ...

Như trong bài Rồi Đây Anh Sẽ Đưa Em Về Nhà (1981) hay Nghìn Năm Vẫn Chưa Quên (1983):

... Như từng giọt máu nhỏ

Trở về trái tim khô

Con sông đời trăm hướng

Đưa ta tới vô thường!

Trong bài tựa cho tập nhạc Ngày Đó Chúng Mình Yêu Nhau xuất bản năm 1968, Phạm Duy coi ông là người bất hạnh vì trong số bao nhiêu ca khúc đã viết, ông chỉ tìm được 14 bài hát dành cho đôi lứa mà trong đó, có 6 bài ông phải mượn ý và lời của các thi sĩ. Ông coi chuyện được người đời công nhận là một “ca nhân của ái tình” (chantre de l?amour) là một vinh dự lớn nhất của cuộc đời. Ông tiếc đã không làm được công việc đó và mong các nhạc sĩ trẻ khác sẽ biết dành cả đời mình để ca tụng tình yêu vĩnh cửu.

Nếu có thể nói được với Phạm Duy một điều, tôi tin là nhiều người sẽ nói rằng ông không nên nghĩ ông quá dại dột hay quá bất hạnh, nghĩ mình đã không vì những người nghe nhạc đều đã coi ông là một “ca nhân của ái tình”. Vì những ca khúc ông để lại, ngay cả những bài ca ông không coi là tình ca, vẫn được người nghe coi đó là những tình khúc nói hộ cho hai ba thế hệ những điều khó nói nhất của những cặp tình nhân, an ủi những mối tình không may, vỗ về những đời sống bất hạnh.

Ông đích thực là một “ca nhân của ái tình” theo những ý nghĩa đúng nhất và tốt đẹp nhất của những chữ này.

Trong một tập nhạc khác in tại Sài Gòn năm 1970, Phạm Duy cho biết ông mơ ước ” được suốt 4 mùa ca hát thương yêu vô tận vô biên”. Có thể ông không biết, ông chỉ mơ ước được làm điều đó, nhưng đó chính lại là điều ông đã làm được trong gần hết đời sống ông đã sống.

Ông là một nhạc sĩ viết nhạc tình và tên tuổi của ông sẽ còn ở lại mãi chừng nào còn có những cặp tình nhân trong đời sống này hát cho nhau nghe những lời tỏ tình.

.

Bùi Bảo Trúc

Nguồn: http://vietnameseportal.com/lyric/P/pham-duy–nguoi-viet-nhac-tinh_305309.php

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: