• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 908 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 908 người theo dõi

Lịch sử áo dài Việt Nam

(Trích từ “Chiếc Áo Dài Việt Nam và Đạo Làm Người” – Nguyễn Huỳnh)

Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một loại y phục cá biệt, khi nhìn cách phục sức của họ, chúng ta nhận biết họ thuộc quốc gia nào.  Người Nhật Bản có chiếc áo Kimono, người Trung Hoa đời Mãn Thanh có chiếc áo Thượng Hải mà quí bà quí cô thường gọi là áo “xường xám”, người Đại Hàn, người Phi, người Thái v.v. Người Việt Nam, chúng ta hãnh diện về chiếc áo dài, được trang trọng nâng lên ngôi vị quốc phục, cũng có người gọi một cách hoa mỹ hơn: “chiếc áo dài quê hương”.

Kẻ viết bài nầy cố gắng góp nhặt rãi rác một số ít các tài liệu về chiếc áo dài được ghi chép rất vắn tắt trong các sách sử.  Ngoài ra, cũng cọ̀n có một ít tài liệu tìm thấy trên sách báo cũ, nhưng không ghi rỏ xuất xứ.  Tài liệu ghi trong sách cũ tuy vắn tắt, nhưng đáng tin cậy.

Dân tộc Việt Nam có một chiều dài lịch sử trên bốn ngàn năm theo như sử sách đã ghi, trong đó có một ngàn năm bị Bắc thuộc, tám mươi hai năm bị Pháp đô hộ, tiếp theo là cuộc nội chiến tương tàn!  Một dân tộc mà bị dân tộc khác đô hộ trên ngàn năm quả là quá lâu.  Bao nhiêu tài sản của quốc gia, sử sách quí giá, tài liệu về lịch sử v.v… đã bị cướp đi hoặc tiêu hủy hết.  Mục đích của kẻ thống trị là triệt tiêu nền văn hóa của ta để đồng hóa.  Mặc dầu bị ngoại xâm, chiến tranh tàn phá liên miên, nhưng dân tộc ta luôn có sự đề kháng tinh vi để trường tồn.

Sử gia Đào Duy Anh chép: “Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài cài về bên tả (tả nhiệm).  Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Điên dạy cho dân quận Cửu chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu.  Theo những lời sách chép đó thì ta có thể đoán rằng trước hồi Bắc thuộc dân ta gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người Trung quốc mới mặc áo gài về tay phải.” (Việt nam Văn Hóa Sử, Đào Duy Anh, trang 172).  Mặc dầu cuộc sống chung đụng và bắt chước theo người ngoại quốc, nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo duy trì nét đặc thù của nền văn hóa, không đánh mất bản sắc dân tộc.

Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao, vì thiếu tài liệu kiểm chứng.  Mới đây, nhân đọc cuốn kể chuyện “Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn” của ông Tôn Thất Bính, (Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, 1997) có bài “Những Trang Đầu của Lịch Sử Áo Dài” tác giả chép như sau:

a01.jpg

“Chiếc áo dài tha thướt xinh đẹp hiện nay phải qua một quá trình phát triển.  Nó được hình thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát.  Nguyên chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe người Nghệ An truyền câu sấm: “Bát đại thời hoàn trung nguyên” (tám đời trở về trung nguyên), thấy từ Đoan Quốc Công đến nay vừa đúng tám đời bèn xưng hiệu lấy thể chế áo mũ trong Tam tài đồ hội làm kiểu… lại hạ lệnh cho trai gái hai xứ đổi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi, khiến phụ nữ bận áo ngắn hẹp tay như áo đàn ông thời Bắc quốc không có thế.

 

Thế là do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc, Nguyễn Phúc Khoát hiểu dụ:

“Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cỡi biên, trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục cũng nên thống nhất.  Nếu cọ̀n có người mặc quần áo kiểu người khách (Trung quốc, TTB chú) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà.  Đổi may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn, còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng nhất thiết không được quen thói cũ dùng càn.  Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ.  Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được.  Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hoặc vải đen, hay vải trắng tùy nghi.  Còn các bức viền cổ và kết lót th́ì đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng.”

Như vậy từ thế kỷ XVIII, chiếc áo dài đã được ra đời, dù ban đầu còn thô sơ, nhưng kín đáo.  Nó là sản phẩm mang màu sắc dung hạp Bắc Nam.  Cũng ở thời Nguyễn Phúc Khoát, phụ nữ đã biết trang điểm, thêu thùa hoa lá quanh cổ áo để tăng vẻ đẹp, hàng vải khá tốt và tinh xảo.  Các loại áo đoạn hoa bát ty, sa, lương, địa, the là hàng hoa được mặc vào ngày thường, áo vải, áo mộc bị chê là vải xấu.

Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang lịch sử đầu cho chiếc áo dài vậy. (Theo Lê Qúi Đôn Phủ biên tạp lục, trong cuốn “Kể chuyện Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn”, của Tôn Thất B́inh, trang 29.)

Chúa Nguyễn Phúc Khoát hùng cứ ở xứ Đàng Trong, sau khi chiếm trọn nước Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phương Nam, theo Lê Quý Đôn, đã có được thời kỳ thịnh vượng bình yên.  Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu là Vũ Vương, có triều nghi xây hai điện Kim Hoa, Quang Hoa, có các nhà Tụ Lạc, Chính Quang, Trung Hoà, Di Nhiên, đài Sướng Xuân, các Dao Trì, các Triều Đương, các Quan Thiên, đình Thụy Vân, hiên Đồng Lạc, an Nội Viên, đình Giáng Hương, điện Trường Lạc, hiên Duyệt Vơ v.v., có cơ chế chính trị, hành chánh, xã hội có kỷ cương, nhưng chưa có quốc hiệu.  Tuy nhiên, người ngoại quốc tới lui buôn bán tại cửa Hội An thường gọi là “Quảng Nam quốc”.  Để chứng tỏ tinh thần độc lập, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã chú trọng đến vấn đề cải cách xã hội, phong tục mà điều quan trọng là sự cải cách về y phục.

Nếu căn cứ theo tài liệu kể trên thì chiếc áo dài Việt nam đã ra đời vào thế kỷ XVIII, trong thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 1765) (?).

Từ đó đến nay chắc chắn chiếc áo dài Việt Nam cũng đã thay hình đổi dạng để thích nghi với trào lưu tiến hóa và sự trường tồn của dân tộc.

Sách Đại Nam thực lục tiền biên cũng có chép: “Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục”.  Có lẽ vào thời xa xưa đàn bà Việt Nam mặc áo thắt vạt và mặc váy.  Ta đọc đoạn sử sau đây: “Đến đời Minh Mệnh có lệnh cho đàn bà đường ngoài phải mặc quần, nhưng chỉ những người giàu sang ở thành thị tuân theo, chứ ở nhà quê thì đến nay đàn bà cũng vẫn mặc váy.” (Việt Nam Văn Hóa Sử, Đào Duy Anh, trang 173).

 

Mặc dầu bị ngoại xâm và bị đô hộ lâu dài, nhưng tổ tiên ta vẫn khôn khéo duy trì một xã hội có kỷ cương, tôn ti trật tự.  Cứ nhìn vào trang phục và màu sắc để phân biệt giai tầng trong xă hội.  Sách Vũ Trung Tùy Bút chép:
“Đời xưa học trò và người thường, khi có việc công thì mặc áo xanh lam (thanh cát), lúc thường thì mặc áo màu thâm (chuy y), người làm lụng thì mặc áo màu sừng (qú sắc).  Từ đời Lê về sau thì sắc trắng ít dùng.  Cứ trạng thái y phục gần nhất của người nước ta thì các quan hay mặc áo xanh lam, học trò cùng những chức viên, tổng lư và hạ lại thường dùng màu sừng và màu đen, người nhà quê và người làm lụng thì thường dùng màu nâu.  Người giàu sang thì mặc the lụa gấm vóc, còn người nghèo hèn thì chỉ dùng vải to … vua quan thì có phẩm phục, quân lính thì có nhung phục, thường dân thì có lễ phục”.

Trong Việt Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng Kim viết: “Vua Lê Lợi, ngày ấy dấy quân khởi nghĩa chống giặc Tàu ở đất Lam sơn.  Ngài dùng chiếc áo vải màu lam là màu áo biểu tượng để kháng giặc”.  Vì thế vua Lê Lợi được mệnh danh là “Anh hùng áo vải Lam Sơn”.

Qua các đoạn sử vừa trích dẫn ở trên, ta thấy y phục là một biểu tượng của quốc gia dân tộc.  Trải qua bao biến thiên của đất nước, chiếc áo dài cũng đã được cải tiến.  Vào khoảng thập niên 1930, nhóm văn sĩ trong Tự Lực Văn Đoàn đã chủ xướng cuộc cải cách văn hóa, tư tưởng mới cho thế hệ trẻ.  Trong nhóm này có hai họa sĩ du học từ Pháp về, đó là các ông Nguyễn Cát Tường và Lê Phổ, dùng hai tờ báo Ngày Nay và Phong Hóa làm phương tiện truyền bá của nhóm.  Hai họa sĩ đã vẽ và chỉnh trang kiểu áo dài phụ nữ gọi là áo “Le Mur Cát Tường” cổ cao, không có eo.  Ông Nguyễn Cát Tường viết trong tờ Phong Hóa, có đoạn: “Muốn biết nước nào có tiến bộ, có kỷ thuật hay không?  Cứ xem y phục người nước của họ, ta cũng đủ hiểu.” (Phong Hóa số 86, tháng 2 1934).

Một nhân vật nữ khác không thể không nhắc đến, đó là bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu trưởng của trường nữ Trung học Hà Nội, đã làm thêm một cuộc cải cách táo bạo hơn, bà nhấn eo chiếc áo, ôm sát theo đường nét mỹ miều duyên dáng của phái nữ.

Đến ngày nay, chiếc áo dài của quí bà quí cô là một tác phẩm mỹ thuật tuyệt vời. Nó đã trở thành một thứ y phục độc đáo của phụ nữ Việt nam. Tại cuộc hội chợ quốc tế Osaka, năm 1970 tại Nhật bản, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam đã lên ngôi và đem lại vinh dự cho phái đoàn VNCH.

Khách quốc tế trầm trộ thán phục trước các vạt áo lã lơi như cánh bướm trước gió.  Khách bình phẩm:

– Hơi mỏng!

– Nhưng rất kín đáo, đủ sức che mắt thánh!

Một nhiếp ảnh gia quốc tế của Việt nam cũng đã hãnh diện về hấp lực của chiếc áo dài tại hội chợ, nên có nhận xét:

-Nó có sức chở gió đi theo.

Những lời nhận xét trên không có gì quá đáng.  Chiếc áo dài Việt nam chỉ thích hợp cho thân hình kiều diễm, ẻo lả, mảnh mai của phụ nữ Việt nam.  Nó vừa kín đáo, vừa e ấp, vừa khêu gợi. Nó khai thác được đường nét tuyệt mỹ của thân thể.

Thi sĩ Xuân Diệu thú nhận:

Những tà áo lụa mong manh ấy,
Đã gói hồn tôi suốt trọn đời.

 Chiếc áo dài hiển nhiên là một loại “quốc phục”.  Khách khứa đến thăm, chủ nhà trịnh trọng bận chiếc áo dài như là một chiếc áo lễ để tiếp khách.  Tại học đường nó là chiếc áo học trò ngây thơ, tung tăng như cánh bướm, gói trọn mộng đẹp của tương lai.  Một chiếc khăn vành có tác dụng như một “vương miện”, thêm vào chiếc áo choàng bên ngoài sẽ trở thành bộ y phục “hoàng hậu” cho cô dâu khi bước lên xe hoa.  Trong buổi dạ tiệc, chiếc áo dài Việt nam cũng sẽ lộng lẫy, độc đáo, không thua bất kỳ bộ trang phục của các quốc gia nào khác trên thế giới.

 

Tại miền quê Quảng Nam, những người buôn thúng bán bưng, mặc dầu nghèo khổ, cũng luôn luôn bận chiếc áo dài khi ra chợ. Nếu áo rách, sờn vai thì chắp vào chỗ rách một phần vải mới, gọi là áo “vá quàng”.  Dầu là áo rách, áo vá quàng, vẫn tăng giá trị:

 Đố ai kiếm được cái vảy con cá trê vàng,
Cái gan con tép bạc, mấy ngàn tôi cũng mua.
Chẳng thương cái cổ em có hột xoàn,
Thương em mặc chiếc áo vá quàng năm thân.
Áo may cái thuở anh mới thương nàng,
Đến nay áo rách lại vá quàng thay tay.
(Ca dao)

 Chiếc áo dài, một đề tài phong phú để dành cho các thi sĩ dệt thơ.  Trong bài “Áo Trắng” Huy Cận viết:

 Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng, em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng
……

Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.

……

Dịu dàng áo trắng trong như suối,
Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay.

 

Thi sĩ Đông Hồ cũng đã tình nguyện bán thơ mình để “Mua Áo” cho cô gái xuân, lời thơ nhẹ nhàng phơi phới yêu đương, có chiều lã lơi mà trong sạch, nũng nịu đến dễ thương:

 Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi,
Em đâu còn áo mặc đi chơi.
Bán thơ nhân dịp anh ra chợ.
Đành gởi anh mua chiếc áo thôi.

Hàng bông mai biếc màu em thích,
Màu với hàng, em đã dặn rồi.
Còn thước tấc, quên! Em chưa bảo:
Kích tùng bao rộng, vạt bao dài?

Ô hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ!
Thước tấc anh còn lựa hỏi ai.
Rộng hẹp, tay anh bồng ẳm đó,
Ngắn dài, người mới tựa bên vai!
(Đông Hồ, “Cô Gái Xuân”)

Thi sĩ Phan Long cũng trải hồn mình qua bài cảm tác “Chiếc Áo Dài Tà Áo quê Hương” sau đây:

 Em yêu mến chiếc áo dài,
Thướt tha duyên dáng đẹp hoài thời gian.
Ngày xuân nắng trải tơ vàng,
Khoe tà áo mới ngập tràn tuổi thơ.
Lớn theo lứa tuổi học trò
Tình che vạt trước gió lùa vạt sau.
Những ngày đẹp mãi bên nhau,
Vạt vui in dấu vạt sầu còn vương.
Đẹp sao tà áo quê hương,
Áo dài màu trắng nhớ thương năm nào.
(Phan Long)

Cái tài tình của chiếc áo dài Việt Nam qua cách cấu trúc chẳng những là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, nhưng bên trong còn ẩn tàng ý nghĩa dạy dỗ về đạo làm người.  Dân tộc Việt nam phải phấn đấu không ngừng chống nạn ngoại xâm để trường tồn, và bảo vệ những giá trị truyền thống về văn hóa, kỷ cương gia đình Dầu muốn hay không thì dân tộc ta, cũng như các dân tộc Á châu khác đã chịu ảnh hương sâu đậm của Tam Giáo và học thuyết Khổng Mạnh.  Gia đình, xã hội được xây dựng trên nền tảng tam cương, ngũ thường.  Tổ tiên ta răn dạy con cháu thật chặt chẻ về đạo làm người, chẳng những trên sách vở, mà còn phải luôn luôn mang nó theo trên người. Phải chăng đây là sự dạy dỗ sâu sắc, khéo léo của tiền nhân? Nếu quả đúng như vậy thì chiếc áo dài Việt Nam là cái gia phả vô cùng quí giá ẩn tàng sự dạy dỗ con cháu về đạo làm người.  Ta phải hãnh diện, nâng niu, bảo vệ, xem như một di sản văn hóa do tổ tiên truyền dạy.

Ta thử xem cách cấu trúc của chiếc áo dài xưa:

Phía trước có hai tà (hay hai vạt), phía sau hai tà, tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu (cha mẹ chồng, cha mẹ vợ).  Một vạt cụt, hay vạt chéo phía trước có tác dụng như một cái yếm che ngực, nằm phía bên trong hai vạt lớn, tượng trưng cho cha mẹ ôm ấp đứa con vào lòng.  Năm hột nút nằm cân xứng trên năm vị trí cố định, giữ cho chiếc áo được ngay thẳng, kín đáo, tượng trưng cho năm đạo làm người: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.

Trong chiếc áo tứ thân, người ta thường buộc hai vạt trước lại với nhau để giữ cho chiếc áo cân đối, tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng âu yếm, quấn quít bên nhau. (trích từ “Chiếc Áo Dài Việt Nam và Đạo Làm Người”)

Ai đã từng dắt xe đạp chở nàng áo thướt tha ở cổng trường Gia Long, ai đã từng theo trêu ghẹo các nữ sinh áo trắng trường Trưng Vương, ai đã mê mẫn đuổi theo vạt áo để đề thơ hẳn không quên những tà áo sinh viên mượt mà, tung bay trong gió thu.  Từ những tà áo thật giản đơn đến những tà áo lộng lẫy từ những tà áo tô điễm cho các dịp lễ hội, đám cưới, đám tang, đến những tà áo thơ ngây dưới sân trường, tất cả đều có thể được mô tả bằng một danh từ chung: ÁO DÀI.

 

Cho đến nay, chưa ai rõ nguồn gốc đích thực của chiếc áo dài, chỉ biết rằng thủy tổ của nó, vốn làm bằng da thú và lông chim, xuất hiện trước thời Hai Bà Trưng (năm 38-42 trước Tây lịch) qua các hình khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ (5000 năm trước Tây Lịch).  Theo truyền thuyết, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân nhà Hán.  Cũng tương truyền, do tôn kính Hai Bà, phụ nữ Việt Nam tránh mặc áo hai tà mà may thay bằng áo tứ thân với bốn thân áo tượng trưng cho bốn bậc sinh thành (của hai vợ chồng).

Vả lại, khi đó kỹ thuật còn thô sơ, vải được dệt thành từng mảnh khổ nhỏ nên phải ghép bốn mảnh lại mới may đủ một áo, gọi quen là áo tứ thân.  Áo gồm hai mảnh đằng sau chắp lại giữa sống lưng (gọi là sống áo), mép của hai mảnh được nối vào nhau và dấu vào phía trong.  Hai mảnh trước được thắt lên và để thòng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không phải cài khuy (cúc, nút) khi mặc.  Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại tang (tang chồng hay cha mẹ) mới thả xuống và mép vải để lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong.  Đấy là hình ảnh chiếc áo dài tứ thân mộc mạc, khiêm tốn.

Sau khi xua quân đánh đuổi quân Hai Bà, tướng Mã Viện áp đặt một chế độ cai trị hà khắc nhằm đồng hóa nền văn hóa Việt.  Hơn 1000 năm dưới sự đô hộ của Trung Hoa, chiếc áo dài, áo tứ thân cũng nỗi trôi theo mệnh nước nhưng không bao giờ bị xóa bỏ.  Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là miệt quê, cho đến ngày hôm nay.

Vào thời vua Gia Long (1802 1819), chiếc áo dài tứ thân được biến cải thành áo ngũ thân, rất phổ thông trong giới quyền quý và
dân thành thị.  Áo ngũ thân cũng được may như áo tứ thân, nhưng vạt áo bên phải phía trước chỉ được may bằng một thân vải, còn vạt áo bên trái được may bằng hai thân vải như vạt áo đằng sau. Ngoài ra, áo năm thân có khuy áo như đàn ông, lúc mặc có thể cài khuy như áo dài ngày nay hoặc thắt vạt như áo tứ thân.

Về ý nghĩa, bốn thân áo chính tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và thân thứ năm (vạt con) tượng trưng cho người mặc áo; năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo Khổng Giáo: Nhân (lòng thương người, nhân từ), Lễ (biết trên, dưới), Nghĩa (nghĩa khí), Trí (sự sáng suốt, trí tuệ), Tín (uy tín).  Rõ ràng, chiếc áo dài ngũ thân diễn đạt nhân sinh quan của Việt Nam nhưng không khỏi sự ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều năm đô hộ.

Khi triều đình Huế ký hòa ước Patenôtre nhượng quyền cai trị nước vào tay Pháp năm 1884, văn hóa Tây Phương bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đi đôi với việc dạy chữ Quốc Ngữ thay chữ Nho.  Cuộc sống bỗng biến đổi theo đà đua đòi của văn hóa Tây Phương, nhất là ở những đô thị lớn.

Sau khi chính phủ Pháp mở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, một lô cải cách cho chiếc áo dài truyền thống đã được một số người có tâm huyết với chiếc áo dài đưa ra.  Các màu nâu, đen thường được thay bằng bằng các sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời ấy.

Năm 1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã khích động phong trào cải cách: “…Các nhà đạo đức thường nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi bị gió mưa, nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì…Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân, song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước.  Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu….”

Trong thập niên 1930, Cát Tường đưa ra thị trường kiểu áo dài mới Le Mur.  Kiểu Le Mur được vẽ theo kiểu áo đầm Tây Phương với nối vai và tay phồng, cổ lá xen, cài khuy trên vai, mặc với quần trắng, đeo bóp, che dù, v.v… Sau đó, họa sĩ Lê Phổ cải tiến áo Le Mur và mẫu áo dài này được hoan nghênh trong Hội Chợ Nữ Công Đà Nẵng.  Đây là một kết hợp giữa áo Le Mur và áo tứ thân, rất gần gũi với chiếc áo dài tân thời ngày nay: nối vai và tay không phồng lên, cổ kín, cài nút bên phải, thân ôm sát người, hai tà áo mềm mại bay lượn.

Áo dài Lê Phổ được may bằng vải màu mặc với quần trắng, tóc búi lỏng hay vấn trần hoặc vấn khăn nhung.  Trong suốt gần 30 năm sau đó chiếc áo dài Việt Nam không thay đổi bao nhiêu, ngoại trừ cổ áo, gấu áo, và eo áo: cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thí lúc nhỏ lúc to.  Những thay đổi này đi đôi với những thay đổi nho nhỏ cũa chiếc quần phụ nữ: chân què qua đáy giữa, lưng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là dùng phẹc mơ tuya (fermeture), ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn một.

Mãi đến đầu thập niên 1960, nhà may Dung Đakao ở Sài Gòn đưa ra một kiểu áo dài mới: áo dài tay raglan mặc với quần xéo. Vì tay áo và thân áo được nối xéo góc khoảng 45 độ, kiểu áo dài raglan này tránh được những đường nhăn hai bên nách và vai (so với kiểu áo Lê Phổ).  Chiếc quần xéo may bằng vải mềm, được xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát người và hai ống lòa xòa dài qua mắt cá chân giúp cho nữ giới có những bước đi tha thước qua đôi guốc ẩn hiện dưới hai ống quần.

Sau áo dài raglan là áo dài mini raglan, vốn là áo raglan may với tà áo cao gọn ghẽ. Kiểu mini raglan này được các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến cuối tháng Tư 1975.

Cảm thấy muốn tiến xa hơn, một số nhà may tại Sài Gòn đã tung ra thị trường kiểu áo dài ba tà gốm một vạt sau và hai vạt trước.  Cổ áo cao, có khuy cài từ cổ xuống eo.  Áo ba tà được mặc với quần ống voi, thứ quần dài có ống rộng thùng thình. Kiểu áo này không ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất ôn nhu cũa nữ giới Việt Nam.

Ngày nay, khi tị nạn đến xứ người, các nhà vẽ kiểu thời trang lại “thêm bớt” cho chiếc áo dài.  Trong đó, có kiểu áo dài “ngắn” với hai tà áo ngắn lên quá đầu gối, áo hở cổ, áo một tay, v.v… Nhưng có lẽ khó có kiểu nào sánh được những chiếc áo mini raglan trắng nõn mà các chàng ngơ ngẫn đứng chờ trước cổng trường Gia Long, Trưng Vương ngày nào.
Tà áo dài Việt Nam


Cũng không ngạc nhiên khi một người Việt Nam trả lời rằng tà Áo Dài là một trong những hình tượng tiêu biểu ở đất nước này.  Thật khó mà dịch từ “Áo Dài” sang bất cứ ngôn ngữ nào vì không ở đâu có một tà áo Dài như ở Việt Nam.

Áo Dài, trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam, ôm sát cơ thể, có cổ cao và dài khoảng ngang gối.  Nó được xẻ ra ở hông.  Áo Dài vừa quyến rũ lại vừa gợi cảm, vừa kín đáo nhưng vẫn biểu lộ đường nét của một người thiếu nữ.

Nhìn lại chiều dài lịch sử đất nước, tà áo Dài là một sáng tạo nghệ thuật mới.  Nó thay thế trang phục cổ truyền mà mầu sắc và kiểu dáng phải tuân theo những đòi hỏi lễ nghi và những tầng lớp xã hội.  Mầu vàng chỉ dành cho những ông vua và họ được mặc áo lông bào.  Mầu trắng là mầu tang còn mầu xanh dành cho các vị quan trong những dịp trang trọng.  Trước nữa, đầu thế kỷ 18, phụ nữ Việt Nam mặc váy dài.  Vào năm 1744, viên quan Vũ Vương cai trị phía Bắc miền Trung VN của triều Nguyễn yêu cầu thay đổi trang phục VN trên cơ sở kiểu cáo Trung Hoa.  Bộ quần áo có nút thay thế cho váy và áo xẻ ngực thắt dây.  Vua Minh Mạng, vị vua thứ hai của triều Nguyễn ban hành sắc lệnh cấm phụ nữ mặc váy.

Áo Dài được phát hiện từ thời Pháp thuộc khi một phụ nữ Việt Nam tên Tường thay đổi chiếc áo tứ thân (áo dài có bốn mảnh) thành chiếc áo hai tà đầu tiên. Người Pháp gọi chiếc áo dài đó là Le Mur có nghĩa là “the wall” trong Anh ngữ.

Từ đó, chiếc Áo Dài đã được thau đổi khá sâu sắc.  Hai kiểu Áo Dài được ưu chuộng là kiểu cổ tròn, tay raglan (tay liền) và kiểu tay puff (tay phồng).  Ngoài ra tà áo được nối liền với phần thân qua những đường chỉ nối quanh cổ áo. Ngoài hai kiểu áo nêu trên, nhiều kiểu áo khác như kiểu cổ thuyền, cổ vuông, cổ chữ V, thích hợp với những người tương đối đầy đặn, kiểu vai phồng cho những thiếu nữ mảnh mai.  Chất liệu mới cho Áo Dài được kết hợp từ những tấm vải mẫu, thường được trang trí bằng những đường nét thủ công hoặc thêu thùa.

Tà Áo Dài không thể gia công hoặc bán hàng loạt như những loại quần áo may sẵn khác.  Mỗi mảnh được tạo ra là một công trình nghệ thuật của người thợ thủ công. Những thợ may Áo Dài thường phải từ chối đơn đặt hàng trước dịp năm mới.  Đôi khi người ta nhận làm chỉ 24 giờ với giá gấp đôi.

Bà James Sterson, một sứ giả Mỹ đã nói rằng: Không một đất nước nào có một trang phục dân tộc vừa đẹp, truyền thống mà lại có chiều sâu văn hóa như Áo Dài VN.

Ngày nay, Áo Dài xuất hiện khắp nơi trên thế giới.  Những phụ nữ Việt Kiều biểu lộ tình cảm với quê hương qua chiếc Áo Dài.

Những chiếc áo dài Việt Nam dù với mầu sắc đậm chói hay dịu mát, may bằng hàng vải thô sơ hay tơ gấm lụa là, vạt áo có ngắn cũn hay dài thượt, thân áo có nhỏ hẹp hay rộng rãi, cổ áo có kín cổng cao tường hay hở hang lộ liễu… vẫn là một kết hợp của chân thiện mỹ.

Áo dài Việt Nam không những nói lên nhân sinh quan Việt Nam mà còn gói trọn tinh thần Việt Nam: Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng chỉ tiếp nhận tinh hoa mà gạn lọc cặn bã, tô bồi thêm nét đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập.

Áo Dài Việt Nam là niềm kiêu hãnh của người Việt Nam.  Chính vì vậy mà người Việt vẫn yêu quý tà áo Việt, nhất là thế hệ trẻ lưu vong trong sứ mạng gìn vàng giữ ngọc.

Tà Áo Dài xứng đáng với mệnh danh “Nét duyên dáng Việt Nam”.
.

Túy-Phượng sưu tầm.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: