Tìm Hiểu Nội Dung Và Xuất Xứ Thập Ngưu Đồ (tt)

Đệ Nhị: Kiến Tích (Thấy Dấu)
             

Tựa của Từ Viễn:

Ỷ kinh giải nghĩa, duyệt giáo tri tung. Minh chúng khí vi nhất kim,thể vạn vật vi tự kỷ. Chính tà bất biện, chân ngụy hề phân.Vị nhập tư môn, quyền vi kiến tích.

Diễn ý:

Dựa vào kinh điển sẽ hiểu ý nghĩa, đọc lời dạy dỗ thì tìm ra dấu vết.Hãy thấy rõ rằng bao nhiêu khí cụ khác nhau đều được làm ra từ một chất kim (vàng), phải coi mình cùng với vạn vật như một. Nếu không phân biệt lời dạy dỗ để biết chuyện nào đúng chuyện nào sai, làm sao có thể phán đoán cái gì thật, cái gì giả. Khi còn chưa len vào bên trong cánh cửa của Phật pháp, thì chưa thực sự thấy được dấu đạo) 

Phụ chú:

Kiến tích: Trong kinh điển có nhiều chuyện nói về “đắc đạo tích” (tìm được dấu đạo) như Nhị Nhập Tứ Hạnh Luận, của Đạt Ma, đoạn 74. Tăng Triệu gọi giáo điển là giáo tích. Trong thiền lục đời Đường cũng có nhiều chuyện tương tự. Chương này cho ta thấy là bàn chân chỉ có một nhưng dấu chân thì rất nhiều. Để biết trên con đường này nhiều người đã đi qua. Nó như muốn báo trước câu nói trong chương 10 Nhập triền thùy thủ: “Phụ tiền hiền chi đồ triệt” (Quay lưng lại vết xe của hiền nhân trong quá khứ). Trang Tử trong biên Thiên Vận có nhắc lời Lão Tử dạy Khổng Tử: “Lục Kinh là dấu vết của cái dép mục của tiên vương chứ không phải là chính là đôi dép”. 

Ỷ kinh giải nghĩa: Bách Trượng Quảng Lục có chép: Ỷ kinh giải nghĩa là cách đuổi tà ma của tam thế chư Phật. Còn ly kinh giải nghĩa lại giống như nói chuyện ma quái (ma thuyết).”

Minh chúng khí vi nhất kim: Chữ trong Lăng Già Kinh. Lại có ví dụ tương tự trong Pháp Hoa Kim Sư Tử Chương. Ý nói, tuy vết của trâu thì nhiều nhưng chỉ cần tìm ra một là đủ vì tất cả đều là vết chân trâu như nhau.

Thể vạn vật vi tự kỷ: Chữ trong Niết Bàn Vô Danh Luận, ý nói “kẻ hiểu được vạn vật, lấy nó làm mình thì có thể gọi là thánh nhân”. Có thuyết cho biết chữ này có nguồn gốc từ Tề Vật Luận của Trang Tử. “Thể” cũng cùng một nghĩa như “minh”, có nghĩa là biết. 

Chính tà bất biện: Tuy đã hiểu được nguyên lý “vạn vật nhất thể” là chuyện cơ bản nhưng chưa phân biệt được chính tà chân ngụy.

Vị nhập tư môn: Tư môn là cái cửa bắt buộc phải đi qua. Theo thứ tự nhập môn, thăng đường, nhập thất.

Quyền: tạm thời, giả định.
Tụng của Khuếch Am Tắc Hòa Thượng:

Thủy biên lâm hạ tích thiên đa,
Phương thảo li bì kiến dã ma.
Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ,
Liêu thiên tỵ khổng chẫm tàng tha. 

水 邊 林 下 跡 偏 多
芳 草 離 披 見 也 麼
縦 是 深 山 更 深 処
遼 天 鼻 孔 怎 蔵 他

(Trong rừng ven suối, dấu chân dày!
Cỏ dẫu xanh um, dễ nhận thay.
Vẫn biết núi sâu còn tiếp núi,
Trời cao mũi nghếch, lộ ra ngay).

Họa của Thạch Cổ Di Hòa Thượng:

Khô mộc nham tiền sa lộ đa,
Thảo khòa lý cổn giác phi ma.
Cước ngân nhược dã tùy tha khứ,
Vị miễn đương đầu sa quá tha.

枯 木 巖 前 差 路 多
草 窠 裏 輥 覚 非 麼
脚 跟 若 也 随 他 去
未 免 当 頭 蹉 過 他

(Ghềnh đá cây khô, toàn ngã ba,
Biết chăng cỏ vướng, lạc đường ta.
Nếu men theo dấu tìm trâu mãi,
Chưa gặp, nhiều khi đã vượt qua).

Họa lại của Hoại Nạp Liên Hòa Thượng:

Kiến ngưu nhân thiểu mịch ngưu đa,
Sơn bắc sơn nam kiến dã ma.
Minh ám nhất điều lai khứ lộ,
Cá trung nhận thủ biệt vô tha.

見 牛 人 少 覓 牛 多
山 北 山 南 見 也 麼
明 暗 壱 条 来 去 路
箇 中 認 取 別 無 他

(Lắm kẻ tìm trâu, ít kiếm ra,
Non nam núi bắc, hỏi đâu là.
Hết chiều đến sáng qua rồi lại,
Chỉ thấy trên đường một bóng ta).

Phụ chú:

Thủy biên lâm hạ: Chỗ người ẩn dật như ngư phủ ở, nơi có phong cảnh đáng yêu.

Kiến dã ma: Trâu (chủ từ) hỏi người có thấy ta để lại dấu vết không.

Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ: Cho dẫu núi non sâu đến mức nào (cũng không che khuất nổi trâu).

Liêu thiên tỵ khổng: Mũi trâu ngẫng lên, hướng lên trời. Bất tàng ma: Mượn ngữ khí của câu nói trong sách Trang Tử, thiên Đại Tông Sư: Chu tàng hác, sơn tàng trạch (Thuyền nấp trong hang, núi nấp trong đầm). 

Khô mộc nham tiền: Khung cảnh nói người tiên sống. Cũng giống như “thủy biên lâm hạ”. Truyền Đăng Lục quyển 29 trong Thập Huyền Đàm (Mười chuyện huyền hoặc) do Đồng An Thường Sát thu thập, có bài thơ như sau:

Khô mộc nham tiền sa lộ đa,
Hành nhân thử đáo tận sa đà.
Lộ tư lập tuyết phi đồng sắc,
Minh nguyệt lô hoa bất tự tha.

枯 木 巖 前 差 路 多
行 人 此 到 盡 蹉 跎
鷺 鷥 立 雪 非 同 色
明 月 蘆 花 不 自 他

(Ghềnh đá cây khô, rẽ lối nào?
Bộ hành đến đó thảy lao đao.
Bóng cò mặt tuyết không cùng sắc,
Trăng với hoa lau lại một màu).

Thảo khoa lý cổn giác phi ma: Cỏ đã vướng chân rồi, đã biết sai lầm chưa? 

Cước ngân nhược dã tùy tha khứ: “Cước ngân” ám chỉ chân người đuổi theo. “Tha” là con trâu.

Đường đầu sa quá tha: Đương đầu : chỉ khoảnh khắc đối mặt. Sa quá tha: từ đằng sau vượt qua.

Kiến ngưu bất thiểu mịch ngưu đa: Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên chương 1 nói về Đạt Ma có câu: “Đạo minh giả đa, đạo hành giả thiểu” ý nói nhiều người hiểu đạo nhưng ít kẻ thực hành.

Sơn bắc sơn nam: Khi Huệ Năng nhận được y bát của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đi về nam thì các học trò khác trong đó có Đạo Minh đuổi theo đến Đại Dữu Lĩnh hòng lấy lại, bảo rằng mình đã đi hết “núi bắc non nam” để tìm Huệ Năng nhưng không thấy.

Minh ám nhất điều: “Minh ám” là một khái niệm tương đối. Như trong Tham Đồng Khế [6] có chép: Minh trung ám, ám trung minh” (Trong chỗ sáng vốn có bóng tối và ngược lại”. “Nhất điều” là một đường. Minh ám cũng đòng dạng với khứ lai (đi lại). Ý nói nếu mất sẽ tìm ra được.

Cá trung: Ở trong đó. Truyền Đăng Lục quyển 30, trong bài Nam Nhạc Lại Toản Ca có câu:

Kiếp thạch[7]  khả di động,
Cá trung vô cải biến.

劫 石 可 移 動
箇 中 無 改 変

(Đá kiếp di chuyển được,
Bên trong chẳng thay đổi)

Biệt vô tha: Đã biết là không có gì khác. Câu vấn đáp giữa thầy của Linh Vân và ông ta, thấy trong Tổ Đường Tập, truyện Huyền Sa Sư Bị. 

Lời bàn của Yanagida Seizan:

Trong lúc đi tìm trâu hết chỗ này đến chỗ nọ thì sức lực đã kiệt quệ.

Mãi đến một hôm mới tìm thấy được vết chân con vật. Gọi là mình tìm ra chứ có khi chỉ vì bên kia hé lộ cho thấy mà thôi. Mới biết rằng từ đầu dấu vết đã có rồi, vì ta mãi mê đuổi theo trâu mà không chịu ngó xuống chân mình nên mới không biết đến.

Vết chân ấy khá nhiều. Coi bộ lắm con trâu đã đi qua đây.Vết chân lẫn lộn vào nhau, khó lòng phân biệt. Thế nhưng khi nhìn kỹ thì nhớ mình đã thấy một dấu chân quen thuộc. Dù vậy, vết chân trâu không phải là chính con trâu. Con trâu dẫu có nhưng vẫn chưa thấy và rõ ràng là dù có đi tìm xa cách mấy, lúc nào con trâu cũng ở đằng trước những dấu chân. Khi còn thấy dấu thì biết rằng vẫn còn có thể bắt kịp được trâu. Và manh mối để tìm trâu chỉ là những dấu chân ấy.

Vấn đề đặt ra có lẽ là đừng lẫn lộn dấu chân trâu với chính con trâu. Tuy việc phân biệt dấu chân con vật với chính con vật tưởng là dễ nhưng khi đang đuổi theo trâu, nó sẽ trở thành chuyện khó khăn. Sức đuổi theo cũng có giới hạn, chỉ mỗi việc khám phá ra dấu chân trâu thôi cũng đã làm cho nhiều người ngã gục trên đường. Sự lao khổ bỏ ra cho đến lúc này cũng như sự an tâm vì đã tìm ra manh mối con trâu sẽ gây cho người ta những ảo giác. Trong bài họa của Thạch Cổ có chữ “thảo khoa lý cổn” (bị cỏ vướng chân) là để ám chỉ chuyện đó. Ông muốn khuyên ta chớ mãi để tâm vào dấu chân trâu mà quên mất việc đuổi theo trâu! Không nên miệt mài với dấu chân trâu và thỏa mãn giữa chừng vì mình đã tìm ra chúng. Bởi lẽ ngay cả khi trâu kia đã ló mặt ra rồi, nhiều người vẫn còn mãi mê đuổi theo vết chân trâu.

Mục “Tọa Thiền Châm” của thiền sư Dôgen chép trong Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi và Chính Pháp Nhãn Tạng có dẫn ra sự tích một người tên Diệp Công Tử Cao. Ông ta rất thích vẽ rồng, sáng vẽ chiều vẽ. Cảm động trước nhiệt tình của Diệp Công Tử Cao, một hôm rồng thật hiện ra làm cho ông sợ hết hồn và ngất xỉu. Bởi vì ông đã bị tranh rồng hút hết thần hồn rồi. Dôgen mới nói: 

“Thay vì yêu rồng chạm phải biết yêu rồng thật. Học về rồng chạm hay rồng thật phải học thêm cả về năng lực biết làm mây làm mưa của rồng. Không quí trọng hay coi khinh cái ở xa và cũng chẳng nên quí trọng hay coi khinh cái ở gần mà phải trở nên quen thuộc, thuần thục với chúng”.

Bởi vì ảnh tùy thuộc vào hình chứ hình không tùy thuộc vào ảnh.Tiếng vọng tùy thuộc vào âm thanh chứ âm thanh không tùy thuộc vào tiếng vọng. Một khi có ảnh tất phải có hình, thế nhưng có hình chưa chắc đã có ảnh. Nếu quá quen đuổi theo ảnh thì sẽ quên mất chuyện là có những hình không ảnh. Nếu quá quen đuổi theo tiếng vọng thì sẽ quên mất chuyện có những âm thanh không tiếng vọng.

Nhờ có ngón tay chỉ mặt trăng mà ta biết ánh sáng ấy đến từ mặt trăng. Và ngón tay cũng nhờ ánh trăng soi vào ta mới nhận ra nó là ngón tay.Ánh trăng che khuất con cò, cái chén bạc vun đầy tuyết, mới nhìn cứ tưởng là một vật nhưng thực ra chúng là hai.Vấn đề là phải nhận chân được sự liên hệ giữa hai sự vật. Vết chân trâu chính là ngón tay trỏ cho ta biết đằng trước nó có con trâu vậy. 

Đệ Tam: Kiến Ngưu (Thấy Trâu)
          

Tựa của Từ Viễn:

Tùng thanh đắc nhập, kiến xứ phùng nguyên.Lục căn môn trước trước vô sa, dụng dụng trung đầu đầu hiển lộ. Thủy trung diêm vị, sắc lý giao thanh. Tráp thướng mi mao. Đản phi tha vật.

Diễn ý:

Tai nương theo âm thanh tìm vào là được mà mắt cũng có thể bắt gặp căn nguyên ở chỗ mình nhìn. Sáu giác quan tuy khác đấy nhưng con đường chúng đi nào có khác và điều đó đã biểu lộ qua mỗi một động tác hằng ngày. Như trong nước đã có muối, trong dụng cụ để vẽ đã có keo. Nếu bất thần giương mắt mà nhìn thì biết rõ ràng nó không phải vật gì khác.

Phụ chú:

Kiến ngưu: Khi đang đi tìm thì bỗng thấy dáng con trâu hiện ra rõ ràng.

Tùng thanh đắc nhập: Thanh tức là “giáo thanh ”, lời dạy dỗ bắt nguồn từ kinh điển. Đắc nhập là tìm ra được lối vào. Có câu “văn thanh ngộ đạo, kiến sắc minh tâm”, ý nói việc giác ngộ khi nghe được tiếng của đạo, thấy được sắc của tâm. 

Kiến xứ phùng nguyên: Ở chỗ đặt mắt vào, gặp được căn nguyên. Sách Mạnh Tử thiên Ly Lâu Hạ viết: “Thủ chi tả hữu, kỳ phùng nguyên” (Lấy được nó ở bên mình, sẽ gặp căn nguyên) mà tả hữu có nghĩa là bên cạnh mình. Trước khi “đắc ngưu” (được trâu), tiền đề phải là “phùng cừ” (gặp được hắn). 

Lục căn môn: động tác của 6 căn: nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý. Xem như là 6 cánh cửa của ngôi nhà thân thể.

Trước trước vô sa: từng cái một, từng nước cờ một đều không khác. Trước trước là chữ đến từ thuật ngữ của cờ vây.Chữ sa trong vô sa cũng là chữ sa (sai vạy) trong “hào ly vô sa” của Tín Tâm Minh.

Động dụng trung: Động tác của lục căn trong cuộc sống hằng ngày.

Đầu đầu hiển lộ: Tất cả đều xuất hiện không trừ cái gì.

Thủy trung diêm vị: Câu của Phó Đại Sĩ trong Tâm Vương Minh, ý nói có những việc đương nhiên nhưng khó chứng minh.

Tráp thướng mi mao: Mở to mắt mà nhìn. Có chỗ viết là trát thướng.

Tụng của Khuếch Am Tắc Hòa Thượng:

Hoàng anh chi thượng nhất thanh thanh,
Nhật noãn phong hòa ngạn liễu thanh.
Chỉ thử cánh vô hồi tị xứ,
Sâm sâm đầu giác họa nan thành.

黄 鸚 枝 上 壱 聲 聲
日 暖 風 和 岸 柳 青
只 此 更 無 廻 避 処
森 森 頭 角 画 難 成

(Líu lo oanh hót ở trên cành,
Hiền hòa nắng gió, liễu bờ xanh.
Đã đến chốn này, sao trốn được,
Oai nghiêm sừng vóc, họa khôn thành). 

Họa của Thạch Cổ Di Hòa Thượng:

Thức đắc hình dung nhận đắc thanh, 
Đái Tung tùng thử diệu đan thanh.
Triệt đầu triệt vĩ hồn tương tự,
Tử tế khan lai vị thập thành.

識 得 形 容 認 得 聲
戴 嵩 従 此 妙 丹 青
徹 頭 徹 尾 渾 相 似
仔 細 看 来 未 十 成

(Biết được hình dung, nhận tiếng trâu,
Đái Tung từ đó vẽ muôn màu.
Đầu đuôi sống động coi như thật,
Nhưng ngắm cho cùng chửa giống đâu).

Lại họa của Hoại Nạp Liên Hòa thượng:

Mạch địa tương phùng kiến diện trình,
Thử ngưu phi bạch diệc phi thanh.
Điểm đầu tự hứa vi vi tiếu,
Nhất điệu phong quang họa bất thành.

驀 地 相 逢 見 面 呈
此 牛 非 白 亦 非 青
点 頭 自 許 微 微 笑
壱 条 風 光 画 不 成

(Bất thần gặp gỡ, mắt nhìn nhau.
Không đen, không trắng, quái, con trâu!
Gật gù, miệng nhoẻn cười nhìn nhận,
Dáng chú phi phàm, vẽ được đâu!)

Phụ chú:

Hoàng anh: Chim vàng anh, một giống chim nhỏ, tượng trưng cho mùa xuân. Có bản viết hoàng lô (chim cốc).

Sâm sâm đầu giác họa nan thành: Sừng sửng đầu sừng. Chỉ dáng oai nghiêm, trang trọng của con trâu. Họa nan thành ý nói hình ảnh của người (vật) mình yêu dấu, muốn vẽ nhưng không thể nào vẽ hết ý.

Thức đắc hình dung nhận đắc thanh: Nhận ra hình dáng, phân biệt tỏ tường. 

Đái Tung戴嵩: Tung có nơi chép là Tùng, chắc lầm mặt chữ. Đái Tung là tên một họa gia thời Trung Đường. Trong Lịch Đại Danh Họa Ký quyển 10 và Hội Đồ Định Giám quyển 2 có truyện ký của ông.Giỏi vẽ tranh chăn trâu và mục đồng. Vương Duy mới  xem tranh ông lần đầu đã tiến cử ông làm quan.

Tử tế khan lai…: Biết nắm bắt được ngoại hình của trâu mà không vẽ được bên trong của trâu. Tuy không vẽ được cái tâm nhưng về hình dáng trâu từ đầu đến đuôi thì nét bút rất sống động.

Mạch địa: bất thần, đột ngột. Tổ Đường Tập quyển 11, chương nói về Tề Vân Hòa Thượng có câu: Sư hữu thời thượng đường, mạch địa khởi lai, thân thủ vân: Khất thủ ta tử, khất thủ ta tử. (Sư có lúc lên giảng đường, đột nhiên đứng dậy, vươn tay ra nói: Xin nhận lấy một ít, xin nhận lấy một ít!)

Tương phùng kiến diện trình: Tương tự ý của lời thị chúng trong Lâm Tế Lục: “Tương phùng bất tương thức. Cộng ngữ bất tri danh” (Gặp nhau nhưng chưa quen nhau. Chuyện trò mà không rõ tên nhau”. Thơ Đồng An trong Chuyển Vị Qui (Thập Huyền Đàm): “Niết Bàn thành lý thướng do nguy, Mạch lộ tương phùng một định kỳ” (Đến gần Niết Bàn rồi hãy còn nguy vì vẫn chưa biết khi nào gặp nhau trên đường). Lý Thương Ẩn trong Phòng Trung Khúc lại có câu: “Sầu đáo phiên thiên địa, Tương khan bất tương thức”. Còn “diện trình” giống như “diện thể” có nghĩa là thấy tận mặt. Cùng nghĩa với câu ngạn ngữ “ Thiên lý văn danh bất như diện kiến” (Ngoài ngàn dặm trăm nghe không bằng một lần thấy tận mặt). Cũng như đã thấy trong chú thích trước đây, trong lời tụng cổ của Tuyết Đậu: “Chúng sinh điên đảo, dĩ mê trục vật”, vì mê mãi chạy đuổi theo vật mà không “tương phùng” với đạo chăng? 

Thử ngưu phi bạch…: Bạch tức bạch ngưu trong kinh Pháp Hoa phẩm Tỉ Dụ. Còn thanh, có nghĩa là…đen nhánh. Có chuyện Lão Tử đi thanh ngưu xa (xe trâu đen kéo) ra ngoài cửa Hàm Cốc. 

Điểm đầu: Vua Thái Tông nhà Đường trong bài tán Phật Thích Ca có câu: “ Khổng môn đệ tử vô nhân thức, Bích nhãn Hồ tăng tiếu điểm đầu.” (Môn đồ cửa Khổng không ai biết, Mắt biếc Hồ tăng cười gật gù). (Xem Bích Nham Lục Bất Nhị Sao, quyển nhất hạ).

Tự hứa: Bảo Kính Tam Muội có câu: “Điên đảo tưởng diệt, khẳng tâm tự hứa” (Quyết tâm nhủ lòng bỏ hết ý nghĩ điên đảo).

Vi vi tiếu: Ngầm chỉ việc Ma Kha Ca Diếp “phá nhan vi tiếu” (mỉm cười, mặt rạng rỡ) vì hiểu được ý cao diệu của tôn sư Thích Ca.

Nhất điệu (điều) phong quang: Câu nói dựa theo câu đầu của Tiểu Diễm chi từ 小艶之詞 (trong Đại Huệ Vũ Khố):

Nhất đoạn phong quang họa bất thành,
Động phòng thâm xứ thân sầu tình.
Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự,
Duy yếu nhận đắc Đàn Lang thanh.

一 段 風 光 画 不 成
洞 房 深 処 伸 愁 情
頻 呼 小 玉 元 無 事
唯 要 認 得 檀 郎 聲

(Hình ảnh người thương vẽ được sao,
Tường cao cổng kín dạ riêng sầu.
Không cần chi cũng kêu con Ngọc,
Đánh tiếng chàng hay em ở đâu.) 

Bài tụng trong Vô Môn Quan tắc thứ 23 nói về Minh Thượng Tọa đuổi theo Huệ Năng để lấy lại y bát cũng có câu tương tự: Miêu bất thành hề, họa bất tựu (Tả không tả được, họa nên chi). Nhất điệu (điều) có nghĩa là địa vị cao sang, phong quang ý nói nhân cách, nhân phẩm. 

Lời bàn của Yanagida Seizan:

Đây là lúc trâu xuất hiện. Kiến ở đây đồng dạng với kiến trong kiến tích.Nghĩa là bên kia lộ diện ra. 

Trong bộ tranh của Thư viện Tenri có một điểm thú vị là bức thứ 3 Kiến Ngưu vẽ con trâu ló mặt ra từ bên kia bờ. Người và vật nhìn thấy nhau nhưng lại bị ngăn cách bởi một dòng sông, không đưa tay ra nắm được. Thật tuyệt diệu. Những bộ tranh khác chỉ vẽ phần sau của con trâu với các đuôi (ví dụ bộ tranh của chùa Tướng Quốc ở Kyôto, LND). Nó đối xứng được chữ Kiến ở đây với chữ Kiến trong bức thứ 8 Nhân Ngưu Câu Vong mà thực ra ngày xưa vốn có nhan đề Nhân Ngưu Bất Kiến. Lúc đó, cả trâu lẫn người đều biến mất trước mặt nhau.

Chữ Kiến Tích chỉ có nghĩa là “kiến túc tích” hay thấy dấu chân.Trong Kiến Ngưu thì nghe thêm được tiếng trâu và dĩ nhiên là thấy cả hình dáng trâu. Câu hỏi “Có thể dùng “kiến văn giác tri” mà nắm bắt được đạo hay không?” có lẽ là một đề tài quan trọng mà Thiền đời Đường đã đặt ra.

Để giải thích thế giới của “kiến văn giác tri” ấy, Thập Ngưu Đồ đã tận lực tô vẽ quang cảnh thiên nhiên bao trùm lên người và trâu. Ví dụ bức tranh này cho ta thấy không khí đầm ấm dương hòa của mùa xuân “Nhật noãn phong hòa liễu ngạn thanh”. Không còn phân vân gì nữa, đây là phong cảnh một ngày xuân.Trên đầu, còn thấy cả sương xuân bao phủ.

Xuân ý ấy từng thấy trong chương Kiến Tích. Lúc đó đã có câu “phương thảo li bì” mà phương thảo thì ngay cả trong bài họa của chương 1 Tầm Ngưu cũng có dịp nói đến. Thế nhưng không khí của chương 1 và 2 vẫn là cái tiêu sắt mùa thu, của “phong thụ vãn thiền”, “của “khô mộc nham tiền”, có cái gì không thông suốt. Cây cối trong bức thứ 1 Tầm Ngưu là lá phong nhuộm đỏ, trong bức thứ 2 Kiến Tích là tùng, còn bức thứ 3 Kiến Ngưu mới là liễu. Như thế ta cảm thấy thời gian đã tuần hoàn từ thu (phong) sang đông (tùng) rồi trở lại mùa xuân (liễu).

Như được thoải mái trong bầu không khí mùa xuân, con trâu chạy trốn mới chịu theo người trở về nhà. Còn con người thì hấp tấp đuổi theo trâu đâu có chú ý gì đến dấu hiệu của mùa xuân để cho trâu phải gọi người để mong người “tráp thướng mi mao”  (giương mắt thật to để nhìn cho ra). 

Ngoài ra, trong đoạn này, cần chú ý thêm là cả bức tranh lẫn bài tụng đều dựa trên bài Tiểu Diễm chi từ nổi tiếng. Bài Tiểu Diễm chi từ đã được thiền sư Nhật Bản Musô Soseki (Mộng Song Sơ Thạch, 1275-1351) đặc biệt dùng làm đề tài thuyết pháp. Điều này cho thấy trên thực tế, Musô đã có công trong việc phổ biến Thập Ngưu Đồ ở Nhật. Biết đâu ông chẳng quan tâm đến Thập Ngưu Đồ chỉ vì nó lồng khung bài Tiểu Diễm chi từ trong đó!

Bài Tiểu Diễm chi từ là một danh tác trong Đại Huệ Vũ Khố, nó đã dựa trên câu chuyện về cơ duyên giữa Ngũ Tổ Pháp Diễn (1024-1104) và đệ tử của ông là Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135): Chuyện rằng có một cô tiểu thư kín cổng cao tường muốn cho một cậu công tử ý trung nhân (Đàn Lang) biết chỗ ở của mình mới lên tiếng réo bai bải tên con hầu gái (Tiểu Ngọc) dù chẳng có việc gì phải nhờ nó cả. Tiểu Diễm chi từ là một bài hát dân gian bằng thể thơ thất tuyệt tóm tắt câu chuyện ấy. Pháp Diễn tặng Viên Ngộ bài thơ ấy để dạy cho học trò biết công dụng của ngôn ngữ. 

Có thể so sánh tiếng cô tiểu thư gọi người hầu gái là tiếng của Phật Đà giáo hóa chúng sinh (giáo thanh). Nó làm cho đối tượng (cậu công tử họ Đàn) phải ngoảnh mặt lại nhìn và tiếng gọi đó là cách thức làm cho đối tượng chú ý. Ngày nay, nó là phương pháp để ra hiệu cho trâu biết mình đang ở đâu. Ngược lại đứng ở địa vị của trâu mà nói thì đó là phương pháp lôi cuốn sự chú ý của người.Hai bên như vậy cùng nhận ra nhau. Có câu chuyện nổi tiếng nhan đề “Linh Vân kiến đào”. Đó là câu chuyện Linh Vân tu hành ba mươi năm liến tiếp, một ngày xuân nọ, nhìn thấy hoa cây đào bỗng ngộ đạo, trở về với chính mình. Đó là vì hoa cây đào đã nhìn thấy Linh Vân. Cho nên có thể nghĩ rằng chữ kiến trong Kiến Ngưu cũng chứa đựng một ý nghĩa huyền vi như vậy. 
Đệ Tứ: Đắc Ngưu (Được Trâu)

Tựa của Từ Viễn:

Cửu mai giao ngoại, kim nhật phùng cừ.Do cảnh thắng dĩ nan truy, luyến phương tùng nhi bất dĩ. Ngoan tâm thướng dũng, dã tính do tồn. Dục đắc thuần hòa, tất gia tiên sở.

Diễn ý:

Trâu kia lâu ngày nằm phục ngoài đồng xa, hôm nay rốt cuộc ta mới gặp được “hắn” (trâu/cái ta đi lạc). Con người vì bị bốn phương cảnh sắc xinh tươi quyến rũ nên không đuổi kịp trâu.Trâu kia cũng quá thích thú được ở giữa đồng cỏ thơm không dừng bước. Tâm hồn trâu hãy còn hung hãn, tính nết chưa hết hoang dã. Muốn cho trâu thuần thục, chắc chắn phải dùng đến roi vọt. 

Phụ chú:

Đắc ngưu: Buộc được giây vào trâu kéo đi.

Cửu mai giao ngoại:  Vì “cừ” (hắn) chỉ con trâu cho nên ở đây nói là trâu đã quen sống ngoài hoang dã. Chữ “mai” (chôn, nằm phục) sẽ thấy lại trong bài tụng thứ 10 Nhập triền thùy thủ. 

Kim nhật phùng cừ: Chữ “cừ” còn có ý nghĩa rất sâu sắc nếu ta đọc bài kệ Quá Thủy (Lội qua giòng nước) của hòa thượng Động Sơn Lương Giới (807-869). Tương truyền khi Động Sơn giả từ thầy là Vân Nham Đàm Thạnh (780-841) để lên đường vân du, trong lòng hãy còn bất an. Một hôm đang lội qua một khúc sông, chợt nhìn thấy bóng mình trên mặt nước, cảm thấy như gặp được khuôn mặt thực sự của thầy mình (và hiểu được ý thầy). Hôm đó đối với ông là một ngày rất đặc biệt nên ông đã làm bài kệ Quá Thủy để ghi lại sự kiện nói trên: “Thiết kỵ tùng tha mịch, Thiều thiều ngã dĩ sơ. Ngã kim độc tự vãng. Xứ xứ đắc phùng cừ. Cừ kim chính thị ngã. Ngã kim bất thị cừ. Ưng tu nhậm ma hội. Phương đắc khế như như” [8]. Chỉ xin để ý đến 4 câu được gạch dưới: “Nay mình ta đi thôi. Nhưng đâu cũng gặp người. Người nay là ta đó. Dầu ta chẳng phải người”.

Do cảnh thắng dĩ nan truy: Chủ ngữ là “nhân”. Cảnh đẹp lôi cuốn nên người đi tìm không để hết tâm trí vào việc đuổi theo trâu.

Luyến phương tùng nhi bất dĩ: Chủ ngữ là “ngưu”. Trâu mãi mê với cánh đồng cỏ tươi xanh (phương tùng) nên đi mãi không ngừng.

Ngoan tâm:  Dùng như chữ “ngoan bì đát” trong Chứng Đạo Ca, căng như roi da, nghĩa bóng là bản chất ngoan cố.

Dục đắc thuần hòa: Muốn làm cho dịu dàng ra, không còn ngoan cố hung hãn. Tiên là roi da, sở cũng có nghĩa là roi, hay trượng. 

Tụng của Khuếch Am Tắc Hòa Thượng:

Kiệt tận tinh thần hoạch đắc cừ,
Tâm cường lực tráng tốt nan trừ
Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng,
Hựu nhập yên vân thâm xứ cư.

竭 盡 精 神 獲 得 渠
心 強 力 壮 卒 難 除
有 時 纔 到 高 原 上
又 入 煙 雲 深 処 居

(Bắt được trâu xong mệt bở người,
Trâu còn mạnh quá, khổ thân ôi.
Có khi tưởng đạt nơi cao vợi,
Vẫn thấy trong mây khói mịt trời). 

Họa của Thạch Cổ Di Hòa Thượng:

Lao bả thằng đầu mạc phóng cừ,
Kỷ đa mao bệnh vị tằng trừ.
Từ từ mạch tỵ khiên tương khứ,
Thả yếu hồi đầu thức cựu cư.

牢 把 繩 頭 莫 放 渠
幾 多 毛 病 未 曾 除
徐 徐 驀 鼻 牽 将 去
且 要 廻 頭 識 奮 居

(Cho “hắn” vào tròng, không thả đâu,
Vì chưng nếp cũ hãy ăn sâu.
Nhẹ nhàng nắm mũi lôi về trước,
Trâu nhớ đồng xưa lại ngoái đầu.)

Lại họa của Hoại Nạp Liên Hòa Thượng:

Phương thảo liên thiên tróc đắc cừ,
Tỵ đầu thằng sách vị toàn trừ.
Phân minh chiếu kiến quy gia lộ,
Lục thủy thanh sơn tạm ký cư

芳 草 連 天 捉 得 渠
鼻 頭 繩 索 未 全 除 
分 明 照 見 帰 家 路
緑 水 青 山 暫 寄 居

(Cỏ tiếp chân mây, bắt “hắn” rồi.
Mũi kia vẫn cột mối dây rời.
Chỉ cho rõ lối về chuồng cũ,
Nước biếc non xanh, hãy tạm thời)

Phụ chú:

Kiệt quệ tinh thần: Hết sức, hết nguyên khí. Có chỗ giảng là hết phép thần thông nhưng ý cũng chẳng khác bao nhiêu.

Tâm cường lực tráng tốt nan trừ: Trâu hãy còn quá mạnh mẽ chưa có thể chế ngự hoàn toàn (tốt nan trừ).

Hựu nhập yên vân: Trâu lại chạy trốn vào chỗ mây khói, muốn nằm phục ở cánh đồng xưa.

Lao bả thằng đầu: Đầu chỉ là một trợ từ. Thằng là dây. Ý nói mắc đầu trâu vào tròng.

Mao bệnh: Tiếng Hán cổ, nay có thể hiểu là thói xấu, khuyết điểm. Chữ dùng trong sách coi lông để biết tướng ngựa.

Mạch tỵ: Ngay đằng trước mũi. Tổ Đường Tập quyển 14 nói về Tăng Củng Huệ Tạng (thế kỷ 8/9) có viết: Một hôm Mã Tổ Đạo Nhất (709-788), thầy ông, hỏi ông đang làm tác vụ gì thì ông cho biết đang dạy trâu (mục ngưu). Hỏi dạy trâu thế nào thì Tăng Củng trả lời rằng mỗi lần cho nó ăn xong một nắm cỏ thì nắm mũi nó mà kéo lại phía mình. Mã Tổ khen như thế là biết cách dạy trâu. 

Thả yếu hồi đầu: trâu tự ý (thả yếu) quay đầu lại nhìn cánh đồng cỏ vì hãy còn luyến tiếc cuộc sống cũ, muốn vào chỗ mây khói mịt mùng. Thả yếu ở đây không giống nghĩa “À, nếu muốn thì cứ làm đi!” như thấy trong Lâm Tế Lục.

Phương thảo liên thiên [9]: Chữ đã thấy trong tắc 36 của Bích Nham Lục. Cũng đã thấy ở bài họa Tầm Ngưu của hòa thượng Thạch Cổ.Trong Hán văn, phương thảo tượng trưng cái đức đẹp đẽ của người quân tử, hấp dẫn được trâu làm trâu đi theo. Liên thiên là rộng rãi mang mang như “thiên võng khôi khôi” (lưới trời sưa sưa), chủ thể bị ngoại cảnh bao trùm.

Tỵ đầu: Chỗ quan trọng, chỗ hiểm, nơi trâu bị người dắt. 

Phân minh chiếu kiến: Thơ Vương Xương Linh (bài Trường Tín Thu Từ) nói về mối hận lòng của nàng Ban Tiệp Dư khi bị vua ruồng bỏ, có câu:

Hỏa chiếu Tây Cung tri dạ ẩm,
Phân minh phức đạo [10] phụng ân thì.

火 照 西 宮 知 夜 飲
分 明 複 道 奉 恩 時

(Lửa rọi cung Tây, ai yến ẩm,
Đâu thời yêu dấu, rõ song đôi)

Trong kinh Bát Nhã có chữ “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. 

Quy gia lộ: Đường về nhà (chuồng), báo trước cho chương 6 Kỵ ngưu quy gia.

Lục thủy thanh sơn: Trong bài tựa của chương 9 Phản Bản Hoàn Nguyên, chép ngược lại là “thủy lục sơn thanh”.

Tạm ký cư: Trong kinh Pháp Hoa, Tín Giải phẩm, chữ dùng nhân khi nói về cái thảo am của đứa trẻ nghèo (cùng nhi) trong truyện Trưởng giả cùng nhi. Nghĩa là dù đã bắt dược trâu nhưng vì mới bắt xong nên chưa có thể coi như đã xong việc.

Lời bàn của Yanagida Seizan:

Đây là lúc trâu nằm trong tay ta.Không biết tập quán xỏ mũi trâu đã có từ lúc nào nhưng khi nói đến con vật bị xỏ mũi, người ta đều liên tưởng đến con trâu. Lịch sử nuôi trâu của loài người đã có từ lâu.Mới sinh ra, trâu đã được người nuôi, thế mà một ngày trâu bỏ trốn ra ngoài đồng và chẳng bao lâu, trở thành con vật hoang dã. Có thể xem như chủ đề của chương 4 Đắc Ngưu và chương 5 Mục Ngưu là “sự đấu tranh chống lại cái hoang dã trong quá trình tiến đến văn minh”. Nói cách khác, đó là sự xung đột giữa văn minh và hoang dã. Trong lời tựa của chương 6 Kỵ ngưu qui gia, Từ Viễn có viết “can qua dĩ bãi” (chiến tranh đã chấm dứt), làm ta hình dung được là trong hai chương 4 và 5, chắc đã có một cuộc tranh đấu ghê gớm.

Thiền sư Dôgen của Nhật Bản mở đầu quyển Shôbô Genzô (Chính Pháp Nhãn Tạng) của ông có nói rằng Sơn Thủy Kinh có nghĩa là sơn thủy như ta có ngày nay vốn thể hiện được đạo của chư cổ Phật và là nơi trú ngụ của pháp vị. Đề tài Sơn Thủy Kinh cho thấy sông núi và con người đều chứa đựng pháp vị và đấy là một ý kiến mới mẻ. Nó giúp ta hiểu rằng trong văn minh đã có sự hoang dã và trong cái hoang dã cũng ngầm chứa văn minh. Khi không thấy nữa phải cất công tìm về. Thế nhưng trong vật không còn thấy nữa ấy thật ra cũng đã chứa sẳn cái vốn có (bản lai) xưa nay.

Như đã trình bày không phần chú thích từ ngữ, Thập Ngưu Đồ có lẽ bắt nguồn từ một ý tưởng đã có trong kinh Pháp Hoa, phẩm Tín Giải, qua câu chuyện “Trưởng giả cùng nhi” (Đứa trẻ ăn mày con nhà giàu) như sau:

Có một đứa bé kia từ thuở nhỏ đã lìa nhà, lưu lạc nơi này chốn nọ và tính tình hoàn toàn trở nên hoang dã. Năm mươi năm sau, về qua trước cổng ngôi nà cũ, không biết là nhà cha mẹ mình giàu có ức vạn, đứa con kia chỉ bằng lòng xin một chén cơm thôi. Người cha thì lại biết ngay là đứa con mà mình đã tìm kiếm từ mấy chục năm trời nên mừng vui khôn xiết. Ông cụ cứ liền mời đứa con vào nhà. Thế nhưng đứa con đã quen thói ăn xin, nay thấy ông bố sang trọng rình rang thê thiếp, kẻ hầu người hạ, bà con quyến thuộc vây quanh thì lại sợ hãi, đồ chừng người ta sắp bắt mình để giết bèn vắt giò lên cổ chạy mau cho thoát khỏi ngôi nhà đó. Người cha mới nghĩ ra một kế là đi kêu anh ta về, mướn làm một tên đầy tớ chức phận hèn kém nhất và cho sống chung với lũ tôi tớ trong nhà. Từ đó, công việc mỗi ngày của anh ta là quét dọn trong dinh thự, đổ cầu tiêu hố xí. Thế rồi người cha mới cho dựng một túp lều con (thảo am) trong khuôn viên của dinh thự cho ông con tạm trú. Được như thế trong vòng hai mươi năm, ông con mới dần dần quen với khung cảnh trong nhà, được cất nhắc lên làm chức quản lý điền sản, đến lúc người cha lâm chung thì ông con mới có thể trở thành kẻ nối nghiệp. 

Chủ đề của kinh Pháp Hoa là sự liên hệ giữa nhất thừa và tam thừa[11]  nhưng điều đó không phải là vấn đề đặt ra ở đây bây giờ. Chuyện con trâu lâu ngày nằm phục (mai) ngoài đồng cỏ, tính tình đã trở thành hoang dã, nay trở về làm quen lại người chăn, nếu không có câu chuyện ngụ ngôn trong kinh Pháp Hoa này dẫn đường, khó lòng chúng ta hiểu được. Chữ mai là nằm phục trong cụm chữ “cửu mai giao ngoại久埋郊外” của Từ Viễn khi nói về con trâu cũng là chữ mai 埋của mai táng埋葬, mai tàng 埋蔵, cho ta thấy đó là việc dấu diếm một cái gì quan trọng.Nếu không có ý thức về điều đó thì sẽ không có chuyện đắc ngưu hay mục ngưu.Cái chân tính sẳn có (bản cụ chân tính) nhờ sự rèn luyện, mài giũa mới có cơ hội tỏa sáng. Cũng như người cha từ lúc đầu dẫu biết đứa ăn mày là con mình cũng phải để cho lao khổ liên tiếp trong 20 năm. Nói khác đi, chính có khi vì biết đó là con mình nên mói thế. Có người bàn 20 năm đó tương đương với khoảng thời gian gọi là “thánh thai trường dưỡng”, tưởng cũng không phải là không có thâm ý. 

( Còn tiếp)

Túy Phượng sưu tầm

2 bình luận

  1. Chị, câu chuyện người cha xử với con thật hay, thật kiên trì, còn mấy chữ ” thánh thai trường dưỡng” thật đắc địa chị nhỉ?
    Chị an lạc chị nhé!
    Ái

  2. Ừ, nhất trí.. nhất trí em ạ. 🙂

    Em cũng nhớ an lạc đó nghe !

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Nội San Chuyên Tiếng Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d người thích bài này: