• Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tag

  • Join 902 other followers

  • Bài viết mới

  • Blog – theo dõi

  • Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

    Join 902 other followers

Chuyện Tình của Hải Thượng Lãn Ông

Một người thầy thuốc tài ba đức độ như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, ông tổ của ngành y Việt Nam, tác giả bộ Y Tông Tâm Lĩnh 66 cuốn, người suốt đời tận tụy chữa bệnh cho mọi người nhưng chỉ mong sao không còn ai bệnh tật để mình được làm một “ông lười” (Lãn Ông) chẳng thú vị sao?

Nhưng thú vị hơn là chuyện tình đầu của ông, được ghi lại khá chi tiết trong Thượng kinh ký sự (*), tập ký viết năm 1783, trên 200 năm về trước:

“Một ngày kia, có hai lão ni đến chỗ tôi ngụ, nói rằng: chùa Huê Cầu đúc chuông lớn, công quả chưa thành, chúng tôi đến đây khuyến hóa”. Thế rồi một lão ni tự giới thiệu mình là trụ trì chùa núi An Tử, còn lão ni kia thì giới thiệu mình là con gái quan tả thừa ty Sơn Nam, quê ở Huê Cầu. “Tôi nghe nói giật mình như tỉnh giấc mơ”, Lãn Ông viết. Sau đó ông tìm cách “hỏi nhỏ một tiểu ni cô trong bọn tòng hành mới hay đây chính là người cũ của mình”. Rõ ràng một lão ni tìm đến một quan nhân (lúc này Lãn Ông đang làm quan thầy thuốc trong triều) để “khuyến hóa” mà lại xưng rõ cái “lý lịch cá nhân” của mình ra như thế hẳn phải có lý do gì đó. Và đúng vậy, chỉ mới nghe qua địa danh Sơn Nam, Huê Cầu thôi đã đủ làm cho Lãn Ông choáng váng… Chuyện đúc chuông, khuyến hóa chẳng qua chỉ là một cái cớ để bà có dịp gặp lại ông.

Tưởng tượng coi, lão ni – người tình cũ của Lãn Ông – đã phải trần tình, năn nỉ, thuyết phục sư bà trụ trì ra sao để sư bà động lòng tạo cơ hội cho hai người gặp lại nhau, chịu cùng xuống núi một phen? Tuy biết khá rõ rồi, nhưng vốn thận trọng, Lãn Ông mới “trắc nghiệm” lại lần nữa, vì biết đâu chỉ là tình cờ trùng hợp, ông bèn kể rõ họ tên quê quán… “Lúc đó chỉ thấy ni cô chùa Huê Cầu mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng, bảo sư bà trụ trì rằng: Thôi, chúng ta đi đi thôi”. Một lão ni nghiêm trang cẩn mật, tuổi tác già nua mà “mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng” rồi còn hối thúc sư bà mau “đi đi thôi” trong một tâm trạng như là dỗi hờn thì thật đáng kinh ngạc. Lãn Ông lúng túng, tìm cách “lưu họ lại không được mới mang ra một ít hương tiền để cúng” rồi hỏi: “Hai lão ni trọ tại nơi nào?”. Họ đáp: “Chưa có nơi nào”, rồi vội vàng từ biệt ra đi. Lãn Ông đâu dễ chịu ngồi yên, ông “vội gọi một tên người nhà linh lợi bảo đi theo sau họ, mà không cho họ biết…”.

Lãn Ông nhớ lại mối tình xưa. Lỗi tại ông. Ông đã nộp đủ lễ Vấn danh, lễ Nạp thái, vậy mà rồi vì một lý do riêng, ông hồi cư về Hương Sơn quê mẹ và xa luôn người vợ sắp cưới của mình để bà phải mỏi mòn trông đợi đến hôm nay mới bất ngờ gặp lại.

Rồi người thiếu phụ đó ra sao? Lãn Ông có dọ hỏi thì biết bà “thề chung thân ở vậy”. Nhiều người hỏi cưới, bà cương quyết từ chối. Sau cùng, bà vào chùa tu. Lãn Ông viết tiếp: “Tôi nghe biết vậy thì tâm thần kinh loạn, than rằng: vì ta bất cẩn trong việc này. Có thủy mà không có chung, khiến cho người mang hận, mà ta mang tiếng là người bạc bẽo. Ta bối rối không biết cách nào để gỡ cái mối ra, mới vội vàng đến Huê Cầu mà tìm hiểu sự việc”. Quả thật, bà đã từ hôn nhiều người chỉ vì lòng bà chỉ có Lãn Ông thôi. Bà thà đi tu chớ không lấy ai khác nữa!

Bà nói: “Đã có người hỏi mình làm vợ thì mình (coi như) đã có chồng rồi, chẳng qua vô phận mà chồng bỏ…”. Trách chi Lãn Ông không tan nát cõi lòng, “tâm thần kinh loạn”. Để chuộc lỗi mình, ông xin bà cho ông được coi bà như “cô em gái nhỏ”, bảo dưỡng bà suốt đời từ đây. Vì bà đã đi tu nên ông đề nghị cất cho bà một cái chùa nhỏ, trong một cảnh vườn vắng vẻ yên tĩnh: “Mùa đông cũng như mùa hè, lạnh ấm đều sẽ do ta lo liệu, một là để báo ân, hai là để chuộc lỗi…”. Bà cố cầm giọt lệ: “Quan nhân có hậu tình, còn tôi chẳng gặp chồng, cái thân cô khổ cũng là do số mệnh vậy, đâu có dám trách ai… Nay tôi được biết tấm lòng tốt này cũng an ủi cảnh linh lạc vậy”.

Và bà từ chối. Và Lãn Ông làm thơ.

Phải, bởi vì đâu có thứ thuốc nào sắc ba chén còn bảy phân mà chữa được cái bệnh của ông bây giờ! Ông viết: Tôi lấy làm thương tình, mới giãi lòng trong một bài thơ như sau:

“Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa

Kim nhật tương khan khổ tự ta

Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ

Song mâu xuân tận kiến hình hoa

Thử sinh nguyện tác can huynh muội

Tái thế ưng đồ tốn thất gia/Ngã bất phụ nhân nhân phụ ngã

Túng nhiên như thứ nại chi hà?”

Dịch:

“Vô tâm nên nỗi lụy người ta

Trông mặt nhau đây luống xót xa

Gượng cười khôn giấu đôi hàng lệ

Tóc bạc che mờ nửa mặt hoa

Kiếp này hãy kết làm huynh muội

Kiếp khác xin hoàn nghĩa thất gia

Ai nỡ phụ ai, ai nỡ phụ

Dở dang, dang dở biết ru mà?”

(Ngô Tất Tố dịch)

Cảm động vì bài thơ “giãi lòng” đó mà bà đã tha thứ cho ông. Lãn Ông viết: “Từ đó thời thường qua lại hỏi thăm nhau”.

Tuổi hạc ngày càng cao, bà chỉ xin ông mua gỗ ở Nghệ An đóng cho bà một cỗ quan tài. Vâng, phải đúng gỗ ở Nghệ An bà mới chịu, vì đây là vùng Hương Sơn quê mẹ Lãn Ông. Có lẽ bà nghĩ lúc sống đã không được nên duyên chồng vợ thì lúc chết ít ra cũng được nằm trong một cỗ quan tài do ông đóng riêng cho bà từ thứ gỗ của quê hương ông vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

(*) Thượng kinh ký sự, Hải Thượng Lãn Ông.

(NXB Văn học, 1993. Bản dịch của Ứng Nhạc Vũ Văn Đình).

Túy-Phượng sưu tầm




Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Khải Đơn

Thời gian trên đường

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.

Blogs Of The Day

Just another WordPress.com weblog

Thiền Tịnh Tâm

Tâm tịnh đời vui

%d bloggers like this: