• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 912 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 912 người theo dõi

Phạm Công Thiện Thần đồng ngôn ngữ, triết học

Phạm Công Thiện sinh năm 1941 tại Mỹ Tho. Học vấn của ông là cả một bí ẩn. Tuy chưa bao giờ có một mảnh bằng Tú tài trong tay nhưng ông đã được nhiều trường Đại học nổi tiếng thế giới mời giảng dạy, trong đó có trường đại học Yale của Mỹ và Sorbonne của Pháp.

Ở lứa tuổi chưa tới 16, ông đã trở thành cộng tác viên trẻ nhất của tạp chí Bách Khoa. Năm 15 tuổi, ông đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Phạn và tiếng La Tinh. Tất cả những điều này đều được chứng nhận qua các vị học giả và các chuyên gia ngôn ngữ học của nhiều trường Đại học.

Ngoại ngữ là một chìa khóa giúp ông mở nhiều cánh cửa triết học Tây phương để ông thai nghén và cho ra đời tác phẩm “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” được ông viết khi chưa tới 19 tuổi. Tác phẩm này đã đưa tên tuổi ông trở thành một hiện tượng mà thời gian ấy người ta gọi là thần đồng Triết học của Việt Nam.

Nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Khởi Hành, người theo sát với Phạm Công Thiện từ những năm đầu tiên khi ông xuất hiện cho biết những năm đầu khi ông nổi tiếng tại Việt Nam:

“Thật ra Phạm Công Thiện nổi tiếng trước khi đi ngoại quốc. Theo như tôi nhớ Phạm Công Thiện được Hòa thượng Thích Minh Châu cử đi du học vào năm 1969 vì Phạm Công Thiện đã nổi tiếng từ năm 1965! Phạm Công Thiện nổi tiếng từ cuốn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”, cuốn này in năm 1965 tức là 4 năm trước khi ông ra nước ngoài.

Tôi còn nhớ khi ra cuốn sách thì tôi đã có dịp làm việc với Phạm Công Thiện vài tháng vào năm 1964 khi nhà thơ Nguyễn Vỹ xuất bản nhật báo Dân Ta. Trước đó nhà thơ Nguyễn Vỹ xuất bản tạp chí Phổ Thông thì Thiện đã viết trên Phổ Thông rồi. Khi tờ Dân Ta ra đời thì Nguyễn Vỹ nhờ Phạm Công Thiện về cộng tác lúc đó thì chúng tôi gặp nhau.”

Một kỳ tích thứ hai của ông là năm 18 tuổi, Phạm Công Thiện được mời giữ chức giảng viên môn Triết học của Viện Đại học Vạn Hạnh. Sau đó không lâu ông phụ trách soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1968 – 1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Khai phá Thiền Tông Phật giáo

Thật ra tác phẩm quan trọng nhất của ông là tập tiểu luận mang tên “Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư Thiền tông”. Tác phẩm này thật sự mở một cánh cửa cho Phật giáo Việt Nam khai phá mảnh đất Thiền Tông lúc bấy giờ còn quá mới mẻ đối với người Việt, với hơn 80% theo Phật Giáo. Nhà văn Viên Linh nói về tác động của tác phẩm này đối với Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ:

“Một trong những tác phẩm song song với “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” là cuốn “Bồ Đề Lạt Ma, tổ sư của Thiền Tông” in năm 1964. Phật giáo sau khi thay đổi chế độ thì phong trào Thiền Tông lan tràn khắp nơi từ người lớn cho tới người trẻ. Phạm Công Thiện tôi gọi là nhóm Vạn Hạnh, hay là những trí thức trẻ xuất gia, mà lớp đi tu trẻ lúc ấy thì gồm có Phạm Công Thiện, Tuệ Sĩ, Chơn Phát, Nguyễn Hữu Hiệu, Chơn Hạnh, Trần Vân Tiên, Ni cô Trí Hải và Bùi Giáng. Bùi Giáng thì nhiều tuổi hơn cả.

Nhóm này xông vào các tờ báo như tạp chí Tư Tưởng, hay là Giữ Thơm Quê Mẹ của ông Nhất Hạnh, cũng như những nhà xuất bản, dịch thuật nhiều tác phẩm Phật giáo như Hessman Hess hay Suzuki. Trong lớp đó thì Phạm Công Thiện và Tuệ Sĩ là hai người có thể nói là dẫn đầu. tất cả những người này đều rất trẻ lúc ấy chỉ khoảng 24 -25 tuổi đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa Phật Giáo Việt Nam thời kỳ đó.

Sau khi cuốn sách đó ra thì nổi lên một phong trào sinh viên đi tìm hiểu những khai phá mới sau một thời gian dài 9 năm dưới chế độ cũ. Khi thay đổi một chế độ thì chế độ kế tiếp người ta đi tìm cái gì phản nghịch lại quá khứ hay mở mang những chân trời mới.

Thiện chỉ là một thành phần trẻ xung kích lúc ấy chứ đầu não của sự thay đổi văn hóa lúc ấy là những bậc thầy ở Đại học Vạn Hạnh. Lúc đầu thì có Thượng tọa Nhất Hạnh, giáo sư Nguyễn Đăng Thục là những người ảnh hưởng nhiều nhất vì trước khi có đại học Vạn Hạnh thì những tờ báo Phật Giáo lúc ấy từ trường Cao đẳng Phật học ra gồm ông Nhất Hạnh, Hòa thượng Thanh Từ, Thanh Kiểm là những bậc thầy của Phật giáo lúc ấy.”

Nhà thơ

Bên cạnh những tác phẩm nặng về tư tưởng Phạm Công Thiện còn làm thơ và tác phẩm nổi tiếng khác của ông là “Ngày Sanh Của Rắn” đã được nhà xuất bản An Tiêm ấn hành lần đầu năm 1966 tại Sài Gòn, tác giả đã từ chối không cho tái bản trong suốt hơn 20 năm sau đó mà không cho biết lý do.

Tập thơ chia làm 12 khúc và khúc thứ 8 có lẽ hay và dễ cảm thụ nhất. Bài này đã được phổ thành ca khúc “Tôi đứng trên đồi mây trổ bông” (Lê Uyên Phương).

Khúc thứ 8

 mười năm qua gió thổi đồi tây

tôi long đong theo bóng chim gầy

một sớm em về ru giấc ngủ

bông trời bay trắng cả rừng cây

 gió thổi đồi tây hay đồi đông

hiu hắt quê hương bến cỏ hồng

trong mơ em vẫn còn bên cửa

tôi đứng trên đồi mây trổ bông

 gió thổi đồi thu qua đồi thông

mưa hạ ly hương nước ngược dòng

tôi đau trong tiếng gà xơ xác

một sớm bông hồng nở cửa đông

Bài thơ  Khúc thứ 8 do Lê Uyên Phương phổ nhạc có tên Tôi đứng trên đồi mây trổ bông, ( Giọng hát của  anh Lê Văn Lộc trong cặp đôi Lê Uyên Phương)

Nhà thơ Viên Linh thì lại tâm đắc với một bài thơ mới sáng tác sau này của Phạm Công Thiện, tựa bài thơ mang một từ vỏn vẹn là “Đi” mà ông đọc sau đây:

Đã đi rồi đã đi chưa?

Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời

Đã đi mất hẳn đi rồi

Hà phương tịch mịch trùng khơi phong kiều

Chuẩn hình thiên đỉnh cô liêu

Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn

Đại huyền biến ngưỡng phiêu tôn

Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao

Áng nga nga nặng bạch hào

Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim.

Đây là bài thơ nói về sự ra đi của chính mình của Phạm Công Thiện. Bài thơ này mới in vào năm 2009 trong tập thơ mới nhất của anh tên “Trên đỉnh cao tất cả là im lặng.”

Nhận xét về cá tính của Phạm Công Thiện nhà thơ Viên Linh nói:

“Phạm Công Thiện là người Mỹ Tho trong nhóm bạn trẻ đó đều là người Bắc và Trung nhưng anh có tài và là người đa năng nên được rất nhiều người yêu mến. Phạm Công Thiện là người mang lại sự phát triển cho Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn sau năm 1963.”

Chúng tôi xin mượn lời của nhà thơ nói về mình như một lời từ giã ông, một nhân tài ngôn ngữ, tư tưởng và thi ca Việt Nam:

“Cái gì làm tôi không hiểu nổi, cái ấy làm tôi say sưa yêu dấu.” và:

“Tôi yêu những gì khó khăn, những gì khô khan, những gì rắc rối. Tôi yêu đọc những quyển sách khó hiểu và nặng nề. Tôi thích đọc những quyển tiểu thuyết khô khan lượm thượm dài dòng, tôi ưa những cánh cửa đóng kín, những hàng rào cao.”

Tác phẩm (của Phạm Công Thiện):

Thơ, văn, tiểu luận

Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền tông (1964)

Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1965)

Ngày sinh của rắn (1967)

Trời tháng Tư (1966)

Im lặng hố thẳm (1967)

Hố thẳm của tư tưởng (1967)

Mặt Trời không bao giờ có thực (1967)

Bay đi những cơn Mưa Phùn (1970)

Ý thức bùng vỡ (1970)

Ði cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988)

Sự chuyển động toàn diện của tâm thức trong tư tưởng Phật Giáo (1994)

Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng

Triết lý Việt Nam về sự vượt biên (1995)

Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ Tát sáng rực khắp bốn phương Trời (1998)

Tinh tuý trong sáng của đạo lý Phật Giáo (1998)

Trên tất cả đỉnh cao là Im Lặng

Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử

Khai ngôn cho một câu hỏi dễ hiểu: Triết học là gì?

Ðối mặt với 1000 năm cô đơn của Nietzche.

 Dịch

Jiddu Krishnamurti, Tự do đầu tiên và cuối cùng (1968)

Martin Heidegger, Về thể tính của chân lý (1968)

Martin Heidegger, Triết lý là gì? (1969)

Friedrich Nietzsche, Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi! (1969)

Nikos Kazantzakis, Rèn luyện tâm thuật huyền linh (1991)

Theo Nguyễn Hưng Quốc:

” …..Điều đặc biệt là sự ngưỡng mộ của nhiều người đối với Phạm Công Thiện không hề chấm hết sau năm 1975. Ở hải ngoại, nhiều người vẫn tiếp tục đọc Phạm Công Thiện, đã đành. Ở trong nước, nhiều người, đặc biệt trong giới cầm bút, vẫn tiếp tục say mê Phạm Công Thiện. Trong những lần về Hà Nội, chuyện trò với bạn bè, một trong những điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là có khá nhiều nhà văn và nhà thơ ở miền Bắc cũng đọc Phạm Công Thiện rất kỹ. Và thích. Họ nhắc đến Phạm Công Thiện với một sự ngưỡng mộ không hề che giấu. Nhớ, có lần, một nhà thơ ở Hà Nội nói với tôi: Một tài năng và nhân cách kiểu như Phạm Công Thiện không hề có và không thể có ở miền Bắc. Trong cả tài năng lẫn nhân cách của ông đều có cái gì ngang tàng, phóng đãng, bạt mạng, bay bổng, vượt ra ngoài mọi khuôn phép và quy ước của xã hội, những điều hoàn toàn bị cấm kỵ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong giới cầm bút ở Sài Gòn hiện nay, sự ngưỡng mộ đối với Phạm Công Thiện lại càng rõ. Theo kinh nghiệm của tôi, từ những cuộc tán gẫu về văn nghệ với bạn bè ở Sài Gòn, nhắc đến bất cứ một tên tuổi nào trước 1975, ý kiến mỗi người mỗi khác; chỉ duy nhắc đến Phạm Công Thiện là dễ được mọi người đồng tình với nhau nhất. Đồng tình về sự uyên bác của ông. Đồng tình về cái tính nghệ sĩ hiếm có của ông.

Tuy nhiên, điều tôi chú ý và muốn nhấn mạnh nhất là: sự ngưỡng mộ giành cho Phạm Công Thiện kéo dài khá nhiều thế hệ. Những người đã trưởng thành trước 1975 ngưỡng mộ ông ư? Thì cũng dễ hiểu. Cả những người trưởng thành sau 1975, trong một hoàn cảnh lịch sử và khí quyển văn hóa hoàn toàn khác trước, vẫn say mê và đánh giá rất cao Phạm Công Thiện.

Trong loạt bài tưởng niệm Phạm Công Thiện trên Tiền Vệ mới đây, chúng ta bắt gặp nhiều lời phát biểu đầy ưu ái dành cho Phạm Công Thiện. Như, nhà thơ Inrasara (sinh năm 1957), trong bài “Chớp lửa thiêng Phạm Công Thiện & tuổi trẻ tôi”: “Tôi tin tưởng vào thiên tài. Với tôi, Phạm Công Thiện là thiên tài.” Hay, như nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh (sinh năm 1958), trong bài “Cái rực rỡ của tuyệt vọng”: “Trong tưởng tượng của tôi, nếu chọn 10 tác giả của Sài Gòn trước 1975, trong số đó sẽ có Phạm Công Thiện. Còn nếu chọn 5, trong số đó vẫn có Phạm Công Thiện. Và nếu chỉ chọn một, thì người đó, dĩ nhiên là Phạm Công Thiện.”

Trong bài thơ “Những con đường và cơn mưa phùn tháng ba”, viết khi nghe tin Phạm Công Thiện qua đời, nhà thơ Khương Hà (sinh năm 1985) mở đầu bằng mấy câu:

em đừng nói với tôi về rừng

buổi chiều hình như đã mưa

cơn mưa phùn mãi mãi ở lại chứ không bay đi như cơn mưa phùn của Thiện

em cũng đừng nói với tôi về mặt trời

vốn không bao giờ có thực

Tôi chú ý đến mấy chữ “Cơn mưa phùn của Thiện”.

Tôi đã nghe khá nhiều nhà thơ trẻ ở Sài Gòn, thuộc lứa tuổi của Khương Hà (sinh sau năm 1980), mỗi lần nhắc đến Phạm Công Thiện đều chỉ nói “Thiện” như thế. Không có họ, không có tên đệm gì cả. Chỉ “Thiện” thôi.

Lúc đầu, thoạt nghe, thú thật, tôi hơi có chút ngỡ ngàng. Nhưng sau, ngẫm lại, lại thấy hay. Nó có cái gì gần gũi, thân mật và thân thiết lạ lùng. Một sự gần gũi, thân mật và thân thiết, thứ nhất, có tính xuyên-thế hệ, và thứ hai, không hề có ở bất cứ một người cầm bút nào khác. Không ai gọi Nguyễn Tuân là “Tuân”, Mai Thảo là “Thảo”, Thanh Tâm Tuyền là “Tuyền”, Trần Dần là “Dần”… như vậy.

Chỉ có Phạm Công Thiện.

Một mình Phạm Công Thiện.”

Nhà Thơ, nhà nghiên cứu Triết học, Giảng sư về Thiền tông Phạm Công Thiện qua đời hôm 8/3/2011 tại Thành Phố Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.

.

…………………………

Thơ:

Phạm Công Thiện

Nhà thơ Phạm công Thiện, thời trẻ, có lúc tu tại một Phật Viện Nha Trang. Một hôm anh về chơi với nhà văn Võ Hồng, ở lại mấy hôm, khi về Chùa, anh có thơ :

Mưa chiều thứ bảy, tôi về muộn

Cây khế đồi cao trổ hết bông.

Anh tâm đắc thường đọc cho chúng tôi nghe, và chúng tôi hiểu đại khái, nhưng chưng hửng khi nghe Phạm Công Thiện, mười năm sau, tự dịch câu thơ ra tiếng Pháp :

Je suis le Retour

Il fait Tard sur le Chemin

Sept jours après la pluie tombe

En haut

du Temple

L’arbre est le

Défleuri

Chúng tôi đã hiểu chung chung : thứ bảy là trước chủ nhật, cây khế là cây khế, ngọn đồi là ngọn đồi, nhưng qua bản dịch tiếng Pháp, thì nội hàm câu thơ không phải chỉ có vậy.

(Nguồn: Đặng Tiến)

…………………………………

Tuệ Sĩ

(Trích trong tập thơ song ngữ “Những điệp khúc cho dương cầm – Refrains pour piano” – của Tuệ Sĩ, do bà Dominique de Miscault dịch ra tiếng Pháp. Tập thơ đã được phát hành và ra mắt dưới dạng một buổi tọa đàm tại Sài Gòn, khách sạn Legend, ngày 27-9-2009, với sự hiện diện của Tác giả và Dịch giả.).

Tình người :

Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói,

Vẫn yêu người từ khoảnh khắc chiêm bao

Từ nguyên sơ đã một lời không nói

Nhưng trùng dương ngưng đọng cánh hoa đào

Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi

Vì yêu người ta vói bắt trời sao.

Dịch:

Sur mes chagrins enfumés, je revis

L’Amour des hommes à chaque instant de mes songes

Dès l’origine la parole a été retenue

Comme l’océan retient le reflet du printemps en fleur

Des refrains animent mes ailes épuisées

Pour l’Homme, j’ouvre mes mains au firmament étoilé

………………………………………………….

Phạm Thiên Thư

( Ở vào thời mạt pháp, chính là thời khắp mặt đất mong cầu thánh Chúa ra đời, Di-Lạc giáng thế. Cho nên để dọn đường cho hành động vô tâm tưởng như chỉ còn tâm lý nghệ thuật họa may làm cho con người tin tưởng vào Đạo Vô Cầu ở thế giới. Vì chỉ có cảm xúc Mỹ nghệ mới gợi được ở lòng người ý vị Trang Chu mộng làm hồ điệp, để nhìn thế giới với đôi mắt kim cương. Thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư đã cảm ứng mà thi hóa kinh Kim Cương Bát Nhã.

NGUYỄN-ĐĂNG-THỤC, Nguyên Khoa Trưởng Đại học Văn Khoa, Sài Gòn).

MỞ KINH

giấy cỏ hoa mây trắng

chép đôi dòng kinh thơ

suối nào vi diệu tụng

trang nghiêm cõi Phật thừa

NGỢI KINH

thân như sương đầu cỏ

tụ mười cõi trăng sao

nhập dòng thơ thâm diệu

mộng thức dưới hoa đào

KHÉP KINH

chẳng nương bè trúc ngọc,

vượt qua suối mây hồng,

con chim vô lượng kiếp,

về tha trái nhãn không.

ĐỘNG HOA VÀNG

chim từ bỏ động hoa thưa

người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông

lên non kiếm hạt tơ hồng

đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay

.

Mặc Lâm – RFA


Túy Phượng chuyển bài

4 bình luận

  1. Thông tin về Phạm Công Thiện thật tuyệt vời…Cảm ơn chị TLTP nhé, chúc chị bình an trong cuộc sống.

  2. Em nghe nhiều về bác học Phạm Công Thiện, có tìm đọc mà tài liệu ít, vả lại đọc cũng không hiểu.
    Riêng ngày sinh của rắn thì hiểu sơ sơ, thích nhiều .
    Khúc thứ 8 là siêu thơ, tình mà không lụy, không dục, không bày tỏ…lạ lắm chị à!
    Cảm ơn chị đã chuyển tư liệu!
    Em Ái

  3. Chị chào nguyenthuyqs,

    Không có gì. Rất vui có em ghé thăm và chia sẻ. 🙂
    Rất cám ơn lời chúc lành của em.
    Chị chúc sức khỏe và an lạc luôn ở cùng em và gia đình.

  4. Không có gì Ái thương. Có em đọc và chia sẻ là chị vui lắm.
    Chị thăm toàn gia đình đầy sức khỏe và an lạc. 🙂

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Blog Chuyên Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d người thích bài này: