• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Có 913 người theo dõi

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Có 913 người theo dõi

Tìm Hiểu Nội Dung và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ (Túy Phượng)

Các phần trước đã giới thiệu trên Ban Mai Hồng

1. Mở đầu

2. Ngày 20- 5: Đệ Nhất

3. Ngày 25-5 : Đệ Nhị- Đệ Tứ

Đệ Ngũ: Mục Ngưu (Chăn Trâu)

Tựa của Từ Viễn:

Tiền tư tài khởi, hậu niệm tương tùy.Do giác cố dĩ thành chân, tại mê cố nhi vi vọng. Bất do cảnh hữu, duy tự tâm sinh. Tỵ sách lao khiên, bất dung nghĩ nghị. 

Diễn ý:

Vừa khi một niệm vừa chợt dậy lên thì đã có bao nhiêu niệm khác nối tiếp theo. Nhờ lòng mình đã thức tỉnh mới thấy được cái tâm chân thực xưa nay, chứ còn như mê muội sẽ sanh ra ảo tưởng. Điều đó không phải lỗi của đối tượng. Ảo tưởng chỉ sinh ra từ lòng mình. Chỉ còn cách nắm dây thừng xỏ mũi trâu mà kéo, không cho chống báng bình phẩm gì hết.

Phụ chú:

Mục ngưu: Chăn nuôi trâu. Như đã nói đến trong truyện về Thạch Củng[12] , nuôi trâu là một đề tài thiền gia hay ví von với sự tu hành. 

Tiền tư tài khởi…: Trạng thái bất an trong lòng, khác với cảnh “tâm tâm bất dị”. Theo Truyền đăng Lục quyển 30 thì Ngưu Đầu Pháp Dung trong Tâm Minh (Bài minh về chữ Tâm) có câu: Niệm khởi niệm diệt. Tiền hậu biệt vô. Hậu niệm khởi sinh. Tiền giả tự tuyệt”.

Do giác cố dĩ thành chân: Khi vừa thức tỉnh là đã tìm thấy lại cái tâm đích thực xưa nay. Bài Chứng Đạo Ca có câu: “Mộng lý minh minh lục thú hữu. Giác hậu không không đại thiên vô”. Tông Mật trong Trung Hoa Truyền Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ có kể lại chuyện ông quan lớn kia, nằm ngủ chiêm bao thấy mình ở trong lao ngục, bị gông xiềng và chịu nhiều thống khổ, đang tính trăm mưu nghìn kế để thoát thân. Gặp lúc có người đến đánh thức, giật mình tỉnh ra nhìn lại, mới thấy đang còn ở trong nhà. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 4 cũng có câu chuyện về một người tên Diễn Nhược Đạt Đa, khi tỉnh mộng thì tìm ra được sự thực bản lai, hết còn vọng tưởng.

Bất do cảnh hữu…: Thay vì “do”, có chỗ viết là “duy” như chữ dùng trong câu “tam giới duy nhất tâm”. Ý nói nếu tâm sinh thì chư pháp đều sinh, nếu tâm diệt tức khắc chư pháp đều diệt.

Nghĩ nghị: Nghị luận, phê bình chỉ trích.

Tụng của Khuếch Am Tắc Hòa Thượng:

Tiên sách thời thời bất ly thân,
Khủng y tung bộ nhạ ai trần.
Tương tương mục đắc thuần hòa dã,
Ky tỏa vô câu tự trục nhân. 

鞭 索 時 時 不 離 身
恐 伊 縦 歩 惹 埃 塵
相 将 牧 得 純 和 也
羈 鎖 無 拘 自 逐 人

(Thừng, roi luôn giữ lấy không rời,
Vì sợ trâu lồng tung bụi đời.
Nhưng nuôi cho khéo sẽ thuần thục,
Không giây không khóa cũng theo người).

Họa của Thạch Cổ Di Hòa Thượng:

Cam phận sơn lâm ký thử thân,
Hữu thời diệc đạp mã đề trần.
Bất tằng phạm trước nhân miêu giá,
Lai vãng không lao bối thượng nhân.

甘 分 山 林 寄 此 身
有 時 亦 踏 馬 蹄 塵
不 曾 犯 著 人 苗 稼
来 往 空 労 背 上 人

(Thân tuy cam chịu sống trên rừng,
Có lúc đưa chân nhuốm bụi hồng.
Nhưng nào dẫm phá vườn ai nhỉ,
Đi lại đâu mệt người trên lưng).

Lại họa của Hoại Nạp Liên Hòa Thượng:

Mục lai thuần thục tự thông thân,
Tuy tại trần trung bất nhiễm trần
Lộng lai khước đắc sa đà lực,
Lâm hạ tương phùng tiếu sát nhân.

牧 来 純 熟 自 通 身
雖 在 塵 中 不 染 塵
弄 来 却 得 蹉 跎 力
林 下 相 遭 笑 殺 人

(Nếu được chăn thuần sẽ vẹn mười,
Chẳng bụi đời vương giữa chợ đời .
Cũng nhờ quần mãi đến phờ phạc,
Giờ gặp bên rừng mới cả cười)

Phụ chú:

Ky tỏa vô câu…: Không có giây thừng hay xích ràng buộc mà trâu vẫn bước đi theo người.

Cam phận sơn lâm: Sơn lâm là chỗ đáng lẽ phải ở. Phận tức vị trí. Sơn lâm ở đây ý nói chuồng trâu, nhà của trâu (thê gia, gia hương)

Mã đề trần: Nơi xe ngựa qua lại tung bụi, tức là xóm ngõ, thành thị, đối lập với sơn lâm.

Bất tằng phạm trước…: Lời trong Di Giáo Kinh ý nói: Nếu tì khưu các ngươi tự mình biết giữ giới thì đương nhiên chế ngự được ngũ căn.Không nên buông thả mà rơi vào ngũ dục. Giống như người chăn tay cầm gậy không để cho trâu sổng đi phá hoại mùa màng. Lại nữa, trong Tổ Đường Tập quyển 17 có ghi lại lời Tây Viện Đại An lúc thượng đường thuyết pháp. Ý nói điều này cũng giống như khi chăn một con trâu, nếu nó đang ở trên đường mà chạy vào đồng cỏ thì phải nắm giây dắt nó ra, nếu nó xâm phạm hoa màu nhà người ta thì cho nó ăn roi vv…

Thuần thục: Thơ Tô Đông Pha trong bài “Thứ vận định huệ khâm kiến ký” có câu: Chân nguyên vị thuần thục. Tập khí lậu liệt dư. 

Thông thân: Chuyện thấy trong tắc 89 của Bích Nham Lục. Nói về cử động của cánh tay của Đại Bi Bồ Tát, Vân Nham có câu: Biến thân thị thủ nhãn (Khắp người có đầy tay và mắt). Đạo Ngô cho là chưa đủ, mới sửa lại thành Thông thân thị thủ nhãn (Toàn thể người là tay và mắt).

Bất nhiễm trần: Lời thị chúng trong Lâm Tế Lục: “Nhược đắc chân chính kiến giải, bất nhiễm sinh tử”. Có khi nhấn mạnh bằng cách nói: bất nhiễm nhất trần (không mảy may dính bụi).

Lộng lai: Chữ thấy ở Truyền Đăng Lục quyển 10 chương nói về Ngạc Châu Tu Du. Từ câu nói của Triệu Châu: Tam thập niên lộng mã kỹ. Kim nhật khước lộng lư lai (Người đã rành cưỡi ngựa 30 năm trời. Hôm nay lại trên lưng lừa mà đến) Lộng có nghĩa là leo lên cưỡi một cách thoải mái.

Đắc sa đà lực: Đắc lực là “nhờ ở”, “” có được sự giúp đỡ”. Sa đà ở đây có nghĩa “không toại chí”, “thất ý”. Đồng An trong Thập Huyền Đàm, Ngũ Vị Tiền (theo Truyền Đăng Lục, quyển 27) có câu: Khô mộc nham tiền sa lộ đa. Hành nhân đáo thử tận sa đà vv…(Ghềnh đá cây khô toàn ngã ba. Người đi đến đấy thảy bơ phờ)

Lâm hạ tương phùng: Xem lời chú về thơ Linh Triệt trong câu thứ 4 bài họa của Hoại Nạp ở chương 1 Tầm Ngưu.

Tiếu sát: Cười lớn. Cười tha thứ. Sát là phó từ để nhấn mạnh (như “bất kiến sa trường sầu sát nhân” chẳng hạn). Tiếu sát nhân: người cười lớn, bỏ qua. Chữ dùng từng thấy trong thơ cổ thể hay thơ Lý Bạch.

Lời bàn của Yanagida Seizan:

Mục ngưu có nghĩa là chăn trâu. “Mục” ý nói thả cho ăn, nuôi dạy. Chương Mục Ngưu này là một đoạn liên hệ mật thiết với chủ đề hơn cả. Có thể nói hơn phân nửa tác phẩm lấy trâu làm chủ đề thường đặt trọng tâm vào việc chăn (mục ngưu). Ngay toàn thể Thập Ngưu Đồ cũng có thể tóm tắt trong một chương này thôi. Chín chương kia, ở một mức độ nào đó, cũng chỉ bàn chuyện chăn trâu. Bậc đại thành của Tống Học là Chu Hy nhân đó đã bảo tư tưởng “bảo nhất保壱” (giữ trạng thái tự nhiên, giữ mối đạo duy nhất) của Lão Giáo giống như “chuyện chăn trâu của họ Thích” (Thích thị mục ngưu釈氏牧牛). Nó cũng không khác chủ trương đi tìm trạng thái “phóng tâm放心” nơi Mạnh tử. Điều này cho thấy ta có thể dùng chữ “chăn trâu” để trình bày một khái niệm tổng quát liên hệ một lượt cả ba tôn giáo.

Tuy vậy, điều thú vị là trong khi các Mục Ngưu Đồ khác lấy chuyện chăn trâu làm trọng tâm thì Khuếch Am lại phê phán cách suy nghĩ đó. Ví dụ trường hợp của người đầu tiên dùng chuyện chăn trâu để ví von là Nam Tuyền thì ông xem việc chăn trâu là bắt nó phải nằm mọp (điệu phục) và không cho dẫm lúa nhà ai (bất phạm quan gia miêu giá).Trong tác phẩm nổi tiếng của Phổ Minh bắt đầu bằng đoạn 1 Vị mục (Chưa chăn), đến đoạn 2 Sơ điệu (Dạy lần đầu), đoạn 3 Thụ chế (Chịu sự chế ngự), đoạn 4 Hồi thủ (Quay đầu), đoạn 5 Tuần phục (Nghe lời) …trước sau chỉ nói toàn việc chăn trâu. Phần sau gồm đoạn 6 Vô ngại ( Hết ngờ vực), đoạn 7 Nhiệm vận (Cho cưỡi), đoạn 8 Tương vong (Đều quên), đoạn 9 Độc chiếu (Soi một mình), đoạn 10 Song mẫn (Cả hai biến mất) chỉ kéo dài việc chăn trâu chứ không có chi khác.

Tuy vẫn vay mượn ý tưởng “chăn trâu” nhưng đặc điểm của Thập Ngưu Đồ của Khuếch Am là sử dụng tất cả trong trong mỗi một chương thứ 5 Mục Ngưu này thôi và xem nó như một cái mốc cho chương 6 trở về sau. Trong tác phẩm của Khuếch Am còn có cả chuyện đi bắt con trâu sổng chuồng về nghĩa là thêm một ý tưởng khác nữa. Vấn đề chăn trâu chỉ được khai triển một cách tổng quát ở chương 5 này. 

Trên thực tế, tiếp theo chương 4 Đắc Ngưu, cái hay của chương 5 Mục Ngưu là việc thả trâu ăn (phóng tư). Chuyện rối rắm (cát đằng) của chương 4 đã được giải quyết hết trên phân nửa.Giờ đây người chẳng cần nắm giây kéo mũi trâu mà trâu cũng chẳng bắt người đi theo dấu mình nữa. Vì là trâu được thả cho ăn nên dù có giây xỏ mũi, người và trâu ai nấy đều có thể hành động theo ý mình. Việc có giây đấy mà như không có giây đấy mới chính là chủ đề của chương 5 Mục Ngưu. Nó ăn khớp với câu 4 trong bài tụng: Ky tỏa vô câu tự trục nhân (Khóa giây không buộc cũng theo người). Lão tử gọi cảnh đó là “thiên võng khôi khôi” (lưới trời sưa sưa). Tuy bảo là lúc này văn minh và hoang dã đã hòa điệu, tuy gọi là đã có sự tự do tuyệt đối, nhưng đấy là tự do đi trên con đường nằm dưới chân chứ không phải tự do lệch ra khỏi con đường. Thả cho ăn là như thế, nó hàm nghĩa là nuôi và dạy (dưỡng dục). Rối rắm hay tranh chấp (cát đằng can qua) cũng có ở bên trong. 

Tây Viện Đồng An có nói đại ý: “Con vật đáng thương kia giờ đã hiểu dược tiếng người. Trâu bây giờ đã biến thành con trâu trắng trên đường (lộ địa bạch ngưu) suốt ngày hiện ra trước mắt ta, lảng vảng loanh quanh và có thả ra vẫn không trốn”. Câu “Mục lai thuần thục tự thông thân” (Nếu được chăn thuần sẽ vẹn mười) trong bài tụng của Hoại Nạp cũng nói lên cảnh tượng đó. Thuần thục là chữ xưa dùng trong nghề tơ lụa. Nó giúp ta hình dung con trâu đen đã đổi qua màu trắng. Ở đây, so với những chủ đề về Mục Ngưu có từ trước, ta thấy Khuếch Am đã trình bày được vấn đề một cách bao quát hơn.

Đệ Lục: 
Kỵ Ngưu Qui Gia (Cưỡi Trâu Về Nhà)Tựa của Từ Viễn:

Can qua dĩ bãi, đắc thất hoàn không. Xướng tiều tử chi thôn ca, xuy nhi đồng chi dã khúc. Thân hoành ngưu thượng, mục thị vân tiêu.Hô hoán bất hồi, lao lung bất trú.

Diễn ý:

Cuộc tranh phong đã chấm dứt, không còn chuyện bắt được hoặc thả đi mất. Hát câu hát của lão tiều trên đường về thôn, thổi khúc sáo bài đồng dao của bọn trẻ. Ngồi thoải mái trên mình trâu, mắt ngắm tầng không. Dẫu ai gọi người và trâu cũng không quay lại, có cầm giữ, họ cũng không dừng bước.

Phụ chú:

Kỵ ngưu quy gia: Trâu và người hợp thành một cùng nhau về căn nhà xưa nay (cái ta bản lai). Quy gia tức “quy gia ổn tọa” (về nhà ngồi thoải mái). Còn được biểu hiện bằng những cách nói khác như vạn pháp quy nhất, qui căn đắc chỉ, quy nguyên, qui chân…Trâu chở người trên lưng, cùng về nhà.Truyền Đăng Lục, chương 9 nói về Phúc Châu Đại An có dẫn lời của Bách Trượng trả lời học trò, đại ý nói việc dạy người học Phật giống như chăn trâu, cưỡi trâu và cầm roi chỉ đường về nhà, không cho nó dẫm phá mùa màng. 

Can qua dĩ bãi: Chiến tranh đã xong, vũ khí trở thành vô dụng. Can qua ở đây chỉ những sự rắc rối giữa người với con trâu.

Xướng tiều tử chi thôn ca…: Cảnh tượng hòa bình lý tưởng của bậc thánh thiên tử như Nghiêu, Thuấn, lúc không còn mối lo âu chính trị, văn hóa gì nữa. Khi ấy, người già thì vỗ bụng dậm chân ca hát (cổ phúc kích nhưỡng)[13] , trẻ con trong thôn thổi khúc đồng dao, ca tụng thời thái bình. Cách diễn tả này dự báo cho chương 10 Nhập triền thùy thủ.

Mục thị vân tiêu: Trong Truyền Đăng Lục quyển 27 có chuyện một vị lão tôn túc hỏi Thiền sư Tư Đại cớ sao không xuống núi giáo hóa chúng sinh, chẳng lẽ mãi để mắt nhìn vân hán (trời cao). Tư Đại mới trả lời là tam thế chư Phật đã cùng nhau giảng cặn kẽ về cái Ngã rồi nên ta còn có thể nói thêm lời gì để giáo hóa chúng sinh nữa. 

Hô hoán bất hồi…: Chủ ngữ là người chăn và trâu. Có một câu tương tự như câu này trong Bích Nham Lục, lời bình tắc 62 (Bãi lung bất khẳng trú. Hô hoán bất hồi đầu).

Tụng của Khuếch Am Tắc Hòa Thượng:

Kỵ ngưu dĩ lệ dục hoàn gia,
Khương địch thanh thanh tống vãn hà.
Nhất phách nhất xuy vô hạn ý,
Tri âm hà tất cổ thần nha.

騎 牛 迤 邐 欲 還 家
羌 笛 聲 聲 送 晩 霞
壱 拍 壱 吹 無 限 意
知 音 何 必 鼓 唇 牙

(Lưng trâu khúc khuỷu lối về nhà,
Địch rợ âm vang tiễn nắng tà.
Một khúc chứa chan vô hạn ý,
Tri âm ắt hiểu, chớ bàn xa).

Họa của Thạch Cổ Di Hòa Thượng:

Chỉ điểm tiền pha tức thị gia,
Toàn xuy đồng giác xuất yên hà.
Hốt nhiên biến tác hoàn hương điệu,
Vị tất tri âm khẳng Bá Nha.

指 点 前 坡 即 是 家
旋 吹 桐 角 出 煙 霞
忽 然 変 作 還 郷 調
未 必 知 音 肯 伯 牙

(Trỏ trước gò kia nhà của ta,
Hiện sau làn địch giữa chiều tà.
Bỗng dưng đổi khúc “Về Quê Cũ”, 
Đàn kiếm tri âm lọ Bá Nha)

Lại họa của Hoại Nạp Liên Hòa Thượng:

Đảo kỵ đắc đắc tự qui gia,
Nhược lạp thoa y đới vãn hà.
Bộ bộ thanh phong hành xứ ổn,
Bất tương thốn thảo quải thần nha. 

倒 騎 得 得 自 帰 家
篛 笠 簑 衣 帯 晩 霞
歩 歩 清 風 行 処 穏
不 将 寸 草 挂 唇 牙

(Ngồi ngược mình trâu trở lại nhà,
Áo tơi nón lá ánh dương tà.
Yên ổn dặm về trong gió mát,
Răng không mắc cỏ, bước khoan hòa).

Phụ chú:

Dĩ lệ: Khúc khuỷu quanh co.

Khương địch: Địch của người Khương, dân tộc du mục phía Tây Trung Quốc. Trong Văn Tuyển quyển 18 có bài Trường Địch Phú của Mã Dung cho rằng người Khương đầu tiên chế ra địch.

Vãn hà: mây ánh nắng chiều, ráng đỏ.

Nhất phách nhất xuy: Phách là một khúc ngắn (tiểu tiết). Có bản chép Nhất phách nhất ca vô hạn ý. Vô hạn ý: không đủ lời để diễn tả. Bích Nham Lục tắc 20 có câu: Viễn sơn vô hạn bích tằng tằng (Núi xa trùng trùng xanh biếc đến vô tận).

Tri âm hà tất: Sách Liệt tử, thiên Thang vấn có chuyện Bá Nha và Chung Tử Kỳ là hai người tri âm đời Xuân Thu. Cổ thần nha: mở miệng khen ngợi. 

Chỉ điểm tiền pha: Chỉ cho thấy cái gò ở trước mặt.

Toàn xuy đồng giác: Toàn; chẳng bao lâu, tức khắc. Đồng giác (thích đòng giác) có thể là vật để thổi làm bằng gỗ ngô đồng. Một chữ khó hiểu nhưng chắc không phải là một loại đàn.

Hoàn hương điệu: Thập Huyền Đàm của Đồng An (chép trong Truyền Đăng Lục, quyển 29) có nhắc đến Hoàn hương điệu. Ngụ ý trở về bản tâm là chốn quê nhà. Cũng thấy trong Đầu Tử (Nghĩa Thanh) Ngữ Lục và Truyền Đăng Lục quyển 10 chương nói về Trường Sa (Cảnh Sầm).

Vị tất tri âm: Hoàn hương khúc là khúc hát của người nhà quê nhà mùa. Khúc Cao Sơn Lưu Thủy của danh sĩ Bá Nha tấu và tri âm Chung Tử Kỳ thưởng thức được nhắc đến trong thiên Thang Vấn sách Liệt Tử là khúc đàn có phong vị cao xa, khác ở đây.

Đảo kỵ: Vân Môn Lục tắc thứ nhất có câu Đảo kỵ ngưu nhập Phật điện (Cưỡi ngược trâu vào điện Phật). Ý nói để mặc trâu đi về nhà theo ý nó.

Đắc đắc: Chữ trong Bích Nham Lục tắc thứ nhất: Đạt Ma quán dao thử thổ hữu đại thừa căn khí, toại phiếm hải đắc đắc lai. (Đạt Ma biết ở vùng đất xa xôi này có căn khí của đại thừa nên vui mừng vượt biển tìm đến.) Tả dáng bằng lòng.

Quy gia: Lão tử có câu “Quy căn đắc chỉ”, Lục tổ lại nói: “Lạc diệp quy căn” (Lá rụng về cội). Động Sơn trong Ngũ Vị Tụng có câu: “Chiết hợp hoàn quy thán lý tọa”. Tất cả đều có nghĩa “trở về với bản chất của mình”.

Nhược lạp thoa y: Áo tơi nón lá của ngư ông và lão tiều. Nhược là vỏ cây tre. Thoa là áo đi mưa bằng lá. Chỉ chung phục sức của người ở ẩn.

Vãn hà: Ráng chiều. Khuếch Am và Thạch Cổ đều dùng nó để chỉ cảnh chiều.

Bộ bộ thanh phong: Bài tụng trong Bích Nham Lục quyển 11 có câu: “Vạn lý thanh phong chỉ tự tri”, ý nói toàn thân người và trâu đã hóa thành gió.

Hành xứ: “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. Như vây hành xứ nghĩa là cái tâm và những máy động của nó.

Thốn thảo: Nguyên là tấc cỏ, chỉ thức ăn của trâu. Tuy nhiên trong Truyền Đăng Lục, khi Thạch Sương (Sở Viên) thị chúng ngày giải hạ an cư, có nói: “Phải đi về nơi xa xăm vạn lý nơi không có một tấc cỏ nào” (Vạn lý vô thốn thảo xứ khứ), như vậy đối với người tu thiền, tấc cỏ có nghĩa là ngôn ngữ. “Bất tương thốn thảo” chỉ cảnh con trâu cuối mùa hè. 

Thần nha: Môi và răng, bóng gió nói về kinh điển nhà Phật.
Lời bàn của Yanagida Seizan:

Kể từ chương này, đề tài từ 2 chữ chuyển thành 4 chữ. Trong Kỵ ngưu quy gia có thể suy ra 2 chủ đề: kỵ ngưu và quy gia. Kỵ ngưu là phần chương 5 kéo dài trong khi qui gia là đề tài mới. trâu làm đề tài thì nói về cưỡi trâu là chuyện dĩ nhiên, thế nhưng cưỡi để đi đâu? Đoạn 1 Tầm Ngưu đã ngầm chứa câu hỏi này, ở đây nói mới trồi ra.

Con trâu là cái bản ngã xưa nay. Tìm cho ra con trâu, nuôi dạy nó thật ra chỉ là công cốc. “Can qua dĩ bãi, đắc thất hoàn không”, câu nói của Từ Viễn, muốn ám chỉ điều đó. Tuy nhiên nhờ có cuộc can qua vô ích mà con người tìm ra được bộ mặt thật của trâu, cũng là bản ngã xưa nay của mình. Lời của Bách Trượng trả lời Phúc Châu Đại An xem việc học Phật cũng như chăn trâu trong phần chú thích từ ngữ cũng cho ta thấy điều ấy.

Nếu đặt câu hỏi Phật là gì thì có khác chi người vừa cưỡi trâu vừa đi kiếm trâu. Phật bảo Phật là gì thì có thể nói Phật là cái tương xứng với việc cưỡi trâu về nhà. Người ta trâu bản lai chỉ là một. Nói về hình dáng thì đó là một người ngồi trên lưng trâu nhưng cũng có thể là một con trâu chỡ người trên lưng, tự nhiên cùng nhau về. Con người chỉ cần ngồi trên lưng trâu là đủ. Kiểu ngồi ngược (đão kỵ) như trong bài tụng của Hoại Nạp biểu hiện được tư thế đó hơn cả. Trâu không đợi người chỉ bảo, cứ thế mà đi về nhà. 

Chủ đề “quy gia” đã được nhắc đến trong sách Lão Tử chương 16 qua chữ “quy căn”. Đào Uyên Minh cũng đặt tựa đề cho tác phẩm của mình là Quy khứ lai từ (Bài từ Về đi thôi). Do đó “quy gia” có cái gì đặc biệt của con người Trung Quốc. Trong các chương trước đã đề cập đến đứa “cùng nhi” của Pháp Hoa Kinh. Khi câu chuyện này truyền sang Trung Quốc, người ta thấy khi đứa bé trở về nhà cha, nó lại được cha quan tâm một cách đặc biệt.[14]  “Phục quy” như thấy trong chương 16 sách Lão Tử hay “quy căn” đều ngụ ý về trạng thái tĩnh, cân bằng mà thiền gia gọi là “quy gia ổn tọa”. 

Quy khứ lai từ liên quan đến câu chuyện ông huyện lệnh (Đào Tiềm) treo ấn từ quan. Giống như khi chiều tối chim bay về rừng thì con người về già cũng thường quay lại quê hương. Khi nói “quy căn”,rõ ràng là Lão Tử đã dựa trên tiền đề như thế. Có điều phải phân biệt chữ “hoàn nguyên” trong chương 9 Phản bản hoàn nguyên với “quy gia” ở đây.Cũng vậy, “hoàn” khác nghĩa với “quy”. “Hoàn” là trở về chỗ cũ, nơi mình bước ra đi. Còn “quy” là yên lành ở lại một chỗ bắt buộc phải ở. Trâu hoàn hương trong khi người quy gia. Nói đúng ra người không muốn ra đi, chỉ muốn yên tâm đứng nột chỗ nào đó. Trong một nước mà chế độ gia tộc là một tiền đề như Trung Quốc, khó mà làm quen được tư tưởng xuất gia kiểu Ấn Độ. Quan điểm về giải thoát cũng vậy. Tịnh Độ Tông xem việc di về nước Phật (vãng sanh) như đi về nhà (bản lai gia hương). Đó là đặc điểm của Phật giáo Trung Quốc. Dù gọi là qui mệnh hay quy y (nguyên viết chữ ỷ = dựa vào) đều chỉ có nghĩa phải căn cứ vào cái ta bản lai chứ không hề có ý khuyên đi tìm cái gì siêu việt hơn ta. 

Như đã nói, cái việc tìm trâu (Đệ nhất: Tầm Ngưu) là việc xảy ra ở trên đường. Mục đích của nó là làm sao đưa trâu về nhà. Việc tìm trâu và chăn trâu chỉ kết thúc khi về đến nhà. Tuy nhiên, nếu về tới nơi rồi mà trâu lại bỏ nhà lên đường thì phải làm một cuộc hành trình mới để đi tìm. Đó là ý nghĩa của những chương từ chương thứ 7 Đáo gia vong ngưu trở về sau. 

Ngoài ra một điểm đặc sắc của chương 6 Kỵ ngưu qui gia này là câu “tiều tử chi thôn ca, xuy đồng chi dã khúc”, nói cách khác đó là “hoàn hương khúc” (khúc ca hồi hương). Nó không cao siêu như tiếng đàn của Bá Nha để mà cần phải có một khách tri âm như Chung Tử Kỳ mới hiểu nổi. Khúc ca này chỉ nói chuyện con trâu đi lạc nay trở về chuồng. Khúc đó tự nhiên trổi lên khi trâu về đến nhà. “Tiều tử chi thôn ca, xuy đồng chi dã khúc” báo hiệu cho chương 10 Nhập triền thùy thủ. Như đã nhắc đến trong phần chú thích từ ngữ, “hoàn hương khúc” là chữ đã thấy trong Thập Huyền Đàm của Đồng An. Trường hợp Đồng An là bài hát mừng Phật Đà trở lại nước cũ. Có thể xem nó không khác chi bài ca của lão tiều và đám trẻ con. Riêng về cách hiểu “hương” như “hương đảng” thì đã thấy trong Luận Ngữ rồi. Cho nên “hoàn hương khúc” vốn xuất phát từ lối nghĩ độc đáo của Phật giáo Trung Quốc vậy.

Đệ Thất: 
Đáo Gia Vong Ngưu (Về Nhà Quên Trâu)Tựa của Từ Viễn:

Pháp vô nhị pháp, ngưu thả vi tông. Dụ đề thố chi dị danh, hiển thuyên ngư chi sai biệt. Như kim xuất khoáng, tự nguyệt ly vân. Nhất đạo hàn quang, Uy Âm kiếp ngoại.

Diễn ý:

Chân lý làm gì có hai, đem chuyện trâu ra nói chỉ là sử dụng như chủ đề. Giống như giữa cái bẩy thỏ (đề) và con thỏ (thố), chúng chỉ khác nhau ở cái tên, giữa cái nơm đơm cá (thuyên) và con cá (ngư) cũng vậy. Tỉ như vàng tách từ quặng vàng, con trăng chui khỏi đám mây. Một ánh trăng trong vốn đã có trước khi Vũ Âm Vương Phật ra đời. 

Phụ chú:

Đáo gia vong ngưu: Nghĩa là khi đến nhà rồi, trâu trở thành vô dụng. Trong bản lót chỉ thấy lấy 2 chữ đầu là “Đáo gia” làm đề tài. Theo sách Thập Ngưu Quyết cho biết, hai chữ “vong ngưu” về sau được thêm vào cho nên đề mục mới có 4 chữ. Do đó, từ chương này trở đi, nếu mỗi đề tài có 4 chữ cũng là chuyện dễ hiểu. Các bản lưu hành đến quá nửa đều có tựa là Vong ngưu tồn nhân (Quên trâu còn người). Như thế nó dự báo được cái đề của chương 8 Nhân ngưu câu vong (Quên trâu lẫn người) hay Nhân ngưu bất kiến (Không thấy trâu, người). Đề tựa như thế có thể gọi là rõ ràng hơn.

Pháp vô nhị pháp…:Ý nói trâu chỉ là một mục tiêu giả tạo. “Thả” có nghĩa là “tạm thời, trong phút chốc”. “Tông” ví với “chủ đề”.

Dụ đề thố chi dị danh: Cái bẩy thỏ (đề) dùng để bẩy nên chi khi bắt được thỏ (thố) rồi, bẩy thành ra vô dụng. Bẩy thỏ không phải là con thỏ, ý nói tên gọi khác nhau. 

Hiển thuyên ngư chi sai dị: Thuyên hay thuyên đề là cái nơm đơm cá. Cái nơm dùng để đơm cá. Được cá rồi, nơm thành ra vô dụng. Câu này và câu trước đặt cạnh nhau vốn dựa theo ý trong sách Trang Tử, thiên Ngoại Vật: “Thuyên tại ngư sở dĩ, đắc ngư vong thuyên. Đề tại thố sở dĩ, đắc thố vong đề”.

Như kim xuất khoáng: Kim (vàng) là vật vốn có xưa nay. Trong quặng (khoáng) đã chứa vàng nên quặng là một hiện thực giả tạo. Trải qua biết bao thời gian, bản tính của vàng vẫn không thay đổi. Điều này được nhắc đến trong kinh Viên Giác, chương nói về Kim Cương Tạng Bồ Tát. Riêng Kinh Niết Bàn lại có câu: “Vàng có thể ví với Phật tính. Khoáng có thể ví với phiền não”. Còn sách Thần Hội Lục thì cho rằng khi người luyện kim bỏ quặng vào lửa nung nấu lên thì vàng và quặng sẽ phân ly tức thời. Vàng được nung càng tinh chất ra trong khi quặng biến thành than. Trong Chư Đại Thừa Kinh Luận cũng giảng nghĩa phiền não là “khách trần” hay bụi bặm bám bên ngoài.

Tự nguyệt ly vân: Truyền Đăng Lục quyển 6 chương nói về Bách Trượng (Hoài Hải) có câu “Tâm địa nhược không, huệ nhật tự hiện. Tương tự như vân khai nhật xuất” (Nêu lòng mình trống không, trí huệ tự nó sẽ hiện ra giống như khi mây tan thì mặt trời ló dạng). 

Nhất đạo hàn quang: Hàn quang nói về ánh trăng hay ánh sáng của hoàng kim. 

Uy Âm: Tên một vị cổ Phật có tự buổi đầu của lịch sử, thấy trong phẩm Thường Bất Khinh của kinh Pháp Hoa. Đọc là Uy Âm Vương Phật thì mới đúng. Đó là một vị Phật uy nghiêm, giọng nói như sấm rền đáng khiếp sợ nhưng thường hay giúp đỡ chúng sinh. “Uy Âm kiếp ngoại” ý nói đã lâu lắm, lúc thiên địa sáng tạo, trước cả khi đến kiếp Phật Uy Âm.
Tụng của Khuếch Am Tắc Hòa Thượng:

Kỵ ngưu dĩ đắc đáo gia sơn,
Ngưu dã không hề nhân dã nhàn.
Hồng nhật tam can do tác mộng,
Tiên thằng không đốn thảo đường gian.

騎 牛 以 得 到 家 山
牛 也 空 兮 人 也 閑
紅 日 三 竿 猶 作 夢
鞭 繩 空 頓 草 堂 間

(Cưỡi trâu về đã đến gia trang,
Trâu không thấy bóng, người rảnh rang.
Trời mọc ba sào, còn ngủ nướng,
Roi giây, vứt mặc giữa nhà ngang). 

Họa của Thạch Cổ Di Hòa Thượng:

Lan nội vô ngưu sấn xuất sơn,
Yên thoa vũ lạp diệc không nhàn.
Hành ca hành lạc vô câu hệ,
Doanh đắc nhất thân thiên địa gian.

欄 内 無 牛 趁 出 山
煙 蓑 雨 笠 亦 空 閑
行 歌 行 楽 無 拘 繋
嬴 得 壱 身 天 地 間

(Từ núi về chuồng, trâu đâu rồi,
Thôi cần chi nữa nón cùng tơi.
Hát hò vui cảnh không câu thúc,
Độc cái thân côi giữa đất trời)

Lại họa của Hoại Nạp Liên Hòa Thượng:

Quy lai hà xứ bất gia san,
Vật ngã tương vong trấn nhật nhàn.
Tu tín thông huyền phong đính thượng,
Cá trung hồn bất loại nhân gian.

帰 来 何 処 不 家 山
物 我 相 忘 鎮 日 閑
須 信 通 玄 峰 頂 上
箇 中 渾 不 類 人 間

(Về nhà, đâu cũng núi mình thôi. 
Quên hết trâu, ta, khỏe một đời.
Xin biết cho rằng trên đỉnh ấy,
Thông sang một cõi khác loài người).

Phụ chú:

Ngưu dã không hề: Trâu đã xong việc rồi, bỏ đi chơi đâu đó. Người cũng khỏi phải chăn nó nữa. 

Hồng nhật tam can: Mặt trời đã mọc cao hơn ba lần cây tre, ý nói đã trưa (8 giờ sáng) rồi mà vẫn còn ngủ chưa dậy. Thơ Tô Đông Pha trong bài Đề Đàm Châu Từ Thị Xuân Huy Đình có câu:

Đồng đồng hiểu nhật tam can thượng,
Khách hướng đông phong cạnh ỷ lan

曈 曈 曉 日 三 竿 上
客 向 東 風 競 倚 欄

(Mặt trời đã rạng ba sào trúc,
Chen tựa lan can hóng gió xuân).

Hình như “hồng nhật tam can”xuất phát từ Nam Tề Thư, Thiên Văn Chí phần thượng truyện năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Gia.

Tiên thằng không đốn: “Đốn” có nghĩa để đó. Không đốn: bỏ mặc, chẳng ngó ngàng. 

Lan nội vô ngưu: Trong chuồng, không thấy con trâu dẫn từ núi về đâu cả nhưng vẫn không lo là nó sẽ trốn lần thứ hai.

Yên thoa vũ lạp: Áo tơi nón lá mặc lúc đi chăn cũng không cần nữa. Trong lời tựa tổng quát, Từ Viễn phê bình Mục Ngưu Đồ của Thiền sư Thanh Cư có câu: “thướng tồn toa lạp” (còn phải mang tơi đội nón) để đi học hỏi tức là chưa đạt đạo, có lẽ đã dựa vào câu thơ này.

Doanh đắc nhất thân…: Doanh đắc, tiếng dùng trong thi ca, có nghĩa “được lợi”, “được tiếng”, ý nói “kết quả là” như trong thơ Đỗ Mục “Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh”(Được mỗi lầu xanh tiếng phụ phàng). Ở đây ý nói được cái thân an nhiên tự tại trong khoảng trời đất. Thơ Thiền Sư Tuyết Đậu Trùng Hiển: 

Xuân sơn loạn thanh điệp,
Xuân thủy dạng hư bích.
Liêu liêu thiên địa gian,
Độc lập vọng hà cực 

春 山 乱 青 畳
春 水 様 虚 碧
寥 寥 天 地 間
独 立 望 何 極

(Núi xanh mấy chập chùng.
Sông xuân tràn ghềnh đá.
Bát ngát giữa đất trời.
Một mình dõi đâu tá!) 

Quy lai: Chữ dùng trong Sở Từ thiên Chiêu Hồn, câu : Qui lai hà dĩ cửu (Mãi lâu sao chẳng về ?). Đào Uyên Minh cũng có bài ca “Quy khứ lai từ” bày tỏ tâm tình nhớ cố hương. Nghĩa bóng nói đến sự trở về (phục quy) với con người xưa nay (bản lai) của mình. Đó là mục đích của sự tu học trong Phật giáo. 

Hà xứ bất gia san: Đã thấy trong chương 1 Tầm Ngưu. Gia san (sơn) là thanh sơn (núi xanh), điểm hẹn mà đời người phải tới.

Vật ngã tương vong: Quên cả quan hệ đối lập giữa chủ thể và khách thể lẫn nỗ lực dung hòa hai bên. Ý nói tâm cảnh “thiên địa đồng căn, vạn vật nhất thể”. Nhị Nhập Tứ Hạnh Luận tương truyền của Đạt Ma đoạn 30 có chép: “Trí giả nhiệm vật bất nhiệm kỷ. Tức vô thủ xả, diệc vô vi thuận. Ngu giả nhiệm kỷ bất nhiệm vật. Tức hữu thủ xả, tức hữu vi thuận. Nhược năng hư tâm khoan phóng, đại vong thiên hạ giả tức thị nhiệm vật, tùy thì vv…” có ý ca tụng thái độ “tâm hôn trống không, không chấp vào mình và quên hết chuyện trong thiên hạ”. 

Trấn nhật: Suốt ngày, sáng chiều. Hồng lâu Mộng chương 34 có câu: “Trấn nhật vô tâm, trấn nhật nhàn”, như thế, nếu không bận bịu trong lòng thì suốt đời thanh nhàn.

Tu tín: Tu là hãy, tín có nghĩa là xác thực hay hãy xem như là xác thực.

Thông huyền phong đính thượng: Truyền Đăng Lục quyển 25, chương nói về Thiên Thai Đức Thiều, có lời thị chúng như sau: “Thông huyền phong đính, bất thị nhân gian.Tâm ngoại vô pháp. Mãn mục thanh sơn”. Thông huyền là một từ của Đạo giáo, có nơi xem như danh từ riêng. Ý nói hãy tin rằng trên đỉnh núi cao kia (phong đính) có một lối thông lên trời, chỗ huyền vi (thông huyền).

Cá trung: Đã thấy trong câu 4 bài tụng của Hoại Nạp ở chương 2 Kiến tích. Ý nói phần ở bên trong. 
Lời bàn của Yanagida Seizan:

Đặt chân vào nhà, trâu thành vô dụng. Chính vì để đưa người về nhà mà trâu đã xuất hiện ở giữa đường. Trâu tức là giáo pháp (lời dạy dỗ của Phật về lẽ đạo). Thập Ngưu Đồ đã dùng trâu kia như một ví dụ để trình bày giáo pháp. Cho nên khi về nhà rồi, có xóa hình ảnh con trâu đi cũng là chuyện đương nhiên. Mục đích của Thập Ngưu Đồ có thể trình bày như sau: 

Kinh Kim Cương có lời ví dụ nổi tiếng về cái bè (phiệt筏)[15] . “Như Lai vẫn thường giảng cho người tu hành rằng các ngươi hãy xem những lời thuyết pháp của ta như một cái bè. Ngay cả giáo pháp còn phải vứt đi huống hồ những gì không đáng là giáo pháp”. Qua sông, bè là vật cần thiết nhưng khi đã đến bờ bên kia, không ai cần đến bè nữa. Trong bài kệ thứ 21 của Suttanipâta có từ xưa, đã thấy câu nói của Như Lai đại ý: “Bè của ta đã kết xong và được kết thật tốt. Nó chống chõi được dòng nước ngược, đưa ta đến bên kia bờ rồi. Giờ đây bè trở thành vô dụng”.

Đưa ngón tay chỉ mặt trăng phải quên ngón tay, đạt dược ý phải quên lời. Chúng ta biết vô số ví dụ giống như vậy. Cái thú vị nơi đạo Phật là chính bằng những ví dụ này, Đức Phật đã tự mình khuyên chúng ta phải quên đi những lời thuyết pháp của ngài. 

Tương truyền từ khi Đức Phật ngõ lời lần đầu tiên ở (vườn) Lộc Dã Uyển cho năm tì khưu cho đến lúc nhập Niết Bàn ở bờ sông Bạt Đề, trong khoảng thời gian dài này, ngài không có nói lấy một chữ. Điều đó ám chỉ lời ngài thuyết pháp trong 49 năm chỉ là phương tiện “tùy bệnh bốc thuốc” (ứng bệnh dữ dược).Nếu bệnh đã lành, thuốc không cần nữa.Con người bình thường hàng ngày vốn mạnh khỏe, không đau ốm. Bệnh là chuyện của lúc không bình thường. Mạnh khỏe nhưng không biết mình đang mạnh khỏe mới đúng là mạnh khỏe. Tự giác được mình mạnh khỏe là vì có lúc bệnh. Phật giáo xuất phát từ cái bình thường của người không biết cả mình đang mạnh khỏe ấy. Nó là phương thuốc giúp cho người đang ở trong trạng thái không bình thường tìm lại sự bình thường vốn có xưa nay. Nếu trở về được với bản lai như thế rồi thì đâu cần đến thuốc nữa. Đó là quan điểm của Phật giáo đại thừa. Việc “nhất đại thì giáo” (sự thuyết giáo theo từng giai đoạn trong cuộc đời của đức Phật) đem được con người trở về với sự chân thực sẽ thấy trong chương 9 Phản bản hòan nguyên (Trở về cội nguồn).. 

Ngày nay, có kẻ nhìn mặt trăng quên ngón tay và cũng có kẻ chỉ thấy ngón tay mà quên mặt trăng. Họ chỉ biết có cái ta đang tắm trong ánh sáng của mặt trăng. Sự tự giác về bản ngã xưa nay kiểu đó thật đáng đặt nghi vấn.

Đặc sắc của tổ sư thiền (thiền dựa vào lời ăn tiếng nói và hành vi của các bậc thiền sư xuất sắc) bắt đầu có vào đời Đường là tính cách “giáo ngoại biệt truyền” (dạy riêng ngoài giáo lý) của nó. Thế nhưng dù bảo là “giáo ngoại biệt truyền” thì ngoài tám vạn bốn nghìn (ý nói cực nhiều) giáo pháp, đã thấy “chính pháp nhãn tạng” (chân lý tối thượng) nằm ở đâu nào! Lại nữa, tám vạn bốn nghìn giáo pháp cũng là vật vô dụng. Chỉ khi nào làm rõ ra được sự cấu tạo của chính giáo pháp thì sự biệt truyền mới có ý nghĩa.

Mã Tổ dạy rằng đừng nghe lấy lời ông. Lâm Tế cũng phát biểu tương tự. Nếu ta cứ thế mà không nghe lời Mã Tổ thì thành ra nghe theo lời ông ấy mất rồi. Điều đó muốn nói việc tiếp thu giáo pháp là chuyện khó khăn, chỉ còn có cách cảm nhận được trực tiếp bên ngoài giáo pháp (giáo ngoại biệt truyền).

Thập Ngưu Đồ nay đến giai đoạn 7 Đáo gia vong ngưu (Về nhà quên trâu) và mục đích buổi ban đầu đã rõ ràng. Chúng tôi nghĩ chủ đề Đáo gia vong ngưu thích hợp hơn Vong ngưu tồn nhân để diễn tả nội dung nguyên thủy của tác phẩm. Đáo gia nghĩa là về đến được nhà, đó là lúc không những quên trâu mà quên cả việc mình đến nhà. Nếu có một câu hỏi mới được đặt ra vào lúc này thì cũng là chuyện đương nhiên. 

( Còn Tiếp)

Túy Phượng

sưu tầm

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Blog Chuyên Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d người thích bài này: