Phiếm Luận về Cái Miệng

Phôi thai 5 tuần, dài 9mm. Gương mặt đã định hình có mắt, mũi, miệng [ hình chụp của Nilsson ]

Trên khuôn mặt người vốn đã có nhiều nét biểu cảm độc đáo, nếu con mắt là “cửa sổ của tâm hồn” đã giúp con người quan sát, liên hệ với ngoại cảnh thì cái miệng cũng không kém phần quan trọng. Miệng là cơ quan có nhiệm vụ nhận thức ăn để nuôi dưỡng cơ thể và liên hệ với những người khác trong xã hội bằng ngôn từ âm điệu. Nhờ miệng có duyên, ăn nói những lời thiện ý mà tình cảm tốt đẹp giữa con người được nảy nở và củng cố: “mồm miệng đở chân tay” hay là “ăn coi nồi, ngồi coi hướng”.  Mỗi người có một miệng, nhưng nhiều người lại xài chung một miệng [theo nghĩa bóng] khi bàn một đề tài nào. Đó là “miệng thế gian hay miệng đời”, miệng của nhiều người cùng  phê phán xấu, tốt về việc gì.

Theo từ điển Hán Việt, miệng còn gọi là khẩu, là một bộ trong bộ chữ Trung Hoa.  Miệng hiểu theo nghĩa đơn giản chỉ là cái lỗ, để nhận vào hay cho ra như miệng hầm, miệng giếng, miệng sông hay cửa sông [ giang khẩu] hay khẩu độ của nòng súng, hay hộ khẩu [sổ gia đình]; nhưng miệng của con người thật là kỳ diệu và phức tạp; vì vừa phải nhận thực phẩm để nuôi cơ thể, lại vừa phải phát ra những thanh âm ngôn ngữ với nhiều tần số khác nhau. Những cuộc tranh cải bằng miệng gọi là “khẩu chiến”, trong đó nhiều khi tức quá, người ta không ngần ngại quát:”câm mõm, câm mồm lại!” Lúc bấy giờ miệng lại gọi là mõm, là mồm. Cũng như con mắt, cái miệng cũng là đề tài làm tốn hao thời gian , công sức của các văn nhân thi sĩ, cũng như được đề cập trong ca dao , tục ngữ truyền miệng từ nhiều đời nay. Qua đó miệng được vinh danh, đề cao hay bị chế nhạo, chê trách. Thậm chí có  những thầy bói đoán vận mệnh, tình nết con người qua tướng miệng.Ca dao Việt Nam thật phong phú khi dân gian đặt ra những câu đố có dùng chữ miệng, nhưng không phải nói về miệng; ví dụ như những câu đố dưới đây:

Có con mà chẳng có cha
Có lưỡi không miệng, đố là cái chi [ đó là con dao]
Có hình có cả luôn răng
Không miệng nên chẳng nói năng bao giờ [ đó là cái cưa ]
Có mặt mà chẳng có mồm
Râu ria hai sợi, chạy vòng chạy vo [ đó là cái mặt đồng hồ]

Nằm ngay giữa, ở phần dưới khuôn mặt, cũng như mắt; miệng thật nổi bật nên người đối diện lúc nào cũng nhìn vào mắt và miệng của ta khi tiếp xúc. Miệng có mặt cùng với con người suốt cuộc đời, từ lúc còn là bào thai đến khi cuối cùng hắt hơi, trả lại cho đời cái hơi ban đầu mà mình đã mượn lúc mở mắt chào đời. Xuất phát từ mầm nội bì phôi từ tuần lễ thứ tư của phôi, mầm ống tiêu hóa đã nhanh chóng phát triển, cuối tuần lễ thứ tám khuôn mặt người đã tương đối đầy đủ các thanh phần với mắt, chóp mũi, hai lỗ mũi, hai hàm và miệng bấy giờ đã có lưỡi. Nhờ các kỹ thuật chụp ảnh thai và siêu âm hiện đại, y học đã biết trong thời kỳ 10 tuần, thai nhi đã biết ngáp, thường xuyên đóng và mở miệng. Đa số các thai đều có động tác “mút”, ngậm ngón tay vào miệng, động tác ban đầu của bú. Khi hài nhi sanh ra, thân nhân đều mong trẻ há miệng khóc to để nhận không khí vào đầy hai phổi, làm căng các phế nang. Trẻ càng khóc to, người nhà càng sung sướng. Có khi người thầy thuốc phải đánh vào đít mấy cái, để trẻ khóc, phát động tiến trình hô hấp ngoài tử cung mẹ. Trẻ thì khóc nhưng thầy thuốc, người mẹ và thân nhân thì cười sung sướng. Một nhà thơ trào phúng có viết:

Khi mới sinh thì đà khóc thét
Trần thế vui, sao chẳng cười khì

Nhưng cũng thật là ngược đời, người ta lại khóc vì thương tiếc con người có cái miệng lâu nay, muốn miệng người ấy khép lại khi chết [vì trông ghê quá!] và đã phải bóp miệng người chết cho kín, cho đẹp đẻ khi liệm. Theo tập tục xưa, nhiều gia đình giàu có, đã nhét vào miệng người chết ít nữ trang, coi như làm lộ phí đi đường và để sống khi sang thế giới bên kia. Do nằm ở mặt tiền, nên miệng có giá trị như mặt tiền đường phố của những căn nhà tại Việt Nam. Xin đừng quên rằng miệng có giá trị không phải do riêng vẻ đẹp và duyên dáng, lợi ích của chính nó; mà nhờ vào những thành phần tham gia như môi, răng, lưỡi… Mỗi thành phần có chức năng riêng nhưng hoạt động nhịp nhàng, hài hòa cho nhiệm vụ chung là ăn, nói, hôn, cười, la, hét.

MIỆNG & CÁC THÀNH PHẦN LIÊN HỆ

1/ i: được ví như là hai bức riềm trên và dưới,che chở lỗ miệng cho kín đáo, “tránh gió lùa”! và làm đẹp thêm cho các bà khi được tô một màu son thích hợp. Hai môi trên và dưới tuy khác nhau chút ít về hình dáng và kích thước nhưng lúc nào cũng hòa hợp che chở cho cái miệng, cho hai hàm răng. Môi chỉ hé  khi cần thiết, chỉ “cong cớn “khi chửi bới và chỉ nhếch mép khi chê bai, khinh rẽ với nụ cười nửa miệng. Nhờ lớp da phủ rất mõng bên ngoài, được vận đông nhờ cơ vòng quanh miệng, nhất là nhờ hệ thống mao mạch li ti và vô số các thụ thể thần kinh cảm giác, nên lúc nào môi cũng có màu hồng, và môi cũng dễ xúc động, rồi run giật nhè nhẹ trong nụ hôn đầu đời. Môi giật mình, miệng la lên  khi môi bị cắn đau, cũng như có lúc miệng im lặng còn môi thì ngây ngất, mê say, chẳng kể đất trời, khi môi người yêu của  Hồng Vũ Lan Nhi cho tác giả cảm giác cay cay trong “ nụ hôn trinh nguyên ”:
Mặt em lấp lánh sao rơi
Môi em như đóa mộng đời ngất ngây
Hằn trên môi vị cay cay
Hồn anh thơ thẩn đắm say một đời
Còn Trần Dạ Từ thì bộc lộ cảm nghĩ mênh mông như đất trời, tươi thắm như vạn đóa hồng trong “ nụ hôn đầu tiên ”:
Trên môi ta vạn đóa hồng
Hôn em trời đất một lòng chứa chan
Tiếng cười đâu đó dòn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời
Người đời thường có lời khen: “người này có môi miếng”, hay “mồm miệng đỡ chân tay” là để chỉ sự khéo léo trong lời nói. Họ cũng chê cười: “mồm loa mép giải, ăn hại chồng con” hoặc “mõng môi hay hớt, dày môi hay hờn”. Khi phân vân khó xử, người ta hay nhíu hai cặp lông mày, nhăn trán và thường cắn nhẹ môi suy nghĩ.
Theo tướng học, miệng bao gồm môi, đi với răng . lưỡi . Hai môi đều đặn, hồng hào, khép kín vừa phải là “anh đào khẩu” ở người kín đáo, dễ cảm tình. Nếu hai mép miệng úp xuống là người điêu ngoa, cuộc đời sẽ vất vả. Môi có nhiều nếp nhăn tụm lại hay màu thâm tím là người hung dữ, mà nếu kèm thêm hai hàm răng thưa nhỏ thì tướng này cực khổ, “kí cóp cho cọp nó xơi”. Miệng chúm lại là “miệng thổi lữa” có cuộc sống thanh đạm, đôi khi chết yểu. Miệng có môi trên nhỏ hơi lợp môi dưới  như “miệng dê” là người có tính nhẫn nại, chịu đựng nhục nhã để làm việc lớn. Miệng rộng chữ tứ là “thực lộc thiên chung”: miệng của người được hưởng nhiều phúc đức như miệng rộng quá khổ của Julia Robert, mặc dù ca dao VN có câu: “đàn ông miệng rộng thì sang – Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà”. Hai môi đều đặn , dày vừa phải là người có hậu vận tốt, càng về già càng sung sướng. Các bạn đừng tin, mất công lấy gương ra soi mặt mình, so sánh với những lời đóan của thầy tướng số kể trên vì nó chỉ chính xác có 30% , chỉ ảnh hưởng sau 50 tuổi?! và  còn có “đức năng thắng số” nữa kìa. Nếu môi không làm tròn nhiệm vụ che chở cho hai hàm răng, thì người đời thường nói nôm na là “ môi hở răng lạnh ”. Môi, răng, lưỡi gần gủi và kề cận với nhau như “ núi liền núi, sông liền sông ”, mà không biết bao lần, từ xưa đến nay khi “ núi lở, ngăn sông ” và khi răng cắn vào môi, vào lưỡi một cách ê chề.
Theo lịnh của não, môi còn biết chu lại và thổi hơi gió thành nhiều âm điệu của bài ca. Có lẽ tôi biết huýt gió từ năm lên 6 tuổi, và thổi ra tiếng nhạc. Điều này làm tôi sung sướng và tôi cảm ơn đôi môi đã giúp tôi “đuổi ma” trên cái con hẻm vắng “dài hun hút” lúc thiếu thời. Ngày ấy nếu không có môi thổi ra hơi gió bài ca “ khỏe vì nước ” thì chắc tôi đã không có cái can đảm đi trên con hẻm vắng này, vào những buổi tối trời. Nhịp điệu bài ca hùng tráng, đã làm tôi tập trung, lấy hết can đảm, “chạy một lèo” vô nhà. Sau này mỗi khi đắc ý một chuyện gì, tôi cũng thường huýt gió để tự thưởng cho mình.
2/ Răng: ở người trưởng thành 32 cái răng đều đặn, đối xứng hai bên, chia đều cho hai hàm, mỗi loại răng có chức năng riêng, có nhiệm vụ cùng với cơ miệng, cơ mặt, và lưỡi cùng với nước bọt  để cắn, xé, nhai, hòa trộn thức ăn rồi cuối cùng thức ăn xuống thực quản. Tùy tình hình thể chất, răng sửa có 20 cái, bắt đầu nhú đầu tiên từ lúc trẻ 6 tháng tuổi đến 30 tháng, thường làm cho nhiều trẻ sốt nhẹ vì phản ứng của cơ thể, đứa trẻ khó chịu. Răng sửa theo ta một giai đoạn ngắn của cuộc đời, sau thời gian này sẽ lung lay, rụng và thay vào đó là loại vĩnh viễn. Răng vĩnh viễn có tất cả 32 cái. mọc từ 6 tuổi đến 25 tuổi Người xưa có nói: ” cái răng cái tóc là gốc con người ”, nó cho biết tình trạnh sưc khỏe của người đó. Khoa học hình sự thường phân chất độc tố trong tóc, răng của người chết để tìm nguyên nhân trong những vụ án… Miệng con người chỉ có mấy chục cái răng nhưng do răng cần thiết để nhai thức ăn và để làm đẹp, nên các nha sĩ đã kiếm khá nhiều tiền khi giải phẫu và trồng răng sứ, làm hàm răng giả và cấy răng vĩnh viễn theo phương pháp hiện đại. Răng còn có răng khôn [ dent de la sagesse] thường mọc sau 30 tuổi. Gọi là ” răng khôn ” cho xôm, chứ khi răng khôn mọc ra, con người đâu có khôn gì thêm đâu!
Màu sắc của răng cũng biểu lộ tình trạng sức khỏe của răng. Ngày xưa vệ sinh răng miệng ít quan tâm, nên tỷ lệ bệnh răng miệng, sâu răng khá cao. Nhiều người tuy chưa lớn tuổi, nhưng vì hàm răng đã rụng nhiều răng nên trông thấy móm mém và già trước tuổi. Ngày nay răng miệng được mọi người lưu ý, bằng cách dùng kem tẩy trắng răng, đánh thường ngày hay cấp thời dán một loại băng keo dán ngay trên răng khi đi họp mặt ở chỗ đông người, để răng sáng, bóng, đẹp. Nhìn răng của những người nghiện nặng thuốc lá, chất Nicotine làm cho răng màu vàng trông xấu xí, hay răng của trẻ em sử dụng Tétracycline nhiều khi điều trị bệnh, khiến răng có màu vàng, xấu. Người ta thường nói đùa,chọc nhau là “răng đen mã tấu”. Quan niệm màu răng tùy thuộc vào thói quen, thẩm mỹ của từng người, từng dân tộc. Nhớ lại ngày xưa phụ nữ VN, và vùng Đông Á đều thích nhuộm răng đen cho chắc và cho là đep. Còn nay thì tập tuc này khó tìm thấy, kể cả ở các vùng thượng du Bắc Việt. Răng khi nói, cười lộ lợi [nướu răng] thì thầy tướng số lại bảo là chất phác, nhưng lại gian ác khi “ cờ đến tay thì phất mạnh ” như hàm răng của Việt Vương Câu Tiển theo sự ghi nhận của của cổ sử. Răng to và nhiều thì là được cho là quý tướng.
Sự chắc chắn của răng tùy thuộc vào các yếu tố di truyền, sức khỏe cơ thể và vệ sinh răng miệng tốt, nếu không răng sẽ bị sâu, đau nhức, bắt buộc ta phải đi nhổ răng hay trám răng. Răng mọc đều đặn và chắc chắn thì mới tốt. Nếu mọc lệch hay chèn ép các răng lân cận và làm hư xương hàm thì phải đi giải phẫu. Chỉ có mỗi trường hợp, một cái răng nanh mọc dài hơn chút và lệch ra ngòai hàm thì được người đời thương, đặt cho cái tên là “ răng khểnh ” vì nó duyên dáng, cũng làm điêu đứng nhiều chàng trai và cô gái . Dĩ nhiên răng khểnh phải vừa đủ dài, lệch vừa đủ tầm thì khi ở trên khuôn mặt của người mình thương, răng khểnh mới duyên dáng và đẹp; chứ nếu ở trên mặt của người mình ghét thì lại nói là đó là răng ác quỷ Dracula. Đúng là miệng lưỡi con người:Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo “.
3/ Lưỡi: cũng quan trọng vô cùng vì không có lưỡi thì con người không thể nhai thức ăn, không thể nói ra tiếng rõ ràng, mặc dù cũng có người có lưỡi nhưng lại ú ớ vì do các nguyên nhân khác. Lưỡi tham gia vào việc nhào nhuyễn thức ăn, cùng với các tuyến nước bọt, đưa thức ăn qua hàm bên này, bên kia và cũng nhờ các thụ thể và dây thần kinh cảm giác nên lưỡi phân biệt được các vị cay, chua, ngọt, đắng và mặn. Lưỡi có các vận động nhuần nhuyễn nhờ những bó sợi cơ chằng chịt đối xứng hai bên, nhiều hướng khác nhau nên lưỡi heo mà làm pha lấu thì rất ngon, giống như ăn da con nhím [cũng có nhiều cơ mạnh dưới da, làm bắn lông nhọn như gai khi tự vệ trước kẻ thù].
Câu chuyên ngụ ngôn về cái lưỡi của người hầu Esope khi nói với ông chủ: cái lưỡi là cái ngon nhất mà cũng là món ăn dở nhất. Ý trước đúng về nghĩa đen và nghĩa bóng, ý sau lại cũng đúng về nghĩa bóng khi cái lưỡi tương trưng cho lời nói. Do biết khen ngợi, nịnh hót, khôn ngoan đối đáp nên lưỡi đem đến vinh quang giàu sang cho người chủ; mà cũng vì nó, vì những lời diềm pha mà gây chia rẽ, làm chủ nhân của nó phải đau đớn, khổ nhục. Ca dao có câu:
“ Lưỡi không xương trăm đường lắt léo
Miệng không vành méo mó lung tung
Hay là:
Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau ”
Người con gái khi được cha mẹ dạy dổ từng lới ăn tiếng nói , kẻo khi về nhà chồng, cha mẹ sợ bị xui gia cười chê; nên đã dạy con gái “ học ăn, học nói, học gói, học thấy ”, “ăn coi nồi, ngồi coi hướng ”. Dân gian chúng ta có bài hát mười thương rất là ý nhị:
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhuộm hạt huyền kém thua “…
Cha mẹ khi dạy dỗ con cái mà chẳng có kết quả thường chê trách:Người đâu mà nói như nước đổ lá môn ”. Nhiều người tuy đã lớn nhưng lại thiếu suy nghỉ, ăn nói hời hợt như đứa con nít mới học nói, thường bị chê lànói như con vẹt ”.
Nhiều điều sai sự thật, nhưng được lập đi lập lại nhiều lần, riết rồi người khác nghe lại nhập tâm, dễ tin là thật. Đó là một trong những phương pháp tuyên truyền mà các lãnh tụ Đức quốc xã sử dụng trong tuyên truyền: “ nói láo, nói mãi rồi cũng thành sự thật ”.
Chúng ta chắc không ai quên câu chuyện mẹ của thầy Tăng Sâm [thời Xuân Thu bên Trung Hoa], bà mẹ rất tin tưởng con là người hiền lành nhưng nghe tiếng đồn đến ba lần “Tăng Sâm giết người- Tăng Sâm giết người- Tắng Sâm giết người”, cuối cùng niềm tin trong bà bị lung lay và tin là con mình giết người!.
Khi đề cập đến lời nói, người ta thường nghĩ ngay tới vai trò của lưỡi; dù rằng lời nói có những âm thanh tiết tấu nhịp nhàng , do nhiều yếu tố hình thành như hai dây thanh âm, cách lấy hơi trong hai buồng phổi, lưỡi… nhưng rõ ràng là khi cắt lưỡi [hình phạt của chế độ phong kiến tàn bạo ngày xưa], thì ta thấy miệng “ú ớ” không phát âm ra lời rõ ràng. Có những trẻ em bị dây chằng niêm mạc [dây thắng] dưới lưỡi tồn tại, nếu không phát hiện để cắt bỏ dây chằng thì cha mẹ cứ tưởng con mình bị câm nhẹ bẩm sinh. Tiếng nói muốn rõ ràng, thanh, ấm thì lưỡi phải được vận đông tốt, được tư do vận đông theo các chiều hướng quy định và miệng cũng không được bịt lại, môi miệng được tự do thì hơi mới phát âm rõ ràng, lời nói mới chính xác. Lúc ăn cũng thế, nên ăn nhẹ nhàng từ tốn. Bất cứ ai trong đời cũng có hơn một lần khi đang ăn nhanh mà lại nói thì răng cắn vào lưỡi đau điếng.
Lời nói là phương tiện giao tiếp của con người mà loài vật khác không có. Lời ăn, tiếng nói rất quan trọn , có thể gây cảm tình hay làm mất cảm tình. Do đó phải thận trọng, “ khi nói phải uốn lưỡi 7 lần ” nhằm nhắc nhở chúng ta suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi nói; chứ làm sao mà uốn lưỡi cho đủ 7 lần rồi mới nói thì sẽ mất sự mạch lạc của câu chuyện do phải chờ đợi lâu. Lời nói nặng nề, chê bai, đố kỵ gây chia rẽ, khi đã phát ra rồi thì không thể lấy lại được. Tình cảm đã sứt mẻ không thể hàn gắn, dù sau đó người nói có xin lỗi, ăn năn thì cũng đã muộn màng. Bên cạnh cái miệng biết ăn nói có duyên, “ có dây có nhợ ”, tiếng nói ngọt như đường phèn, dẽo như kẹo kéo; thì cũng có những cái miệng ăn nói vô duyên nên “ bị vạ miệng ”, miệng nói những lời cộc cằn, “ sẳn giọng ” làm mất tình cảm. Tiếng nói như búa tạ, nổ như bắp rang làm mất tình nghĩa cha con, thầy trò và bè bạn…Nước đã đổ xuống đất rồi, không thể hốt lại được. Cho nên đừng ham nói nhiều, nói dai…vì sẽ sẽ là nói dại và lộ cái dốt của mình. Khi nói lời rõ ràng, hơi thở từ miệng phát ra cho thấy chân giá trị của người đó nên người ta gọi là “ khẩu khí ”. Nhà thơ Tiểu Minh Ngọc có làm bài thơ nói về miệng, lưỡi thật rõ ràng:
Lưỡi là bộ phận trong người
Để ta ca hát nói cười thỏa vui
Lưỡi theo thân thể tới lui
Làm phường giao tiếp nếm mùi tình thâm
Lưỡi không quản ngại khó khăn
Giúp người hàn gắn tình thân trong đời!
Lưỡi đôi khi cũng hại người
Gây nên những nổi chê cười bất an
Bạn bè chê trách không màng…
T.M.N [2006]
Ai mà không thích, không ham khi được nghe những lời nói ngọt ngào, êm dịu, nhưng hãy đề phòng đôi khi có những lời nói giả dối, trong bụng nghĩ khác, ngoài miệng nói khác, “ khẩu Phật, tâm xà ”. Lời nói không đi đôi với việc làm, phù hợp với ý tưởng trong đầu của mình như lời nói của Hoạn Thư đối với nàng Kiều, mà cụ Nguyễn Du đã tả:
Bên ngoài phơn phớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao
Cũng có những người mà “ lời nói như đinh đóng cột ”, như “ chém đinh chặt sắt ”mà người nói ra luôn luôn giữ vững, thực hiện cho bằng được, không sai suyển dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là lời nói của những hiền nhân, quân tử, ngược lại với kẻ tiểu nhân chỉ nói những lời hứa hẹn cuội, giả dối “ đầu môi chót lưỡi ”, nhẹ nhàng theo gió bay đi !! Có những người có tài ăn nói, khuyến dụ người khác, nên người gọi là “ miệng lưỡi Tô Tần ”, thảo ra kế hoạch giúp vua , giúp nước khác với những phường a dua, xu nịnh hại người.  Lời nói bổng trầm, “ nói to như sấm ”, rõ ràng từng câu từng chữ là tiếng nói của những người chỉ huy, có tài hùng biện, ăn trên ngồi trước thiên hạ. Còn nhưng người ăn nói lí nhí phản ánh tâm trạng yếu đuối, tự ti mặc cảm, sẽ có một đời sống khiêm tốn, không sang giàu phú quý. Giọng nói phải ôn tồn, nhẹ nhàng. Kẻ trí có giọng nói mạch lạc. Người đa nghi có giọng nói lắp bắp, là người bất định. Người đa nghi thì nói lòng vòng. Người có hệ hô hấp yếu nói giọng thều thào, không có sức, đứt quảng. Nói một lèo không nghỉ, nói liên tục là nói “tía lia”. Ngừơi hay “tám” chuyện gì cũng biết cũng bàn, hay “ngồi lê đôi mách”. Giọng có âm điệu ngập ngừng không thể là người dứt khoát trong hành động, còn đắn đo suy nghỉ, mặc dù có khi người đó có tính thận trọng. sợ làm phật ý người đối thọai khi nói sai, làm mất lòng.
Miệng thế gian hay “ miệng đời ” là miệng của nhiều người qua nhiều thế hệ, đã dựng nên một cái bia mà người đời gọi là “bia miệng” không thể xóa dễ dàng như bia đá trên mộ. Cho nên nếu chúng ta làm việc gì mà người đời cười chê, phê phán thì bia miệng đời khắc tội lỗi xấu ấy, khiến con cháu ngàn đời sau tủi nhục:
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Người đời thường hay chạy tội, đổ thừa cho cái miệng, cái lưỡi là cội nguồn của những lời nói sai quấy, hung dữ chứ thật ra chính cái đầu, cái ý tưởng dã dẫn dắt, ra lịnh cho lưỡi phải nói những lời như thế.
Dân gian có kể một chuyện vui là ở xứ nọ , có một anh chàng hay nói bậy nhưng lại thích đổ thừa, trốn trách nhiệm. Khi anh ta đi trong nhà, bất cẩn chân va chạm vào cây cột nhà đau điếng, anh tức giận lấy cây rựa bầm cái cột nhà mấy nhát và thốt lên: “ Tại mày, tại mày cản đường tao ”. Một ngày nọ anh nói năng lỗ mảng, chạm tự ái người vợ nên chị ta bỏ về nhà mẹ. Anh qua xin lỗi vợ, hứa hẹn nọ kia và để vợ cảm động tin lời , anh tát vào miệng mình mấy cái và nói :”Tại mày, tại mày nên tao nói bậy”. Thế mà bà vợ cũng cảm động tin là cái miệng có tội, trong khi cái có tội nằm ở trong đầu của anh chồng mình. Đó là bộ não, chứa đầy ý hồ đồ, cộc cằn. Biết được khuyết điểm này nên đàn ông chúng ta nên nói lời dịu dàng, “ngọt mật chết mấy bà”. Cái miệng và cái lưỡi chỉ là công cụ của não để thể hiện hành động , lới nói., nên thật tôi nghiệp khi miệng phải “đứng mũi chịu sào” nhận mọi trách nhiệm. Biết thế, mà người ta vẫn kết tội “ cái công cụ, cái tay sai ” vì bộ phận chỉ huy là não, họ không lấy ra được để trị tội.
MIỆNG & CÁI ĂN , CÁI CƯỜI

Như vậy , nhìn vào những thành phần tham gia, như môi, răng, lưỡi giúp đỡ hoạt động phối hợp nhịp nhàng, có sự chỉ huy của não trên các hệ cơ, mạch máu, thần kinh nên miệng đã làm tròn vai trò tiếp nhận thưc phẩm để nhai, để nuốt, để nói, và hát la, cười đùa…và cũng để hôn nữa.

Riêng về “ cái ăn ” thì hoạt động của các hàm, của răng, các cơ nhai của mặt, cơ lưỡi, các tuyến nước bọt phải đảm bảo tốt. Trong việc ăn có động tác cắn thức ăn là dùng các răng cửa để cắn, răng nanh để xé, răng hàm để nhai. Nhắc đến đây chúng ta không quên cái cắn nổiMike Tyson cắn đứt một mẩu tai của Evander Holyfield vào năm 1997.

tiếng của Mike Tyson vào lỗ tai của địch thủ, mà giới truyền thông gọi là món võ ” cẩu xực ”. Chúng ta phải nhai chậm rãi, từ tốn, nhai đều đặn hai hàm răng, không việc gì mà phải gấp gáp, nhai “ ngồm ngoàm ” như Trư Bát Giới, hoăc yếu ớt như loài gặm nhắm, từng chút một. Dân gian thường có câu “ nam thực như hổ, nữ thực như miêu” cũng đúng ở đa số người. Cái ăn đã tham gia suốt cuộc đời của một người. Đối với tình tự và ngôn ngữ dân tộc Việt, nhiều nhà nghiên cứu nói đùa rằng: do dân ta là dân tộc nghèo, đa số là nông dân nên cái ăn, cái mặc, cái đi…lúc nào cũng ám ảnh dân mình, do đó ngôn ngữ Việt có những từ ghép rất độc đáo mà dân Mỹ , dân Pháp không có. Đó là những từ: ăn nói, ăn làm, ăn chơi, ăn gian, ăn cướp, ăn trộm… và đi làm, đi chơi, đi ngủ, đi học, đi xe, đi khách…

Cái ăn tuy cần thiết nhận thực phẩm nuôi sống con người, nhưng đừng ham ăn quá mà sinh ra “bội thực”. Chỉ ăn đủ để sống, và ăn những thứ hữu ích. Hiện nay có nhiều thức phẩm độc hại, nhiễm hóa chất, vi trùng… nên cái ăn này dễ đem đến bệnh tật. Y lý Đông phương có lý khi cho rằng đa số các bệnh tật của con người đều thông qua đường miệng. Khi ăn chúng ta nên ăn chậm, nhai kỷ và cần im lặng để tận hưỡng được hết các cảm thọ, sung sướng mà cái ăn đem lại. Cái ăn là một trong những tứ khoái của người đời, nên giây phút ăn cũng cần được lưu ý.
Nếu nói về miệng mà ta quên nhắc tới cái cười thì quả là một thiếu sót lớn, vì các loài vật khác, nhất là lòai gần gủi với con người như dã nhân cũng chỉ có nhăn nhó, chứ làm gì có được cái cười duyên dáng, cười nửa miệng, cười hàm tiếu, cười khinh bỉ, cưới hô hố, cười dê…cười nắc nẻ. cười híc híc. Nói chung chắc tới 36 kiểu cười, tùy theo hoàn cảnh và tính nết của người cười. Cái cười bí ẩn của người phụ nữ trong tranh La Jaconde của Léonard de Vinci là một nụ cười hàm tiếu, quá nhẹ nhàng, bí ẩn; kéo theo cả nét cười của đôi mắt làm mọi người thắc mắc về nhân thân và hoàn cảnh có nụ cười ấy.  Cười như méo xệch là tiếng cười của người đau khổ, nên “bên ngoài cười nụ, bên trong khóc thầm”. Cười không mở nổi miệng là cái cười của người hà tiện. Đặc biệt nụ cười mà có kèm theo “má lúm đồng tiền” là cái cười quá dễ thương, không phải ai cũng có. Cho nên các bà lại phải tốn tiền cho các Bác sĩ thẩm mỹ , nhờ “ khoét hai cái lỗ ” hai bên má để khách hàng có khi cười. Cái cười của con người cũng phải có những nét đẹp trong cách cư xử, như ta cười cho đúng lúc, hợp hoàn cảnh. Không lẽ lúc nhà người ta có chuyện buồn mà ta lại cười sằng sặc hay nhà người có chuyên vui mà ta lại khóc “hu hu’ thì mất hết ý nghĩa của cái cười. “Người An Nam ”xưa của ta vui vẻ, có cái tật hay cười, nên cụ Nguyễn văn Vĩnh,một nhà văn lão thành của thời Pháp thuộc đã trào phúng phê bình cái cười xưa của người An Nam. Cụ đã viết:” An Nam ta có cái tật hay cười. “vui cũng cười, buồn cũng cười”… Nay thì người Việt Nam mới của mình lại ít cười, nhất là ở các cơ quan, tìm được một nụ cười thật khó.
MIỆNG QUA LĂNG KÍNH CỦA PHẬT GIÁO

Do những hành động như ăn uống, lời nói mà con người phải chịu những hậu quả ,mà nhà Phật gọi đó là “khẩu nghiệp ”, nhưng khi đề cập đến căn, trần,  thức thì Phật pháp gọi đó là “ thiệt căn, thiệt trần, thiệt thức ”. Do lòng tham ái, đắm mê món ngon, vật lạ nên con người sát sinh các động vật để nuôi dưỡng mình, phá hoại môi trường. Từ xa xưa, Phật giáo đã đề cao việc ăn chay, cấm sát sinh là đã kêu gọi góp phần bảo vệ môi trường xanh đẹp của quả đất, tránh những thảm họa cho con người. Những nghiên cứu đo lường chất khí phát ra từ dạ dày của những loài vật ăn cỏ cho thấy khí này rất lớn. Chính khí méthane này là một trong những nguyên nhân phá hoại tầng ozone của quả địa cầu. Phật giáo cũng đặc biệt quan niệm con người không phải sống, phát triển được, chỉ nhờ thực phẩm qua đường miệng mà còn phải nhờ các cảm thọ và ý thức. Cuộc sống con người không chỉ có ăn có mặc mà còn có tình cảm, có tư duy nên con người phải biết trân trọng những nguồn thức ăn như: thực phẩm, tình cảm tốt, tư duy chính đáng…
Cái miệng , cái lưỡi tuy có lợi nhưng cũng là một nghiệp chướng trên con đường tu học, ta nên nói những lời nói nhẹ nhàng, hữu ích cho đồng loại : “khẩu hòa vô tranh”, lựa lời mà nói để giúp người thấy cái sai mà sửa chửa. Nhưng trên hết là “ý hòa đồng duyệt”và chỉ có cái Ý mới là nguồn gốc gây nên các nghiệp chướng khá, khi các căn tiếp xúc với các trần.
Kinh Pháp Cú có nói:
Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ ý tạo
Nếu với ý ô nhiễm
Nói năng hay hành động
Khổ nãi bước theo sau
Như xe, chân vật kéo

Phật giáo khuyên tín đồ nên thận trọng trong lời nói, hạn chế những lời nói xấu, “ lời vọng ngữ ” gây đau khổ cho mình và cho người. Chỉ nói khi cần thiết, cho miệng bớt tạo nghiệp chướng. Ngay cả các nhà sư đều thường phải nhập thất, “ tịnh khẩu ” để tu dưỡng.
Thiền Sư Tăng Xán [Tổ thứ ba của dòng Thiền Trung Hoa, đời nhà Tùy] đã nhấn mạnh trong bài kệ Tín Tâm Minh:
Đa ngôn đa lự, chuyễn bất tương ưng
Tuyệt ngôn tuyệt lự, vô xứ bất thông.
[ Nói nhiều lo nhiều, loanh quanh mãi chẳng xong
Đừng có nói, đừng có lo nghĩ; chỗ nào cũng thông suốt ]
THAY LỜI KẾT
Con người chỉ với 6 căn, trong đó hai cơ quan mắt và miệng được đề cập đến nhiều nhất trong đời sống dân gian, trong thi ca, trong khoa học và kể cả trong kinh điển Phật giáo. Cơ thể con người có 9 cái lỗ, mà cái nào cũng quan trọng theo từng hoàn cảnh, từng thời điểm, và phải biết nương nhau, giúp nhau để sống, để tồn tại cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời này. Lỗ miệng là cơ quan phức tạp, gồm nhiều thành phần cấu thành, để đảm bảo hai chức năng chính là ăn và nói, nên chính tôi đành phải “nói nhiều”, phải phiếm luận quá dài về cái miệng, dù vẫn biết rằng nói dài, nói dai, nói dại và rồi thành ra nói dở, nói dốt. Các thành phần của miệng đều cần thiết như nhau, hổ trợ cho nhau để cho miệng làm tròn chức năng vốn có. Miệng là người “đứng mũi chịu sào”, cam chịu nhiều tai tiếng và lời chê, trong khi cơ quan “não” ở trên cao, núp trong hộp sọ chỉ huy đã sai sử mọi chuyện. Tôi thương cái miệng là vì vậy.
Vì Phật giáo bất ly thế gian, chúng ta nên nghe lời khuyên của Vua Trần Nhân Tôn, Tổ sư Thiền phái Trúc Lâm VN là: “cư trần lạc đạo”, nghĩa là có thể sống ở thế gian này mà vẫn tìm thấy lạc thú tốt đẹp, khi thực hành những phương pháp tu học, ngăn ngừa và tẩy trừ chướng duyên, mà khẩu nghiệp là một chướng duyên rất lớn.
.
Vy Kính

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Blog Chuyên Anh

Nurturing Language Talents

Khải Đơn

Thời gian trên đường

WordPress.com News

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d người thích bài này: