• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 914 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 914 người theo dõi

Hồi Ký Rời (Luân Hoán)

Nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng, về hướng Nam, khoảng mười một cây số, tính theo đường trải nhựa, cộng với đường đất, quê nội tôi là một làng quê xinh xắn, bốn mùa ấm áp tiếng chim.

Làng được mang tên Liêm Lạc, ý chừng muốn khoe khoang cái bản tính liêm khiết lẫn lạc quan của người dân trong làng. Những đường gió mạnh, những nguồn nước lớn, hằng năm vẫn không quên ghé thăm, nhưng con đất hiền hòa, hình như đã bao đời vẫn chưa hao hụt, sứt mẻ. Ngọn mạ xanh vẫn theo chân tháng ngày thành nhánh lúa, thành hạt gạo, thành cọng rơm, thành gốc rạ, khoan thai, thầm lặng, thật là thương.

Này em yêu có nhớ, cái thời em ghé thăm quê nội một anh chàng dại gái, mà em lượm được giữa đường, vì vô ý va phải guidon xe solex của hắn, tạo dịp cho hắn ba hoa:

nhớ thời lả lướt dông solex,

đụng phải một người, yêu mấy năm !

Thời đó, có một ngày, từ một điểm đứng trên quốc lộ một, cũng như nhiều người khác, em phải luồn ngang lòng chợ Miếu Bông, để đến một con sông nhỏ, cách chợ chẳng bao xa. Hình như đôi guốc quai xanh của em đã có người xách hộ. Và đôi tay lưỡng lự níu đôi tay, run run bước lên đò.

Dòng sông trong vắt. Nước rỉ rả hát theo làn gió nhẹ. Mùa hạ đang vào tháng thứ hai. Những chùm rong xanh mảnh khảnh, bơi quanh đùa ghẹo vài cụm hoa súng tím. Trời xanh bát ngát. Những tấm mây trắng không bay, rủ rê bầu trời lặn sâu vào lòng sông. Cô lái đò nghiêng nghiêng nón, gật đầu cười mỉm. Cái ghe se sẻ tròng trành, thong thả rướn mình. Tôi thòng hai tay xuống nước. Lỡ dại làm trôi mùi hương của em mà chẳng thể vớt được một lọn mây nào. Tay chèo dù gượng nhẹ đến đâu, mái dầm cũng cắt nước thành sợi dài. Trời mây chợt không thấy bóng mình trong khoảnh khắc. Rồi chúng ta lên bờ. Rồi chúng ta lội bộ.

Quê nội tôi như em đã thấy. Những lũy tre xanh, những hàng cây găng rậm lá. Tất cả chúng, đứng chỉnh tề một hàng dọc, nắm chặt tay nhau, chạy theo bờ một con đường mòn. Sát chúng là dòng thủy lợi, lưng lửng nước rúc rích chảy. Mặt đường, đất sét chai cứng, lỗ chỗ những dấu chân trâu, nhưng cũng đủ rộng lòng nuôi một ít cỏ gà lẫn lộn cùng cỏ may, cong đầu theo chiều gió. Và sát mép đường bên kia là ruộng lúa đang độ thanh xuân.

 Em bước đi không khó, nhưng cũng chẳng dễ dàng. Ngay từ lúc cho bàn chân hôn hương đất đầu làng, chắc em đã thấy sừng sững khỏi đầu những hàng tre, màu ngói nâu đen cao ngất. Rồi từ ngã rẽ trước nhà ông Hội Du, tầm nhìn của em bắt gặp hai cái cổng gạch lem luốc vàng. Và chẳng mấy chốc, em bước lên những viên gạch lót đường dẫn vào cổng sân. Hồ cau nằm giữa hai lối đi này, không mênh mông, nhưng chẳng hẹp hơn một hồ bơi tân tiến. Đàn chột dột, dễ chừng có tới trăm con, vừa gọi nhau, vừa chuyền qua những tàu cau lấp lánh nắng vàng. Chúng nhắc nhở nhau chào khách đến, mừng người đẹp thị thành, chẳng phải mê trai mà theo về, chỉ vì tò mò muốn biết cái ổ của người mình lỡ thương, đã từng ở ngót ba năm.

Phải, tôi đã có ba năm ở đây, ở trong ngôi nhà ngói lớn nhất làng này, kể từ năm 1951. Năm tôi theo phụ thân lén lút hồi cư. Cùng về với chúng tôi còn có chị tôi, Lê Thị Kim Anh và bé Võ Thị Diệu Phương, con chị Cưu, gọi tôi bằng cậu.

Vào thời điểm này, trên lãnh thổ hình chữ S nằm bên cạnh Thái Bình Dương, đã có hai nước Việt Nam. Một là Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo, được thừa nhận bởi thỏa ước Elysée, ký tại điện Elysée, Paris ngày 08 tháng 3 năm 1949. Hai là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, được Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Liên Xô thừa nhận năm 1950. Cũng năm 1950, vào tháng 2, Hoa Kỳ và Anh Quốc lần lượt công nhận chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Và qua trung gian của Pháp, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ kinh tế lẫn quân sự cho Đông Dương và Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của người Việt trở thành cuộc đối đầu giữa Thế giới Tự do và Cộng sản. Danh xưng Việt Minh lặng lẽ cáo chung vào ngày 19 tháng 2 năm 1951 sau khi tên Đảng Lao Động Việt Nam ra đời. Cuộc chiến mỗi ngày một thêm sôi động với những trận đánh chính qui và dồn dập hơn. Quê nội tôi lúc bấy giờ là một gạch nối giữa hai vùng có hai lực lượng thù địch nhau này. Đã 10 tuổi đầu nhưng tôi gần như chưa biết gì về những diễn tiến quân sự trên đất nước mình. Có nghe súng nổ, nhưng chưa bao giờ mục kích được những tàn phá của chiến tranh. Và tôi đã bước vào cuộc sống mới của mình trên quê cha đất tổ một cách vô tư..

Trước nhất tôi có thêm một người mẹ. Đó là người vợ cả của ba tôi. Tôi gọi bà bằng mẹ vì đã gọi người sinh ra mình là má. Mẹ tôi, người dong dỏng cao, khỏe mạnh, nhan sắc trung bình. Bà có quí danh là Ông Thị Thấp, sinh năm 1896, người làng Phong Lệ. Phong Lệ là quê hương của một danh tướng dưới triều Tự Đức. Phong Lệ nằm bên trong con đường sắt quốc gia, cạnh quốc lộ 1, nơi tôi có một đôi lần ghé qua, và buồn tay viết mấy đoạn:

https://i0.wp.com/saigontoserco.com/files/news/lrucmcng.jpg

mon men thả bước theo đường sắt

về thăm Phong Lệ giữa mùa xuân

gặp con chiền chiện trên đồng vắng

vừa hót vừa bay khéo quá chừng

chân bước mặc chân, lòng ngoái trông

cánh cò tha đất lướt qua sông

bên kia Giáng Động đìu hiu quá

biết có ai còn ngó viển vông ?

Phong Lệ bây chừ buồn quá thôi

ngoại ngồi rờ rẫm lá trầu hôi

dưới chân con mực thiu thiu ngủ

chừng cả hai đang quên lửng đời

tréo ngược tay treo cột gỗ lim

nhìn kèo nhìn rượng mộng lim dim

giữa không gian lặng như tờ ấy

có tiếng gáy trầm Ông Ích Khiêm

rờn rợn ngóc đầu đảo mắt quanh

nổi da gà nhón gót đi nhanh

nghiến răng tre nhái lời ma gọi

làng vắng buồn phơi vàng mái tranh

Phong Lệ ầu ơi, Phong Lệ ơi

ngủ ngon đừng lẩy, đạp lòng tôi

ví dầu kỷ niệm thành hơi thở

cũng thổi không tan nỗi ngậm ngùi.

(Cảm Ơn Đất Đá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài)

https://i0.wp.com/vanchuongviet.org/vietnamese/hinhanh/2011625_17315_LuanHoan.jpg

Luân Hoán

 Chắc chắn mẹ tôi có bà con gần xa gì đó với cụ Ông Ích Khiêm, ông tướng uy dũng nhưng không kém tài văn học, như lịch sử đã ghi chép. Tuy là dân quê nhưng mẹ tôi không trực tiếp làm nông. Bà thay chồng cai quản một số ruộng đất, cho tá điền làm ăn chia hoa màu. Trong thời gian chúng tôi đi tản cư, bà sống cùng với hai cháu nội. Cháu gái tên Thương, cháu trai tên Thiệu. Thương trạc tuổi tôi nhưng phải gọi tôi bằng chú. Cha của chị em Thương, anh ba Huân, đã qua đời, mẹ đã bước thêm bước nữa.

Này em yêu có biết, đêm đầu tiên tôi ngủ trong ngôi nhà của quê nội với bao nhiêu cảm xúc buồn vui. Từ một mái tranh vách đất, không giữ nổi cái lạnh của khí đá, núi đồi. Đến cái ấm áp của một ngôi nhà ngói đồ sộ, nhiều phòng. Tôi như gối phải những giấc chiêm bao khi chợp mắt. Cái mỏi của đôi bàn chân trong chuyến đi đã biến mất. Cái thoải mái của thân thể chợt đẻ ra cái nhớ nhung người mẹ và đứa em, đang ở xa tít trên núi rừng. Và mặc dù nằm cùng hai đứa cháu và chị Kim Anh, tôi cũng cảm thấy sờ sợ một cái gì đó.

Đêm ở quê nội thật ra không mấy yên tĩnh. Bóng tối đậy kín ngôi nhà. Đóng cửa cài chốt cẩn thận, nhưng không thể không nghe những tiếng dế, tiếng ếch nhái, tiếng tre trở mình trong gió và cách khoảng vài giờ, lại vang lên tiếng rít rờn rợn của đường đạn đại bác. Rồi một tiếng ‘bịch’ bất ngờ như đang va phải nóc nhà. Nhưng không, qua các song hở của loại cửa gỗ lá sách, tôi thấy bên ngoài trời sáng như đêm có trăng. Đó là những quả hỏa châu từ đồn Quá Giáng, bắn cầm chừng, để quan sát. .

Qua đêm đầu tiên với làng quê Liêm Lạc, tôi được ba tôi dẫn ra mắt ông nội và một số chú cô ruột thịt. Những người đang hiện diện trên con đất chôn nhau cắt rún của mình. Trên con đất mà bia mộ tiền hiền còn đang được xây thành, đắp cao giữa mặt ruộng trước nhà. Và những người khuất mặt được tập trung, nằm lộn xộn ngó trời trong đất vườn Thơ Sĩ, một tên gọi có thật không thi vị hóa.

Ông nội tôi là một nhà nho, đã già. Ông ở một mình trong ngôi nhà ngói cổ kính. Kiến trúc khá giống một ngôi chùa. Nhà ông tôi nhỏ hơn ngôi nhà của ba tôi, nhưng hai cái sân gạch thì lớn gần bằng nhau. Quanh sân gạch nhà ông không có thành rào. Ở bên phải hướng mặt nhà ngó ra, sân nhà ông tiếp giáp sát vách thành rào nhà ba tôi. Thành rào cao quá đầu tôi. Phía dưới xây kín, nửa trên được để hở từng ô vuông đều nhau. Bề mặt tường khá rộng. Chiều chiều bọn trẻ láng giềng thường hay leo lên, ngồi thòng chân hai bên, làm những động tác như đang lái xe, hay cỡi ngựa.

Ông tôi chẳng mấy khi đi dạo ra sân. Thỉnh thoảng lắm tôi mới bắt gặp ông mở cánh cửa, nghiêng đầu nhìn bên ngoài giây lát, rồi lặng lẽ khép cửa. Tôi có cảm tưởng ông đang tự giam mình. Ngôi nhà của ông là một cõi huyền bí, luôn tạo cho tôi những cảm giác bất an. Ánh sáng ngọn đèn dầu quả trứng, cộng với vài tia mặt trời, rớt xuống từ mái nhà, bởi một miếng ngói được thế bằng một tấm gương trong, không đủ soi rõ mặt những vật dụng trong nhà. Và ông tôi, có lẽ vẫn lơ mơ ngủ suốt ngày trên tấm chiếu hoa không còn rõ màu sắc. Một cái quan tài đậy nắp được kê song song với giường nằm của ông. Đây là người bạn đang sẵn sàng để đồng hành với ông vào một cõi khác. Rõ ràng ông tôi đã chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi cuối cùng của mình.

Tôi hơi run khi phải đứng bên ông tôi. Cái không khí lạnh lẽo, cái mùi mốc mốc khó chịu, làm tôi rờn rợn. Tay tôi khẽ nâng cao vừa tầm cho ông nắm. Một cái gì đó rất lạ chợt xuyên suốt thịt da tôi, vừa lạnh lại vừa ấm. Lạnh vì sợ, ấm vì tình ruột thịt thiêng liêng nguồn cội. Tôi cũng nhận ra rất rõ những đường nhăn khô nhám chạy trên da mình một cách yếu ớt, trìu mến. Không biết ông tôi có quan sát tôi không. Tôi thì không dám nhìn thẳng. Dù vậy, trong vài phút tò mò, tôi cũng nhận ra khuôn mặt ông rất giống khuôn mặt người cha thân yêu của mình. Trán cao, mắt sâu, mũi thẳng, miệng rộng quả là những nét thanh tú, rắn rỏi . Thời gian và những nhọc nhằn trong cuộc sống đã không cho phép tôi gặp lại khuôn mặt yêu đời, linh hoạt cách đây mấy chục năm. Tôi lặng lẽ nhìn những móng tay thật dài và cong của ông. Có lẽ ông không nắm được chắc chắn khi cầm một vật gì. Chòm râu dài của ông làm tôi nhớ đến các hình vẽ những ông tiên thánh thiện, nhiều phép thuật. Là một nhà nho, quan tâm đến việc học, nên ông tôi dò hỏi ba tôi về vấn đề học hành của tôi. Ông cũng tỏ ra không mấy bằng lòng về việc đèn sách của thằng Tiên, con chú Diên, một đứa cháu, ngày ngày vẫn hai lần mang bữa ăn vào cho ông.

Ông nội tôi, tục danh Lê Hữu Huy, có hai vợ. Bà nội tôi tên Trần Thị Dưỡng, xuất thân từ làng Mân Quang. Ngôi làng nằm bên kia sông Cái. Con sông mà ngày hồi cư tôi đã có dịp sang đò. Bà nội tôi sau khi sinh hạ ba tôi được hai ngày thì không may, qua đời. Người em gái của bà, Trần Thị Thừa, đã thay chị nuôi ba tôi và tiếp tục cùng ông tôi sinh thêm mười ba người con nữa. Đó là các chú Lê Hữu Hoanh (thường gọi Hương Hoanh), Chú Hữu Côn (thường gọi chú Lạc), chú Lê Hữu Huyến (thường gọi Hương Nam), chú Lê Hữu Thao (thường gọi Cửu Tiền), Lê Hữu Tập (thường gọi chú Sô), Lê Hữu Dựt (thường gọi chú Tham), Lê Hữu Cấp (thường gọi chú Diên), Lê Hữu Huyến (thường gọi chú Mười Thước), Lê Thị Sửu, Lê Thị Lý, Lê Thị Bạc, Lê Thị Mẹo (4 người con gái đều qua đời sớm).

Năm 1951, ngoài chú Cửu Tiền còn ở vùng kháng chiến, chú Sô lập nghiệp ngoài Cẩm Lệ, chú Mười Thước bị Pháp bắn chết trên dòng sông Cái. Các chú còn lại đều sống quanh quẩn bên ông nội tôi, mỗi người một nóc gia. Chú Diên lúc bấy giờ mới chỉ là một ông cai thợ hồ. Có nhà cho thuê tại thành phố Đà Nẵng, nhưng gia đình chú vẫn bám trụ tại nhà quê để nuôi dưỡng ông nội. Có lẽ chú Diên là người thương ông nội tôi nhiều nhất.

Tình cảm anh em giữa ba tôi và các người chú hình như không được ngọt ngào lắm. Có lẽ không phải vì chuyện cùng cha khác mẹ mà do những so bì từ đối xử, có phần không đồng đều của ông nội. Ba tôi và chú Cửu Tiền được ông nội tôi cho ăn học đầy đủ. Trong lúc các chú khác phải lo việc đồng áng. Ngoài việc học chữ Nho, chữ Hán ba tôi còn học chữ Pháp khi ông được gởi vào nội trú trường dòng Pellerin tại Huế, cùng thời với cụ Lê Ấm, con rể nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Ngoài điểm này, ba tôi còn khác các em của ông về mặt đào hoa. Nếu các chú tôi, mỗi người một vợ một chồng, thì ba tôi có chính thức đến bốn người đàn bà trong cuộc sống của ông, và bà nào cũng sinh cho gia đình họ Lê những đứa con. Tôi đã là người con thứ 13, nên vẫn thường được các người em bà con gọi là Anh Mười Ba.

Nhắc về ông nội, tôi còn có một kỷ niệm rất đẹp. Một hôm ông sai thằng Diên tìm dẫn tôi đến. Tôi hồi hộp không biết chuyện gì, lòng vân phân lo sợ. Nhưng dĩ nhiên cũng phải trình diện. Khi tôi đến, trong ánh sáng mờ mờ, ông giao cho tôi một cuốn sách mỏng, hình chữ nhật, và dặn:

– Con đem về đưa ba, bảo ba dạy cho

Ông ngừng một giây rồi nói tiếp:

– Gắng mà học lấy vài chữ thánh hiền nghe con

Tôi đã thực hiện theo ý ông tôi, tuy vậy việc học thuộc một vài mặt chữ trong Tam Tự Kinh không phải là dễ dàng. Cho đến nay vốn liếng chữ Hán của tôi vẫn chỉ gồm Nhứt một, Nhị hai, Tam ba, Tứ bốn… và bảng cửu chương tôi vẫn để trong đầu, rất tiện lợi: cửu cửu bát nhứt, bát cửu thất nhì, thất cửu lục tam, lục cửu ngũ tứ…ngũ ngũ nhì ngũ, tứ ngũ nhì chi, tam ngũ nhất ngũ…vv…

Em yêu dấu, mong em đừng phiền về những khai báo quá thành thật đến vụng về của tôi. Chẳng phải tôi bị ám ảnh bởi một thời học sáng tác lý lịch, sau 1975. Mà vì khi viết, tôi nhớ trực đến chú Diên, người đã nhắc nhở tôi, gắng bỏ thì giờ tu chỉnh lại bản gia phả của tộc họ. Tôi làm sao có đủ khả năng này, trước cái ham chơi và không mấy khi tha thiết về dòng họ của mình.

Nhớ về quê nội, chẳng thể không nhớ những người thân yêu ruột thịt. Tôi gõ tên mọi người lên bàn chữ cùng những hạt lệ hiếm hoi ứa ra từ hai khóe mắt, không ngăn được. Mỗi tên gọi hiện ra trước mặt tôi một quãng đời, với bao nhiêu hình ảnh. Tôi không thể không sống lại cùng những năm tháng đã qua. Mùi hương dĩ vãng chợt phảng phất bên mình. Trong tưởng nhớ im lặng, tôi đã dùng trái tim mình để lắng nghe, để nhìn thấy, để bắt gặp, và để vẽ vời từng vóc dáng, từng cử chỉ thân mến xưa lên từng dòng chữ.

Em yêu dấu, với nhiều người thân, tôi đã có khá nhiều ngỗ nghịch, lỗi lầm. Nhớ lại, viết lại như một lời tạ tội, dù tôi biết chẳng còn ai nỡ quở trách tôi. Tôi viết cho chính tôi, viết vội vàng, viết bừa bãi, thiếu mạch lạc, nhưng thời gian có còn bao nhiêu đâu. Những đồng tiền cấp dưỡng già của chính phủ Canada sẽ gởi đến vào đầu năm tới. Người công dân bất đắc dĩ của họ không biết sống báo đời đến bao lâu. Ông nội tôi qua đời năm 84, thân phụ tôi cũng nghỉ ngơi vào đúng cái tuổi này. Còn tôi, dễ gì…Nên cho tôi viết tiếp thôi em nhé.

Trong ba năm giữa đất trời quê nội, mẹ tôi đã thương yêu và lo lắng cho tôi như người con chính bà sinh ra. Tôi thường trái gió trở trời vào mùa đông. Mẹ thường tìm những lá tre, lá sả, lá tía tô, lá chanh, lá long não, rễ cây cứt lợn, tỏi, địa linh tươi… để đun sôi một nồi nước xông. Rồi cạo gió với giác bạc thiệt. Rồi thoa dầu Nhị Thiên Đường. Rồi bắt uống Tiêu Ban Lộ.. tùy theo nặng nhẹ mẹ chăm sóc, lo lắng. Biết tôi thích ngọt, không buổi chợ nào mẹ quên mang về phong bánh in, gói kẹo ú, hoặc một nắm bắp ngào đường. Mười tuổi đầu, tôi còn tồng ngồng đứng bên góc sân gạch nhà ngang, cho mẹ dội từng gáo nước. Mẹ không cho tôi chăn vịt sợ đạp phải miểng chai, gai nhọn. Đàn vịt trên mươi con vẫn để cho chúng tự do chạy ra đồng, rồi chạy về, có hôm đàn vịt ham vui, chiều về chuồng nhà khác, mẹ phải đi tìm. Mẹ không để tôi một mình đi coi thợ gặt, giữ lúa. Chẳng phải vì tôi ham chơi, ham đuổi bắt những con châu chấu mỡ. Ruộng nhà tôi hầu hết gần sông, mẹ không an tâm, khi anh chị trong nhà đã có người chết đuối. Và mẹ cũng không quên dành cho tôi một số công việc, mà chắc là mẹ cho là quan trọng, thích hợp. Đó là chạng vạng nào cũng phải lo thắp đèn và thắp hương trên các bàn thờ. Ngững ngày Tết, giỗ, tôi phải lo thay nuớc cúng, cắm hoa, chùi độc bình, lư hương, và có bổn phận chạy đi mời bà con đến ăn giỗ. Một công việc không kém phần quan trọng của tôi là thỉnh thoảng đọc cho mẹ nghe những chuyện tích cổ bằng văn vần, mà mẹ đã cất giữ từ lâu. Đó có thể là chuyện Nàng Nhái Kiểng Tiên, Chuyện Lão Tượng Tiên Bửu. Chuyện Thạch Sanh Lý Thông. Chuyện Thoại Khanh Châu Tuấn. Chuyện Phạm Công Cúc Hoa. Chuyện Trê Cóc , chuyện Kiều Nguyệt Nga, chuyện Trịnh Hâm Bùi Kiệm…vân vân. Mẹ biết chữ Quốc ngữ, nhưng mẹ không muốn xem. Mẹ thích nghe đọc hơn. Chẳng biết cái giọng ngỗng đực và đặc sệt Quảng Nam của tôi có gì xuất sắc? Không chừng nó rất đặc biệt, không thua kém giọng cô Dạ Lan sau này, trên đài phát thanh quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đêm đêm đã làm say mê biết bao nhiêu anh hùng tiền tuyến lẫn hậu phương. Cô Dạ Lan là dân xứ Quảng chính hiệu, đã một thời ngồi học trong trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng.

Giọng nói Quảng Nam, là một nguồn âm thanh được cả ba miền nước Việt công nhận là giàu trọng lượng. Nhưng trong cuốn Quảng Nam Trong Lịch Sử, tập hai, của nhà sử học Trần Gia Phụng có cho biết:

“ Khoảng sau năm 1995, trong nước Việt Nam có cuộc bầu chọn 10 ca sĩ hay nhất nước, thì trong đó, những ca sĩ gốc Quảng Nam chiếm 7 người, và đặc biệt, ca sĩ Ánh Tuyết (gốc Hội An) đã được nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) nhận làm con nuôi, vì theo Văn Cao, trong suốt cuộc đời hoạt động văn nghệ của ông, ông nhận thấy Ánh Tuyết là người trình diễn rõ ràng và tuyệt vời nhất những bài ca của ông, nhất là bài Thiên Thai” (trang 27).

Đã lỡ dông dài, tôi xin lạc đề luôn: Một giọng hát khác của Quảng Nam tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng tạo được nhiều tiếng vang là ca sĩ Mỹ Tâm. Tên thật Phan Thị Mỹ Tâm, sinh ngày 16-01-1981 tại Xuân Hà, Thanh Khê, Đà Nẵng. Khán thính giả gọi cô thủ khoa thanh nhạc của nhạc viện thành phố HCM (1997-2001) này là “ca sĩ tóc nâu môi trầm”. Cô được rất nhiều giải thưởng ca nhạc, trong đó có cả giải Lá Phong của tòa đại sứ Canada tại Sài Gòn năm 2004 và là người đầu tiên đại diện chính thức cho lãnh sứ quán Canada như một vị sứ thần thiện chí. Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tính theo lợi tức thu được từ tiếng hát, để đánh thuế. Mỹ Tâm là ca sĩ đứng đầu chịu số thuế cao nhất cả nước, vượt gần gấp đôi người thứ hai. Qua những dẫn chứng trên, giọng Quảng Nam như vậy không có gì đáng ngại. Mặc dù không thiếu những người trình diễn hài hước mang ra làm trò cười cho nhiều người vô tư. Riêng giọng của tôi, từ nhỏ đã được mẹ tôi tín nhiệm, ấy thế mà sau này, tôi vẫn ngại ngùng khi phải nói trước nhiều người, chưa đủ gọi là đám đông. Sự e ngại đã trở thành cái tật. Đây là một khuyết điểm lớn của tôi.

Ngày tháng qua mau. Mới về làng đã ăn được ba cái Tết. Và cái Tết nào cũng giàu ấn tượng đẹp. Ngay năm đầu tiên, mẹ đã sắm cho tôi nguyên bộ quần áo tây, màu xanh lá cây theo sở thích của tôi. Màu xanh của rừng núi chưa bỏ cậu bé. Việc may một bộ đồ mới ở nhà quê cũng không đơn giản. Trước tiên, mẹ tôi chọn ông thợ, nhà ở giáp làng Cổ Mân. Theo mẹ, tôi lội qua nhiều bờ ruộng mới đến được mái hiên đặt máy may của một ông thợ trung niên. Ông thợ từ chối vì đã có nhiều hàng đặt trước, ông liệu không thanh toán kịp. Mẹ tôi phải dẫn tôi qua chợ Miếu Bông. Ở đây có nhiều gian hàng may, nhưng mẹ tôi đánh giá họ thường may dối. Ghé qua nhiều nơi dạm hỏi, cuối cùng tôi cũng được đứng yên cho một bác thợ đo ly tấc. Năm đó với áo bỏ trong quần, nịt nhựa trong suốt vòng ngang bụng, giày sandale quai rọ và mũ béret, tôi lớn hẳn lên khi đứng chống nạnh ngó mông đầu ngõ. Mẹ tôi vốn rất trầm lặng nhưng lần đó đã biết mỉm cười, gọi giật thằng con vào, không phải vì sợ nó dang nắng mà sợ…người ta xấu miệng trầm trồ.

Ngoài cái thú nghe đọc truyện thơ cổ, mẹ tôi còn một cái vui nhỏ nữa. Bà biết uống rượu, khác hẳn với ba tôi. Gần như không có buổi chạng vạng nào, bà không ra cái quán nhỏ của bác Hội Du gái. Một cái ly thủy tinh con con, lượng rượu lưng lưng miệng, là món quà cuối ngày giúp mẹ tôi xóa hết những mệt mỏi. Bà tuyệt đối giữ đúng tiêu chuẩn này. Có lẽ nhờ vậy, tôi chưa hề thấy mẹ tôi ngã bệnh bao giờ.

Trong những ngày Tết, mẹ tôi cũng thường thích thú với những ván bài Trùng cùng đám con cháu. Những con bài bằng giấy, bề ngang chừng hai ngón tay, có những tên gọi rất ngộ nghĩnh như Học Trò, Nhì Nghèo, Nọc Thược, Tam Quăn, Tứ Gióng, Liễu, Âm Ầm…mà hình tượng được vẽ một cách đơn giản, nhưng không thiếu nghệ thuật, vẫn in đậm nét trong trí nhớ của tôi. Trong suốt thời gian ở bên mẹ, tôi cũng chưa hề bị bà la rầy lần nào. Sự im lặng của mẹ là những lằn roi, một đôi lần mẹ dành cho tôi. Mẹ tôi lành như thế, nhưng về sau, khi tôi đã rời làng, có một lần tôi đã to tiếng, rất to tiếng với mẹ, chỉ vì xung đột cùng đứa cháu nội đích tôn của bà. Dễ chừng có vài tháng sau tôi mới ghé về thăm bà và không hề xin lỗi tiếng nào. Đây không phải là bướng bỉnh, cố chấp mà chỉ là không tập được, chưa tập được thói quen xin lỗi. Mẹ ơi, lời xin lỗi của con chẳng bao giờ có nữa, nhưng hy vọng mẹ đã nhận ra từ lâu lòng con. Ngày con ra đi, con đã cùng Lý về thăm mẹ. Mẹ còn khoẻ lắm, còn cả nước mắt. Nhưng sao chỉ một tuần sau, mẹ không ráng thêm ít tháng nữa, để trèo qua cái tuổi 90 ? Sau Một Lần Về Liêm Lạc nào đó, tôi đã viết:

         Mẹ ngồi im như ngủ quên

          gió lùa cửa mở, ngó lên: con về

          nụ cười phá vỡ cơn mê

          mặt con chợt sáng bốn bề phòng không

 

          đưa tay mẹ ngỡ như bồng

          thằng con hư của chờ mong đã về

          lặng nghe tay mẹ vân vê

          ấm dần thớ thịt rong rêu bụi đường

 

          đi ngang đi dọc trong vườn

          đi quanh sân gạch, rờ tường, đánh hơi

          nơi nào tôi cũng gặp tôi

          nơi nào cũng gặp đủ người thân yêu

          nơi đây cha đọc truyện Kiều

          nơi đây em dán con diều lá sen

          nơi tôi nằm đợi đòn lằn

          roi tre để bỏ tật quen vắng nhà

          ơ kìa, phân vịt, phân gà

          ơ kìa, vựa trấu, cây cà, cây chanh…

          lượm lên được miếng mảnh sành

          nhìn ra thấy chú vàng anh năm nào

 

          mẹ sờ thử phải chiêm bao

          thằng con giang bạt kỳ hồ đấy thôi

          xếp bằng trên phản tôi ngồi

          nhìn mẹ móm mém nhai trầu mà thương

( Trôi Sông)

Còn tiếp

Luân Hoán

Trần Lê Túy Phượng chuyển bài

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Blog Chuyên Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d người thích bài này: