Nghiệp Lực và Thần Thông

Hiện nay có nhiều chuyên gia nghiên cứu về nghiệp, ở đây chỉ nêu lên một số nét đặc trưng của nó. Nghiệp là cái mà Phật pháp đặc biệt nêu ra. Trong định nghĩa về nghiệp và vai trò của nghiệp, đức Phật tuyên bố rất rõ chữ nghiệp có nghĩa là hành động về thân, về lời, và về ý, nhưng hành động ấy phải là hành động có tự tâm sở, tức là một hành động có ý mình làm, tự mình quyết định làm, không ai xúi dục, không do ai sai bảo. Vì đã là hành động tự mình ý thức làm, tự mình quyết định làm, nên đức Phật xác định chúng tức là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, vừa chịu trách nhiệm những hành động của chúng ta, lại vừa tự mình chịu kết quả các hành động của chúng ta làm.

Các kết quả đền đáp lại những hoạt động về thân, khẩu, ý thì gọi là nghiệp báo. Ngoài ra người ta cũng gọi nghiệp báo là nhân quả trong đường luân hồi.

Không phải hoạt động nào cũng có báo, những việc vô ký như đi, đứng, nằm, ngồi, v.v…. không làm hại và cũng không làm lợi cho ai thì không có nghiệp báo, hoặc nói một cách khác chỉ có nghiệp báo vô ký không có ảnh hưởng gì trong đường luân hồi.

Những hành động có quả báo rõ ràng được chia làm 3 thứ:
a. Thiện nghiệp: là những việc lành, có lợi cho người và đem lại quả báo tốt cho mình.
b. Ác nghiệp: là việc dữ, có hại cho người và đem lại quả báo xấu cho mình.
c. Bất động nghiệp: tức là những hành động tu luyện tự tâm, làm cho không lay động trước cảnh ngũ dục, những cảnh khổ vui và những cảnh có hình tướng. Tu luyện cái tâm như thế gọi là tu thiền định.

“Vận mệnh” của con người nói riêng và của cộng đồng nói chung do ai làm chủ tể và sai khiến? Không phải là “Thượng đế”, cũng không phải là “Diêm vương”, cũng không phải là Phật hay Bồ Tát, mà là do chính mình tạo ra (nói riêng cho một cá nhân), chính những cá nhân trong xã hội tạo ra (nói chung cho cả cộng dồng). “Vận nước” vào lúc suy đồi là do chính những cá nhân trong xã hội đã phun ra “tà khí cực độc” làm cho “khí thế gian” của cả dân tộc rất u ám nặng nề, không thể tiêu ngay được. “Tà khí” ấy sẽ làm cho tâm địa mỗi con người trong xã hội ngày càng trở nên đen tối khiến cho nhiều bậc thiện trí thức càng ngày càng bị “mòn mỏi ốm yếu” rồi sẽ “chết mòn”, từ đó làm cho xã hội càng ngày càng suy yếu…

“Số phận” của mỗi con người không giống nhau, đó là do biệt nghiệp. Thế còn cộng nghiệp? Thời đại mà chúng ta sinh ra là thời đại khổ não, thời đại chiến tranh, nhất là các cuộc đại chiến thế giới trong thế kỷ 20, những lò lửa thiêu sống người của bọn phát xít Ðức, những cuộc thảm sát ở Campuchia, những trận đói lớn, những cuộc di tản bỏ trốn sang nước ngoài, những cuộc nội chiến tinh thần âm ỉ do những sự đối kháng tư tưởng làm mất hết nhân tính, rồi đến một lúc nào đó sẽ bùng nổ trở thành những đợt sóng thần dữ dội dìm không biết bao sinh mạng xuống đáy đại dương; rồi thì đầu thế kỷ 21 đã xảy ra vụ khủng bố vào ngày 11/09/2001 ngay tại trung tâm Thủ đô nước Mỹ, tiếp theo là những trận tấn công ồ ạt của Mỹ vào Apganistan nhằm tiêu diệt bọn khủng bố, và chiến tranh cứ thế tiếp diễn. Ðó là cộng nghiệp chung của thế hệ, của thời đại chúng ta. Cổ nhân nói: “Muốn biết kiếp binh đao cuộc thế, hãy nghe tiếng dao nhà đồ tể lúc đêm khuya”. Bụng chúng ta đã nuốt bao nhiêu mạng sống rồi, biết bao trâu, bò, lợn, gà, thậm chí cả động vật hoang dã như hổ, báo, voi v.v… bị con người lấy thịt ăn, hầm xương nấu cao! Chất thải công nghiệp độc hại hằng ngày tuôn ra gây nên sự ô nhiễm cho các loài động vật, trong đó kể cả các động vật sống dưới biển. Tại Việt Nam, rừng Tánh Linh bị tàn phá đến nỗi loài voi ở đây không còn chỗ sống chúng liền quay lại tấn công con người. Chẳng nhẽ bạn ăn người ta mà không phải trả nợ sao? Chẳng nhẽ bạn hủy diệt môi trường sống của họ, cướp nhà và phá nhà của họ mà người ta không thù oán bạn hay sao?

Thái độ Phật giáo đối với vấn đề “đời trước làm việc ác, đời này tuy cố gắng nhưng vẫn có thể chịu báo ứng quả xấu” do vậy:

1. Phải tiếp tục làm nhiều điều thiện hơn nữa mà chớ có nản lòng.

2. Đối với “quả ác” khi đã không thể thay đổi được thì con người dũng cảm tiếp nhận với tâm trạng an nhiên tự tại, vì người quân tử dám làm dám chịu, chớ nên oán trời hay trách người mà rắp tâm bỏ trốn hay đổ vấy cho kẻ khác.

Dù đã cố gắng hết sức nhưng nhiều tai ương vẫn dồn dập đổ lên đầu chúng ta thì mọi người chớ có thối chí mà làm càn làm bậy? Hãy tin tưởng vào những hành vi tư tưởng trong sáng của mình. Hãy tin rằng tương lai rực rỡ không phụ bạc những con người luôn luôn có tâm hướng thượng! Bởi vì thuyết nghiệp lực của Phật Pháp cho rằng tất cả là kết quả của hành vi hữu tình. Hoàn cảnh xấu xa tồi tệ do sai lầm trong quá khứ gây ra, thì hãy nên bằng sự cố gắng hợp lý của thân tâm hiện tại để thay đổi. Ngay cả trong trường hợp bất lực trong kiếp này, thì vận mệnh bi thảm ở tương lai cũng chưa phải là kết cục cuối cùng, mà chỉ là một đoạn của cả một quá trình.

https://i1.wp.com/www.sggp.org.vn/dataimages/original/2009/08/images302008_5.jpg
Đáng tiếc rằng trên thực tế có nhiều người khi nghe nói tới đức Phật sẽ nghĩ ngay rằng Ngài là người có vô lượng thần thông, biến hóa khôn lường, trừ được mọi tai ương cho bất cứ ai… Thực tế đã có người hỏi: “Nếu đức Phật là bậc đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi thì tại sao đức Phật lại nhẫn tâm dửng dưng trước nỗi thống khổ của nhiều người? Và tại sao Ngài không dùng thần thông trừ hết lũ tham nhũng hại dân, hại nước? Kẻ trộm vào chùa ăn cắp tượng Phật mang bán, tại sao Ngài bất lực đến nỗi để cho chúng hỗn láo như vậy?”. Có những kẻ cho rằng tu theo lời Phật dạy tất sẽ có thần thông, muốn gì được nấy, rồi họ đi tu cốt để mong có thần thông. Vậy thần thông có thể trừ bỏ được nghiệp lực ác không? Sau đây ta sẽ nêu lên một vài trường hợp có thần thông nhưng vẫn phải chịu bất lực trước quả báo.

Khi Phật còn tại thế, Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi chứng quả A La Hán đã có đủ lục thông. Vì thần thông siêu việt nên Tôn giả có thể dùng nó đi từ thế giới này đến thế giới nọ trong chớp mắt, hoặc dùng thần thông hoá hiện tuỳ ý. Một hôm Phật ngự trên một tầng lầu, dưới tầng trệt các Tỳ kheo nói chuyện ồn ào, Phật bảo Tôn giả Mục Kiền Liên làm cho các Tỳ kheo đó đừng làm ồn nữa. Tôn giả liền duỗi chân ra thì cái nhà xoay tròn, các Tỳ kheo hoảng hốt không dám nói chuyện nữa. Với thần thông như vậy, vì lòng hiếu thảo Ngài dùng thiên nhãn thông tìm thấy mẹ Ngài đang mang thân ngã quỉ khổ vô cùng. Ngài thương xót mẹ nên đi khất thực được một bát cơm, liền vận lnần thông đem đến dâng cho mẹ. Khi được cơm, tay trái bà bưng bát cơm, tay phải bốc cơm đưa lên miệng, nhưng cơm vừa tới miệng liền hoá thành lửa. Tôn giả thấy vậy liền rơi nước mắt.

Chúng ta đặt câu hỏi: nếu thần thông của Tôn giả Mục Kiền Liên siêu việt thì tại sao Ngài không dùng thần thông thổi tắt lửa để mẹ Ngài dùng cơm mà lại đứng khóc. Như vậy rõ ràng thần thông không trừ được nghiệp ác cho người thân, không chi phối được nghiệp lưc, cũng không đưa người đến sự an lạc vĩnh viễn. Thử hỏi xem có thần thông để làm gì?

Do không cứu được mẹ, Tôn giả trở về thuật lại cảnh khổ của mẹ, cầu Phật dùng phương tiện để cứu giúp. Phật dạy:

– Mẹ ngươi nghiệp ác quá nặng, sức ngươi cúng dàng không thể cứu được. Ngươi phải làm lễ Vu Lan chư tăng:
Sơn lâm thiền định
Thọ hạ kinh hành
Lục thông La Hán
Nhờ oai lực của các vị này cầu nguyện thì mẹ ngươi mới thoát được kiếp ngã quỉ.

Khi đó, Tôn giả vâng theo lời Phật dạy sắm sửa trai diên, thỉnh chư Tăng đang thiền dịnh ở núi rừng, đang kinh hành dưới cội cây, là những bậc chứng được lục thông A La Hán cùng trợ lực cầu nguyện thì mẹ Ngài mới thoát kiếp ngã quỉ. Vì lý do Tôn giả Mục Kiền Liên không đủ sức cứu mẹ, nên phải nhờ số đông chư Tăng đã chứng A La Hán trợ lực mới cứu được.

Khi về già, một hôm chính Tôn giả đi khất thực qua chân núi bị ngoại đạo lăn đá đè Ngài chết. Bình thường gặp những chuyện như thế này Ngài dùng thần thông bay bổng là tránh được hoạ. Nhưng bây giờ nghiệp lực đến, thấy đá lăn từ trên xuống, Ngài dùng thần thông bay đi nhưng bay không được nên bị đá đè chết. Như vậy thần thông bất lực trước quả báo.

Thời đức Phật còn tại thế, có bốn người ngoại đạo tu chứng được ngũ thông. Thiên nhãn thông là thấy tất cả người vật gần hay xa. Thiên nhĩ thông là nghe khắp tất cả âm thanh lớn nhỏ gần xa. Tha tâm thông là biết được ý nghĩ người khi mới khởi nghĩ chưa nói ra lời. Thần túc thông là biến hoá thân hình lớn nhỏ tuỳ ý, thăng thiên độn thổ không ngại. Túc mạng thông là biết được vô số kiếp về trước. Bốn vị này biết mình sắp bị quỉ vô thường đến bắt đi, nên mỗi người tìm cách để trốn thần chết. Vị thứ nhất dùng thần thông bay lên hư không núp trong đám mây xanh. Vị thứ hai vận thần thông lặn xuống đáy biển. Vị thứ ba dùng thần thông chui vào lòng núi. Vị thứ tư chui trốn ở trong lòng đất. Tất cả bốn vị đều nghĩ rằng chỗ mình trốn quỉ vô thường không thể tìm được. Nhưng đến giờ thần chết đến thì vị thứ nhất ở trên mây hết thần thông rơi xuống đất nát thây. Vị thứ hai ở dưới biển hết thần thông ngợp chết nổi lên. Vị thứ ba ở trong lòng núi hết thần thông đá nứt đè chết. Vị thứ tư ở trong lòng đất hết thần thông bị đất sụp chôn thây luôn.

Lại một trường hợp nữa: có một vị tu sĩ đạt đạo chứng được ngũ thông, thuyết giảng giáo lý rất hay đến nỗi Trời Ðế Thích cũng đến nghe. Một hôm, Trời Ðế Thích nghe giảng xong ra ngoài ngồi bên gốc cây khóc. Vị tu sĩ lấy làm lạ hỏi:
–Tại sao nghe giảng xong ông lại khóc. Tôi giảng có chỗ nào ông không đồng ý.
Ðế Thích đáp:
– Không. Ngài giảng rất hay, vì tôi thấy Ngài sắp chết nên tôi thương tôi khóc.
Tu sĩ hỏi:
– Vậy phải làm sao cho khỏi chết?
Ðế Thích đáp: Nếu Ngài muốn khỏi chết, hãy đến cầu cứu với Đức Phật Thích ca.
Tu sĩ hỏi:
– Đức Phật Thích Ca là ai và đang ở đâu?.
Ðế Thích đáp:
– Ngài là một vị giác ngộ hoàn toàn sạch hết vô minh lậu hoặc, đang ở tịnh xá trúc lâm gần thành Vương xá.

Vị tu sĩ bèn vận thần thông bay đi tìm Phật, dọc đường ông nghĩ rằng: đi cầu Phật dạy nên có lễ vật để cúng dường Ngài. Ông thấy bên đường có những cây ngô đồng đang trổ hoa thật đẹp, bèn nhổ và cầm đến cúng Phật. Khi tới tịnh xá Trúc Lâm, thấy Phật đang thuyết pháp cho chúng Tỳ kheo nghe, ông quì xuống dâng hai cây ngô đồng lên Phật và thưa:
– Thưa Thế Tôn, con xin cúng dường Ngài hai cây ngô đồng và cầu xin Ngài dạy cho con phương pháp tu để khỏi chết.
Lúc đó Phật không dạy gì hết, chỉ bảo:
– Buông!
Tu sĩ buông tay thứ nhất, ngã cây ngô đồng thứ nhất.
Phật lại bảo:
– Buông!
Tu sĩ buông cây thứ hai, ngã cây ngô đồng thứ hai.
Phật nói tiếp
– Buông!
Tu sĩ sửng sốt thưa:
– Hai tay con cầm hai cây ngô đồng, lần thứ nhất Phật bảo buông, con buông cây thứ nhất, lần thứ hai Phật bảo buông, con buông cây thứ hai là hết. Phật bảo buông nữa con không biết buông cái gì?

Phật nói:

– Ta đâu có bảo ông buông hai cây ngô đồng. Lần thứ nhất ta bảo ông buông là đừng chạy theo ngoại cảnh. Lần thứ hai ta bảo ông buông là đừng chấp sáu căn làm ngã. Lần thứ ba ta bảo ông buông là không chấp sáu thức làm ngã. Nếu ông buông hết ba thứ đó thì ông hết chết.

Nghe Phật nói, tu sĩ nhận ra yếu chỉ, tu một thời gian chứng A La Hán. Hết chết là không còn nghiệp dẫn đi trong luân hồi sinh tử, chứ không phải thân tứ đại hiện đời không hoại, không chết. Ðể thấy rằng dù có tu luyện được thần thông đến đâu mà chưa buông xả được cảnh, thân và tâm thức thì cũng chưa thoát khỏi sinh tử luân hồi.

Cũng trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, cô Kisa Gotami là một phụ nữ rất thật thà chất phác có một đứa con trai. Chẳng may con cô lâm bệnh rồi một hôm qua đời. Thương con quá đỗi, cô tin tưởng rằng con mình không thể chết, vội vác nó lên vai, chạy tìm đức Phật và xin Ngài cứu sống. Có lẽ cô ta tin rằng đức Thích tôn có phép mầu nhiệm cải tử hoàn sinh cho nên mới xin Ngài như vậy. Ðức Phật bèn bảo cô đi tìm kiếm một ít hột cải nơi một nhà nào không có người chết để Ngài cứu tử hoàn sinh cho đứa trẻ. Hột cải thì cô kiếm ra, nhưng nhà mà không có người chết thì cô đi khắp cùng cũng không tìm đâu ra được. Tức thì cô hiểu đức Phật muốn dạy gì bèn đem chôn cất con và trở lại xin đức Phật cho phép cô xuất gia làm Tỳ kheo ni. Một đêm ngồi trước ngọn đèn, thấy đèn mờ dần rồi tắt, cô suy xét hiểu được lý sinh diệt vô thường thế là liền đắc quả A La Hán.

Lại một hôm Phật cùng các đệ tử đi qua một khu rừng, vừa đến một mé sông thấy có một vị Ðạo sĩ Du già ngồi ở cội cây. Phật hỏi: “Ông ở đây bao lâu và đã tu được gì?”. Ðạo sĩ nói: “Tôi tu 40 năm và đã được phép khinh thân, đi qua con sông không cần phải ghe xuồng gì cả!”. Nói đoạn, Ðạo sĩ niệm chú, bước qua sông nhẹ như chiếc lá trưước những cặp mắt thán phục của các đệ tử Phật. Phật nói với Đạo sĩ: “Tưởng gì lạ, chứ để đi qua con sông như thế mà phải tốn công phu tu luyện 40 năm, thật là uổng phí công phu vô ích quá! Chỉ với đồng tiền này, người đưa đò sẽ đưa chúng tôi qua bên kia sông một cách dễ dàng”.

Đạo sĩ phải mất bốn mươi năm luyện tập để được thần thông cũng chỉ để qua sông, trong khi đó Phật chỉ tốn ít tiền mà đưa được cả mọi người qua sông! Thử hỏi xem thần thông ấy có giá trị gì? Nhà Phật không trọng thần thông, coi đó chỉ là trò biểu diễn vui chơi, không làm cho con người thoát được khổ đau.

( Trích từ bài Nghiệp Lực và Thần Thông)

Tiến Sĩ Trần Đức Công

Nguồn : Diễn Đàn Phật Pháp Online

Một phản hồi

  1. Bài viết rất tinh tế về giáo thuyết của Phật gia. Hy vọng mọi Phật tử nắm bắt được phần cốt lỏi để luôn sống trong an lạc.

    Cám ơn tác giả.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Banmaihong's Blog

Nơi Đây Nắng Ban Mai Hồng Reo Vui

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: